Hương xưa
Trần Hồ Dũng
" Tặng Đ.T.Q.Dũng , Phi N. Toàn ,P.N. Bảo"
Em về bến ấy cho tròn mộng
Ta ở nơi này ,dở cuộc say
Ngày mai , ai biết ra sao nhỉ ?
Thôi cứ một đời như cỏ cây
Em đi về phía chân trời lạ
Mây có còn xanh như chốn xưa ?
Ta lìa phố chợ về thăm núi
Ngày ngắm mây trời ,đêm thắp sao
Học đời sông cứ trôi vô lượng
Học suối vô tâm chẳng biết buồn
Học núi ngàn đời không đổi khác
Học rừng muôn thuở tính bao dung
Em qua mấy bến bờ xa lạ
Có để buồn vương nơi bến sông
Chim bay để bóng rơi sông lạnh(*)
Gió thổi- sương rơi - bóng nhạt nhòa
Chim ơi ,thôi cứ bay xa nhé !
Đừng nhớ chốn này chim đã qua
Còn ta ngồi ngắm mây ngang núi
Chợt nhớ một mùi hương đã xa !
--------------------------------
(*) Ý trong bài NHẠN ẢNH - Thiền sư Hương Hải (TK XIII )
" nhạn quá trường không
ảnh trầm hàn thủy
nhạn vô di tích chi ý
thủy vô lưu ảnh chi tâm "
( bản dịch của Trần Hồ Dũng ) :
Cánh chim mỏng vút qua trời sương khói
Bóng vô tình soi mặt nước chơ vơ
Chim : nào mong lưu dấu bên sông lạnh
Nước : chẳng buồn giữ lấy bóng mà chi
Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010
THƠ - HƯƠNG XƯA
Thứ Hai, 3 tháng 5, 2010
Tôi là ai
Tôi là ai
Trần Mộng Tú
“Tôi là ai mà yêu quá đời này” – TCS
Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn. Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên là Tôi ở Seattle hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời Tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi Bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói Tôi là người Việt Nam. Để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.
Đúng, tôi ở Mỹ trên, dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi. Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm. Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước là da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếâng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói Tiếng Anh bể (Broken English) Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc. Nhưng khi bước vào nhà tôi; Từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người Seattle hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.
Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nộâi ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; Người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: Chị đâu có phải là người Việt nữa. Bây giờ Chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị hay cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu. Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi nghĩ lại. Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao? Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; Hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ. Tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình. Chẳng có một lí do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng, Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình; ở Trần quý Cáp, nhà anh; ở trước rạp ciné Eden đúng trú mưa với nhau. Nước ở hồ Sammamish trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.
Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc,tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộân nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “Ấn Tượng.” Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ.
So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn, Ở trong nước có bài hát nổi tiếng Quê hương mỗi người có một, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưngcó người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen. Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.
Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với Mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công Giáo. Găïp tôi cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và may quá, cụ bị Alzheimer, cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn.
Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.
So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.
Khi về đổi họ thay tên. Núi chùng bóng tủi sông ghen cạn dòng.
Tôi là ai?
Tháng 4/2006
Trần Mộng Tú
Trần Mộng Tú
“Tôi là ai mà yêu quá đời này” – TCS
Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn. Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên là Tôi ở Seattle hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời Tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi Bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói Tôi là người Việt Nam. Để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.
Đúng, tôi ở Mỹ trên, dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi. Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm. Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước là da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếâng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói Tiếng Anh bể (Broken English) Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc. Nhưng khi bước vào nhà tôi; Từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người Seattle hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.
Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nộâi ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; Người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: Chị đâu có phải là người Việt nữa. Bây giờ Chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị hay cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu. Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi nghĩ lại. Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao? Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; Hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ. Tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình. Chẳng có một lí do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng, Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình; ở Trần quý Cáp, nhà anh; ở trước rạp ciné Eden đúng trú mưa với nhau. Nước ở hồ Sammamish trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.
Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc,tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộân nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “Ấn Tượng.” Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ.
So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn, Ở trong nước có bài hát nổi tiếng Quê hương mỗi người có một, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưngcó người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen. Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.
Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với Mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công Giáo. Găïp tôi cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và may quá, cụ bị Alzheimer, cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn.
Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.
So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.
Khi về đổi họ thay tên. Núi chùng bóng tủi sông ghen cạn dòng.
Tôi là ai?
Tháng 4/2006
Trần Mộng Tú
Vẽ hộ em nét mày
Vẽ hộ em nét mày
Em mở lòng kinh thánh
Chàng đến xông hương trầm
Em tặng đóa sen hồng
Chàng ép vào kinh phật
Ngày rằm chàng nằm đất
Gối đầu kinh liên hoa
Chủ nhật em đi lễ
Môi thơm lời thánh ca
Chúa nghiêng mình thánh giá
Ôm em gần vết thương
Phật vẩy nước cành dương
Cho chàng đời an lạc
Trên gác chuông vời vợi
Em giấu trái tim ngoan
Chàng qua cửa tam quan
Viết tặng em bài kệ
Thôi hãy ngồi xuống đây
Ngắm đường ngôi em rẽ
Vẽ hộ em nét mày
Ta chia đời dâu bể
Chúa Phật đều từ tâm
Tình yêu như tín ngưỡng
Hãy rót vào đời nhau
Nước sông hằng vô lượng.
Trần Mộng Tú
Em mở lòng kinh thánh
Chàng đến xông hương trầm
Em tặng đóa sen hồng
Chàng ép vào kinh phật
Ngày rằm chàng nằm đất
Gối đầu kinh liên hoa
Chủ nhật em đi lễ
Môi thơm lời thánh ca
Chúa nghiêng mình thánh giá
Ôm em gần vết thương
Phật vẩy nước cành dương
Cho chàng đời an lạc
Trên gác chuông vời vợi
Em giấu trái tim ngoan
Chàng qua cửa tam quan
Viết tặng em bài kệ
Thôi hãy ngồi xuống đây
Ngắm đường ngôi em rẽ
Vẽ hộ em nét mày
Ta chia đời dâu bể
Chúa Phật đều từ tâm
Tình yêu như tín ngưỡng
Hãy rót vào đời nhau
Nước sông hằng vô lượng.
Trần Mộng Tú
Thử dịch tình yêu
Thử dịch tình yêu
Em thử dịch tình yêu ra tiếng Huế
tình yêu suốt ngày đội nón bài thơ
tình yêu bị nhốt vào chùa Thiên Mụ
rồi cô gái nào cũng thành cung nữ
và tình nhân của nàng là ông vua
Em thử dịch tình yêu ra tiếng Bắc
yêu thật nhiều mà vẫn nói “Không”
tình yêu đi quanh bờ hồ Hoàn Kiếm
xanh như cốm mới đỏ như hồng
Em thử dịch tình yêu ra tiếng Nam
tình yêu sẽ đơn sơ và rộng lượng
yêu mênh mông như sông nước Đồng Nai
tung lưới xuống tình nhân bơi vào như cá
Hãy cho em dịch tình yêu bằng tiếng rất lạ lùng
Người ngây ngất yêu em dịch: là người say
dấm chua: là rượu chát
đêm đen: nắng giữa ngày
Tên anh là Thu em dịch là Thú
anh là con hươu, con gấu, con cọp, con nai
tên em là Hoa em dịch thành Gai
một bụi hồng hoang
với đầy hương thơm và chùm gai nhỏ
Ta sẽ yêu nhau như thú yêu rừng
Hãy cho em dịch tình yêu
bằng ngôn ngữ của riêng em
Em dịchTình yêu: là đám mây
đám mây: là giọt nước
giọt nước: là dòng sông
dòng sông: là con cá
con cá: là viên sỏi
viên sỏi: là tảng đá
tảng đá là: đám mây
đám mây là: tình yêu
Ai biết em dịch sai hay đúng
vì chỉ có mình em là người duy nhất
dịch tình yêu.
Trần Mộng Tú
tmt12/08
Em thử dịch tình yêu ra tiếng Huế
tình yêu suốt ngày đội nón bài thơ
tình yêu bị nhốt vào chùa Thiên Mụ
rồi cô gái nào cũng thành cung nữ
và tình nhân của nàng là ông vua
Em thử dịch tình yêu ra tiếng Bắc
yêu thật nhiều mà vẫn nói “Không”
tình yêu đi quanh bờ hồ Hoàn Kiếm
xanh như cốm mới đỏ như hồng
Em thử dịch tình yêu ra tiếng Nam
tình yêu sẽ đơn sơ và rộng lượng
yêu mênh mông như sông nước Đồng Nai
tung lưới xuống tình nhân bơi vào như cá
Hãy cho em dịch tình yêu bằng tiếng rất lạ lùng
Người ngây ngất yêu em dịch: là người say
dấm chua: là rượu chát
đêm đen: nắng giữa ngày
Tên anh là Thu em dịch là Thú
anh là con hươu, con gấu, con cọp, con nai
tên em là Hoa em dịch thành Gai
một bụi hồng hoang
với đầy hương thơm và chùm gai nhỏ
Ta sẽ yêu nhau như thú yêu rừng
Hãy cho em dịch tình yêu
bằng ngôn ngữ của riêng em
Em dịchTình yêu: là đám mây
đám mây: là giọt nước
giọt nước: là dòng sông
dòng sông: là con cá
con cá: là viên sỏi
viên sỏi: là tảng đá
tảng đá là: đám mây
đám mây là: tình yêu
Ai biết em dịch sai hay đúng
vì chỉ có mình em là người duy nhất
dịch tình yêu.
Trần Mộng Tú
tmt12/08
Bản Hòa Âm Sinh Tử
Bản Hòa Âm Sinh Tử
Trần Mộng Tú
Gửi Trần Viết Minh Thanh, đã mất.
Cô bạn gái của tôi mới qua đời, cô còn khá trẻ, trên cáo phó ở cạnh tuổi cô, có viết hai chữ “hưởng dương,” có nghĩa cô chưa bước vào tuổi sáu mươi. Gia đình mới hỏa táng cô sáng nay. Tôi ở xa cô mấy chục ngàn dậm bay, không đến dự, tôi ngồi ở nhà nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn cây cỏ co ro đang từ từ chết trong mùa đông, nghĩ đến cô, nhớ nụ cười, tiếng nói, liên tưởng đến tro than. Đầu óc tôi trôi bềnh bồng giữa đôi bờ sinh tử, bỗng tôi nhớ đến những lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma:
“Chết là một phần tự nhiên của sự sống, mà tất cả chúng ta chắc chắn sẽ phải đương đầu không sớm thì muộn. Theo tôi thì có hai cách để xử với cái chết trong khi ta còn sống. Hoặc là ta tảng lờ nó, hoặc là ta chạm trán với viễn ảnh cái chết của chính mình, và bằng cách tư duy sáng suốt về nó, ta cố giảm thiểu những khổ đau mà cái chết có thể mang lại. Tuy nhiên, trong cả hai cách, không cách nào chúng ta có thể thực thụ chinh phục được sự chết.” (1)
“Tảng lờ với cái chết,” nghe thật lạ lùng. Một người đang khỏe mạnh, yêu đời, gia đình êm ấm, công danh thành đạt, bỗng một ngày đi khám sức khỏe tổng quát, bác sĩ phát hiện ra một căn bệnh hiểm nghèo. Thế là đất trời bỗng mù sương; mặt trời hình như không sáng nữa, ngày tháng không còn phân biệt thu, đông. Những âu yếm nghe như gượng gạo, nụ hôn cho người thân nhuốm chút ngậm ngùi. Đi chụp hình, siêu âm, thử máu, trị liệu, thậm chí nghỉ hẳn công việc đang làm, các giao tế từ từ thưa thớt rồi ngưng hẳn; các chuyến du lịch, đi trong hồi hộp với một va-li đầy thuốc rồi cũng phải chấm dứt. Bây giờ ra khỏi nhà chỉ còn có nghĩa là đi đến phòng mạch hoặc vào bệnh viện. Liệu ta có “tảng lờ với cái chết” được không?
Cái chết của con sóc nhỏ. Tôi đi lang thang trên một con đường mòn, đi tản mạn trong buổi sáng, để hít thở trời đất thơm tho vào lồng ngực, hai mắt ngước nhìn những bụi dâu dại bên đường mòn, chân tôi xém chút nữa dẫm phải một con sóc nhỏ nằm giữa lối đi. Tôi cúi xuống nhìn nó, nó chưa chết, hai con mắt nhỏ trong veo nhìn lại tôi. Tôi thấy nó có mấy vết thương nhỏ trên lưng, nhưng một vết thương to trước bụng, và cái chân sau của nó hình như đang muốn rời hẳn ra khỏi cái thân bé bỏng. Nó đang hấp hối. Chắc nó bị một con raccoon (mèo rừng) nào đó tấn công, chạy thoát được ra đến đây thì kiệt sức. Con đường mòn buổi sáng chưa đông người “bộ hành” lắm. Tôi ngồi hẳn xuống với nó, tôi muốn cứu nó mà biết không làm gì được. Tôi cứ nhìn vào hai mắt nó, và nó nhìn tôi.
Chắc nó biết là mình đang chết, chắc nó hi vọng tôi sẽ cứu nó. Tôi hoàn toàn bất lực. Tôi ngồi với nó không lâu lắm và chứng kiến nó thở hơi cuối. Tôi đặt tay lên đôi mắt đã nhắm của nó, giống như ai đó vừa vuốt mắt một người thân, nó có cảm thấy cái chạm tay của một người đang thở không nhỉ? Tôi tìm được một cái lá to nhất tôi có thể tìm thấy trong những bụi cây, rồi thu hết can đảm kéo được một phần nào cái thân bé bỏng của nó vào chiếc lá, đầu và chân nó vẫn thò ra. Tôi kéo nó thật sát vào gốc một bụi hoa hồng dại, tìm một cành cây, xới một lũm đất nhỏ, đặt nó xuống, lấy lá khô đắp lên cho nó thành một nấm mồ. Bây giờ đang cuối đông, mưa lạnh, tôi hy vọng thân xác tí teo này sẽ mau chóng tan vào đất. Kiếp sau (nếu nó có kiếp sau) nó còn muốn được làm con sóc bé bỏng nữa hay không? Trong lúc đang thoi thóp chết nó nghĩ gì? (Tôi tin các con vật đều biết nghĩ.)
Cái chết của một dòng sông. Tôi nhớ lại trong một lần về Việt Nam, tôi có qua bên kia sông Bạch Đằng (Sài Gòn), Thủ Thiêm. Tôi về để tìm lại những kỷ niệm thân yêu thời còn trung học, những lần qua phà sang nhà người bạn gái. Bạn tôi không biết thất tung phương nào. Những hàng quán, dấu vết cỏ cây để tìm vào con ngõ nhà bạn ngày trước đã bị xóa sạch, như có ai kéo xuống cả một ngôi làng cũ thân yêu, rồi dựng lên đó một con phố mới, không cây, không cỏ, chỉ với những bức tường gạch, vữa, nhô ra thụt vào, mầu vàng, mầu đỏ. Tôi đi lang thang nguyên một ngày, hỏi han tung tích của bạn mình, hỏi tên con hẻm cũ. Tôi nhận được những cái lắc đầu lạnh nhạt, hoặc có ai đó nói vu vơ rằng cô đó cũng bỏ đi rồi, cô đó hình như chết rồi. Tôi thẫn thờ tìm đường ra lại bờ sông. Con sông sao nước bỗng đổi mầu, đen đến thế! Nó chở trên cái thân mềm yếu, những chuyến tầu máy thả khói nặng nề, những đám rác bốn phương chụm lại, thỉnh thoảng xác xơ, lạc lõng, ngơ ngác một vài cọng lục bình, trôi theo những vật phế thải.
Chao ôi, cô bạn của tôi, cô còn sống hay cô đã chết! Tôi hy vọng được gặp lại cô, ở đâu đó dù cả hai chúng tôi còn sống hay đã chết.
Chao ôi, con sông Bạch Đằng thân yêu của tôi! Nó đang sống hay đang đi dần vào cõi chết. Tôi tin con sông của tôi có linh hồn; nó sống ở đó bao nhiêu năm rồi. Nó chứng kiến sự sống, sự chết của lịch sử, của cả một quốc gia hưng vong, nó chở qua sông biết bao nhiêu kỷ niệm thanh xuân, bao mảnh đời cơ cực, bao nhiêu lần một chiếc áo quan có phủ quốc kỳ; và con người thay nhau thả xuống lòng nó bao điều dị biệt. Con sông sống lâu quá! Thượng đế cho nó một đời sống dài quá! Kiếp sau nó còn muốn làm con sông Bạch Đằng nữa, hay không?
Cái chết của một cây thông.Tôi ngắt một bông hoa dại bên đường, đặt lên nấm mộ mới. Ngồi xuống chiếc băng gỗ nghỉ chân, xoa hai bàn tay lạnh vào nhau, một lúc sau, hai bàn tay ấm lại, tôi nhìn xuống gan lòng bàn tay, thấy có mầu hồng hồng, à thì ra máu đã luân lưu vào đó nhiều hơn khi được chà xát. Tôi đang sống! Tôi đang ngồi trên một cái băng gỗ, những thanh gỗ tôi đang ngồi với nó được lấy ra từ một thân cây thông tràn đầy nhựa sống. Nó đang véo von ca hát trong rừng mỗi bình minh, hay ngâm bài thơ ngũ ngôn mỗi khi chiều xuống. Một hôm người ta muốn nó chết, nó chết ngay từ phát rìu đầu tiên chém xuống, nó không tự định đoạt đời sống mình. Loài người là thượng đế của nó. Tôi đang ngồi với một đời cây. Giữa tôi và nó là một bản hòa âm sinh tử.
Tôi đang sống hay tôi đang chết? Chắc phải nói tôi đang chết thì chính xác hơn. Mỗi ngày tôi thức dậy, đặt chân xuống đất chào đón một ngày, tức là tôi đã từ giã ngày hôm qua. Tôi cộng thêm một ngày vào tuổi, tôi đi dần về phía bên kia sợi dây đời sống. Khi tôi sinh ra, tôi bắt đầu hao đi ngày thứ nhất của sợi dây đời sống, khúc dây đó mỗi ngày tôi lấn một khúc nhỏ. Tôi không biết sợi dây trời cho dài ngắn bao nhiêu, nhưng biết chắc chắn tôi làm nó ngắn đi từng ngày, vì tôi không đi ngược lại ngày đã qua. Tôi đi về phía trước như thế, có nghĩa là tôi đi gần đến một chỗ tôi chưa hề biết (ai đó gọi là thiên đàng hay niết bàn) Tôi không biết tôi sẽ gặp điều gì, gặp ai, ở thành phố nào, quốc gia nào hay chỉ là một cõi mù sương phía trước, nếu tôi không có một tín ngưỡng để vin vào. Nhưng tôi, giả dụ có là một người vô thần thì tôi cũng biết rất rõ những gì tôi bỏ lại. Tôi bỏ lại những người ruột thịt của tôi: Chồng, con, cha mẹ, anh em, bạn thân, người quen biết, cái nhà đang ở, cái xe đang đi, mảnh vườn nhỏ tôi chăm bón bốn mùa, con chim thỉnh thoảng đậu ở trước hiên nhà, những hàng cây hai bên đường, thay lá từng mùa; người hàng xóm khó tính bên tay phải, người hàng xóm dễ thương bên tay trái. Tôi bỏ lại những cuốn truyện trên kệ sách, những tác giả tôi thích nhất, những cuốn sách cần thiết như những vị thầy, bỏ lại bài thơ vừa mới viết xong, bài văn đang viết nửa chừng, bỏ dòng nước lững lờ trôi trước cửa, dẫy núi trải dài trên cao, bầu trời nhiều mưa hơn nắng. Tôi bỏ lại tất cả, bỏ dần, bỏ dần từng ngày, thế mà tôi đâu có lúc nào để ý đên việc mình đang từ bỏ. Cho đến một hôm“Cái chết đến như kẻ trộm.”Chắc lúc đó tôi mới nhận thấy và hoảng hốt hay điềm tĩnh đối diện.
Bây giờ, người bạn trẻ của tôi, hôm nay đã hóa thành một nắm tro, nằm thinh lặng trong một chiếc bình. Chị đã đi đến cuối sợi dây đời sống trời trao cho chị từ lúc mới sinh ra, sợi dây không dài lắm. Chị đi như thế nào nhỉ? Và tôi nữa, tôi tự hỏi: “Chúng ta đi trên sợi dây đời sống như thế nào nhỉ?” Từ lúc sinh ra được cha mẹ thương yêu, nuôi lớn khôn, ăn học, đi làm việc, lập gia đình cho tới khi từ bỏ cuộc đời, chúng ta quay đều như một hạt cát bám vào bánh xe. Bánh xe đời sống quay đến đâu, chúng ta quay theo đến đó, hình như không có lúc nào nghĩ ra rằng, ta có nên bảo nó ngưng lại cho ta nghỉ trong chốc lát hay không? Take a break. Tôi rất thích chữ break này. Bẻ thời gian ra thành nhiều mảnh, nhặt lấy một mảnh nhỏ, ngồi xuống thở, chơi.
Tôi chỉ sống có một đời. Dài hay ngắn đều do cách tôi suy nghĩ, nhưng tôi sống với những điều tôi tin là tốt đẹp, dù đôi khi tôi phải trả cái giá tốt đẹp này bằng những giọt lệ. Một đời như thế, chắc cũng sống đủ lắm rồi.
Có người đã nói: “Nhìn cái chết là đoạn cuối của cuộc đời, chẳng khác nào bạn nhìn đường chân trời bảo đấy là điểm cuối của đại dương” (2)
Hôm nay, tôi thở, tôi sống, tôi làm thơ, cùng với người bạn, con sóc, dòng sông, cây thông đã qua đời. Một bản hòa âm sinh tử.
Ngày mai thuộc về ngày mai.
Trần Mộng Tú
Jan.2009
(1)- Lời tựa của Dalai Lama cho “The Tibetan Book of Living and Dying- Sogyal Rinpoche.” Thích Nữ Trí Hải dịch.
(2)- David Searls- Seeing death as the end of life is like seeing the horizon as the end of the ocean.
Trần Mộng Tú
Gửi Trần Viết Minh Thanh, đã mất.
Cô bạn gái của tôi mới qua đời, cô còn khá trẻ, trên cáo phó ở cạnh tuổi cô, có viết hai chữ “hưởng dương,” có nghĩa cô chưa bước vào tuổi sáu mươi. Gia đình mới hỏa táng cô sáng nay. Tôi ở xa cô mấy chục ngàn dậm bay, không đến dự, tôi ngồi ở nhà nhìn ra ngoài cửa sổ, nhìn cây cỏ co ro đang từ từ chết trong mùa đông, nghĩ đến cô, nhớ nụ cười, tiếng nói, liên tưởng đến tro than. Đầu óc tôi trôi bềnh bồng giữa đôi bờ sinh tử, bỗng tôi nhớ đến những lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma:
“Chết là một phần tự nhiên của sự sống, mà tất cả chúng ta chắc chắn sẽ phải đương đầu không sớm thì muộn. Theo tôi thì có hai cách để xử với cái chết trong khi ta còn sống. Hoặc là ta tảng lờ nó, hoặc là ta chạm trán với viễn ảnh cái chết của chính mình, và bằng cách tư duy sáng suốt về nó, ta cố giảm thiểu những khổ đau mà cái chết có thể mang lại. Tuy nhiên, trong cả hai cách, không cách nào chúng ta có thể thực thụ chinh phục được sự chết.” (1)
“Tảng lờ với cái chết,” nghe thật lạ lùng. Một người đang khỏe mạnh, yêu đời, gia đình êm ấm, công danh thành đạt, bỗng một ngày đi khám sức khỏe tổng quát, bác sĩ phát hiện ra một căn bệnh hiểm nghèo. Thế là đất trời bỗng mù sương; mặt trời hình như không sáng nữa, ngày tháng không còn phân biệt thu, đông. Những âu yếm nghe như gượng gạo, nụ hôn cho người thân nhuốm chút ngậm ngùi. Đi chụp hình, siêu âm, thử máu, trị liệu, thậm chí nghỉ hẳn công việc đang làm, các giao tế từ từ thưa thớt rồi ngưng hẳn; các chuyến du lịch, đi trong hồi hộp với một va-li đầy thuốc rồi cũng phải chấm dứt. Bây giờ ra khỏi nhà chỉ còn có nghĩa là đi đến phòng mạch hoặc vào bệnh viện. Liệu ta có “tảng lờ với cái chết” được không?
Cái chết của con sóc nhỏ. Tôi đi lang thang trên một con đường mòn, đi tản mạn trong buổi sáng, để hít thở trời đất thơm tho vào lồng ngực, hai mắt ngước nhìn những bụi dâu dại bên đường mòn, chân tôi xém chút nữa dẫm phải một con sóc nhỏ nằm giữa lối đi. Tôi cúi xuống nhìn nó, nó chưa chết, hai con mắt nhỏ trong veo nhìn lại tôi. Tôi thấy nó có mấy vết thương nhỏ trên lưng, nhưng một vết thương to trước bụng, và cái chân sau của nó hình như đang muốn rời hẳn ra khỏi cái thân bé bỏng. Nó đang hấp hối. Chắc nó bị một con raccoon (mèo rừng) nào đó tấn công, chạy thoát được ra đến đây thì kiệt sức. Con đường mòn buổi sáng chưa đông người “bộ hành” lắm. Tôi ngồi hẳn xuống với nó, tôi muốn cứu nó mà biết không làm gì được. Tôi cứ nhìn vào hai mắt nó, và nó nhìn tôi.
Chắc nó biết là mình đang chết, chắc nó hi vọng tôi sẽ cứu nó. Tôi hoàn toàn bất lực. Tôi ngồi với nó không lâu lắm và chứng kiến nó thở hơi cuối. Tôi đặt tay lên đôi mắt đã nhắm của nó, giống như ai đó vừa vuốt mắt một người thân, nó có cảm thấy cái chạm tay của một người đang thở không nhỉ? Tôi tìm được một cái lá to nhất tôi có thể tìm thấy trong những bụi cây, rồi thu hết can đảm kéo được một phần nào cái thân bé bỏng của nó vào chiếc lá, đầu và chân nó vẫn thò ra. Tôi kéo nó thật sát vào gốc một bụi hoa hồng dại, tìm một cành cây, xới một lũm đất nhỏ, đặt nó xuống, lấy lá khô đắp lên cho nó thành một nấm mồ. Bây giờ đang cuối đông, mưa lạnh, tôi hy vọng thân xác tí teo này sẽ mau chóng tan vào đất. Kiếp sau (nếu nó có kiếp sau) nó còn muốn được làm con sóc bé bỏng nữa hay không? Trong lúc đang thoi thóp chết nó nghĩ gì? (Tôi tin các con vật đều biết nghĩ.)
Cái chết của một dòng sông. Tôi nhớ lại trong một lần về Việt Nam, tôi có qua bên kia sông Bạch Đằng (Sài Gòn), Thủ Thiêm. Tôi về để tìm lại những kỷ niệm thân yêu thời còn trung học, những lần qua phà sang nhà người bạn gái. Bạn tôi không biết thất tung phương nào. Những hàng quán, dấu vết cỏ cây để tìm vào con ngõ nhà bạn ngày trước đã bị xóa sạch, như có ai kéo xuống cả một ngôi làng cũ thân yêu, rồi dựng lên đó một con phố mới, không cây, không cỏ, chỉ với những bức tường gạch, vữa, nhô ra thụt vào, mầu vàng, mầu đỏ. Tôi đi lang thang nguyên một ngày, hỏi han tung tích của bạn mình, hỏi tên con hẻm cũ. Tôi nhận được những cái lắc đầu lạnh nhạt, hoặc có ai đó nói vu vơ rằng cô đó cũng bỏ đi rồi, cô đó hình như chết rồi. Tôi thẫn thờ tìm đường ra lại bờ sông. Con sông sao nước bỗng đổi mầu, đen đến thế! Nó chở trên cái thân mềm yếu, những chuyến tầu máy thả khói nặng nề, những đám rác bốn phương chụm lại, thỉnh thoảng xác xơ, lạc lõng, ngơ ngác một vài cọng lục bình, trôi theo những vật phế thải.
Chao ôi, cô bạn của tôi, cô còn sống hay cô đã chết! Tôi hy vọng được gặp lại cô, ở đâu đó dù cả hai chúng tôi còn sống hay đã chết.
Chao ôi, con sông Bạch Đằng thân yêu của tôi! Nó đang sống hay đang đi dần vào cõi chết. Tôi tin con sông của tôi có linh hồn; nó sống ở đó bao nhiêu năm rồi. Nó chứng kiến sự sống, sự chết của lịch sử, của cả một quốc gia hưng vong, nó chở qua sông biết bao nhiêu kỷ niệm thanh xuân, bao mảnh đời cơ cực, bao nhiêu lần một chiếc áo quan có phủ quốc kỳ; và con người thay nhau thả xuống lòng nó bao điều dị biệt. Con sông sống lâu quá! Thượng đế cho nó một đời sống dài quá! Kiếp sau nó còn muốn làm con sông Bạch Đằng nữa, hay không?
Cái chết của một cây thông.Tôi ngắt một bông hoa dại bên đường, đặt lên nấm mộ mới. Ngồi xuống chiếc băng gỗ nghỉ chân, xoa hai bàn tay lạnh vào nhau, một lúc sau, hai bàn tay ấm lại, tôi nhìn xuống gan lòng bàn tay, thấy có mầu hồng hồng, à thì ra máu đã luân lưu vào đó nhiều hơn khi được chà xát. Tôi đang sống! Tôi đang ngồi trên một cái băng gỗ, những thanh gỗ tôi đang ngồi với nó được lấy ra từ một thân cây thông tràn đầy nhựa sống. Nó đang véo von ca hát trong rừng mỗi bình minh, hay ngâm bài thơ ngũ ngôn mỗi khi chiều xuống. Một hôm người ta muốn nó chết, nó chết ngay từ phát rìu đầu tiên chém xuống, nó không tự định đoạt đời sống mình. Loài người là thượng đế của nó. Tôi đang ngồi với một đời cây. Giữa tôi và nó là một bản hòa âm sinh tử.
Tôi đang sống hay tôi đang chết? Chắc phải nói tôi đang chết thì chính xác hơn. Mỗi ngày tôi thức dậy, đặt chân xuống đất chào đón một ngày, tức là tôi đã từ giã ngày hôm qua. Tôi cộng thêm một ngày vào tuổi, tôi đi dần về phía bên kia sợi dây đời sống. Khi tôi sinh ra, tôi bắt đầu hao đi ngày thứ nhất của sợi dây đời sống, khúc dây đó mỗi ngày tôi lấn một khúc nhỏ. Tôi không biết sợi dây trời cho dài ngắn bao nhiêu, nhưng biết chắc chắn tôi làm nó ngắn đi từng ngày, vì tôi không đi ngược lại ngày đã qua. Tôi đi về phía trước như thế, có nghĩa là tôi đi gần đến một chỗ tôi chưa hề biết (ai đó gọi là thiên đàng hay niết bàn) Tôi không biết tôi sẽ gặp điều gì, gặp ai, ở thành phố nào, quốc gia nào hay chỉ là một cõi mù sương phía trước, nếu tôi không có một tín ngưỡng để vin vào. Nhưng tôi, giả dụ có là một người vô thần thì tôi cũng biết rất rõ những gì tôi bỏ lại. Tôi bỏ lại những người ruột thịt của tôi: Chồng, con, cha mẹ, anh em, bạn thân, người quen biết, cái nhà đang ở, cái xe đang đi, mảnh vườn nhỏ tôi chăm bón bốn mùa, con chim thỉnh thoảng đậu ở trước hiên nhà, những hàng cây hai bên đường, thay lá từng mùa; người hàng xóm khó tính bên tay phải, người hàng xóm dễ thương bên tay trái. Tôi bỏ lại những cuốn truyện trên kệ sách, những tác giả tôi thích nhất, những cuốn sách cần thiết như những vị thầy, bỏ lại bài thơ vừa mới viết xong, bài văn đang viết nửa chừng, bỏ dòng nước lững lờ trôi trước cửa, dẫy núi trải dài trên cao, bầu trời nhiều mưa hơn nắng. Tôi bỏ lại tất cả, bỏ dần, bỏ dần từng ngày, thế mà tôi đâu có lúc nào để ý đên việc mình đang từ bỏ. Cho đến một hôm“Cái chết đến như kẻ trộm.”Chắc lúc đó tôi mới nhận thấy và hoảng hốt hay điềm tĩnh đối diện.
Bây giờ, người bạn trẻ của tôi, hôm nay đã hóa thành một nắm tro, nằm thinh lặng trong một chiếc bình. Chị đã đi đến cuối sợi dây đời sống trời trao cho chị từ lúc mới sinh ra, sợi dây không dài lắm. Chị đi như thế nào nhỉ? Và tôi nữa, tôi tự hỏi: “Chúng ta đi trên sợi dây đời sống như thế nào nhỉ?” Từ lúc sinh ra được cha mẹ thương yêu, nuôi lớn khôn, ăn học, đi làm việc, lập gia đình cho tới khi từ bỏ cuộc đời, chúng ta quay đều như một hạt cát bám vào bánh xe. Bánh xe đời sống quay đến đâu, chúng ta quay theo đến đó, hình như không có lúc nào nghĩ ra rằng, ta có nên bảo nó ngưng lại cho ta nghỉ trong chốc lát hay không? Take a break. Tôi rất thích chữ break này. Bẻ thời gian ra thành nhiều mảnh, nhặt lấy một mảnh nhỏ, ngồi xuống thở, chơi.
Tôi chỉ sống có một đời. Dài hay ngắn đều do cách tôi suy nghĩ, nhưng tôi sống với những điều tôi tin là tốt đẹp, dù đôi khi tôi phải trả cái giá tốt đẹp này bằng những giọt lệ. Một đời như thế, chắc cũng sống đủ lắm rồi.
Có người đã nói: “Nhìn cái chết là đoạn cuối của cuộc đời, chẳng khác nào bạn nhìn đường chân trời bảo đấy là điểm cuối của đại dương” (2)
Hôm nay, tôi thở, tôi sống, tôi làm thơ, cùng với người bạn, con sóc, dòng sông, cây thông đã qua đời. Một bản hòa âm sinh tử.
Ngày mai thuộc về ngày mai.
Trần Mộng Tú
Jan.2009
(1)- Lời tựa của Dalai Lama cho “The Tibetan Book of Living and Dying- Sogyal Rinpoche.” Thích Nữ Trí Hải dịch.
(2)- David Searls- Seeing death as the end of life is like seeing the horizon as the end of the ocean.
Quà tặng trong chiến tranh
Quà tặng trong chiến tranh
TRẦN MỘNG TÚ
Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh aó cưới
Phủ trên nấm mộ xanh
Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai mầu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng
Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương
Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời
Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động
Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.
Tháng 8/69
Cái bẫy hòa bình
Em thức giấc giữa đêm
nằm nghiêng nghe súng nổ
như những năm tháng cũ
như những ngày còn thơ
em ở tuổi hai mươi
chập chững bước vào đời
đêm mơ nghe tiếng súng
ngày nghe chuyện máu rơi
khi em còn bé dại
mẹ thì thầm lời ru
chiến tranh không còn nữa
khi con biết nói cười
em đã lớn khôn rồi
và mẹ già theo tuổi
chiến tranh thì trẻ mãi
vẫn hấp dẫn loài người
loài người không thành thật
giăng cái bẫy hòa bình
để có cớ chính đáng
nuôi dưỡng mãi chiến tranh
anh hồn nhiên yêu nước
theo tiếng gọi hòa bình
mang thân làm đinh ốc
trong cái máy chiến tranh
em ngây thơ yêu anh
mong đất nước thanh bình
tiễn anh vào lửa đạn
em còn nấm mộ xanh
em mất anh vĩnh viễn
hai ta mất mối tình
một mình em vướng lại
trong cái bẫy hòa bình.
(1970)
Source : DA MÀU
TRẦN MỘNG TÚ
Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh aó cưới
Phủ trên nấm mộ xanh
Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai mầu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng
Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương
Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời
Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động
Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.
Tháng 8/69
Cái bẫy hòa bình
Em thức giấc giữa đêm
nằm nghiêng nghe súng nổ
như những năm tháng cũ
như những ngày còn thơ
em ở tuổi hai mươi
chập chững bước vào đời
đêm mơ nghe tiếng súng
ngày nghe chuyện máu rơi
khi em còn bé dại
mẹ thì thầm lời ru
chiến tranh không còn nữa
khi con biết nói cười
em đã lớn khôn rồi
và mẹ già theo tuổi
chiến tranh thì trẻ mãi
vẫn hấp dẫn loài người
loài người không thành thật
giăng cái bẫy hòa bình
để có cớ chính đáng
nuôi dưỡng mãi chiến tranh
anh hồn nhiên yêu nước
theo tiếng gọi hòa bình
mang thân làm đinh ốc
trong cái máy chiến tranh
em ngây thơ yêu anh
mong đất nước thanh bình
tiễn anh vào lửa đạn
em còn nấm mộ xanh
em mất anh vĩnh viễn
hai ta mất mối tình
một mình em vướng lại
trong cái bẫy hòa bình.
(1970)
Source : DA MÀU
Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2010
THƠ : TRĂNG RỤNG
TRĂNG RỤNG
Trần Hồ Dũng
" Kính viếng hương hồn
những người lính trẻ ra trận không về"
Vàng bay ! vàng bay !
Trời đất hóa vàng
Tiễn đưa lịch sử
Ai người qua sông ?
Hồn nào ở lại ?
Ngọn đồi ảo mộng
Chiến trường năm xưa
Ai còn ? ai mất ?
Mẹ ta nay đâu ?
Mẹ còn hay mất ?
Tìm mẹ phương nào ?
Còn em ngày cũ
Nay đã qua cầu ?
Ta xin tặng em
Một mùa trăng rụng !
Trăng : Linh hồn ta
Tròn hai mươi tuổi !
tranhodung. saigon.30.4.2010
Trần Hồ Dũng
" Kính viếng hương hồn
những người lính trẻ ra trận không về"
Vàng bay ! vàng bay !
Trời đất hóa vàng
Tiễn đưa lịch sử
Ai người qua sông ?
Hồn nào ở lại ?
Ngọn đồi ảo mộng
Chiến trường năm xưa
Ai còn ? ai mất ?
Mẹ ta nay đâu ?
Mẹ còn hay mất ?
Tìm mẹ phương nào ?
Còn em ngày cũ
Nay đã qua cầu ?
Ta xin tặng em
Một mùa trăng rụng !
Trăng : Linh hồn ta
Tròn hai mươi tuổi !
tranhodung. saigon.30.4.2010
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)