Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Tuấn Khanh Và Giấc “ Mộng Đêm Xuân”

Tuấn Khanh Và Giấc “ Mộng Đêm Xuân”

lê hữu






Xuân vừa về trên bãi cỏ non…

Nghe câu hát ấy của Phạm Duy, ta nghe mùa xuân về đâu đó quanh đây, về trên những thảm cỏ xanh mướt, về trên những bông hoa dại đủ sắc mầu dọc theo con đường chúng ta đi.

Mùa xuân như đến gần thêm chút nữa khi ta nghe câu hát của Tuấn Khanh.

Em ơi xuân đến bên thềm rồi…

(Mùa Xuân Đầu Tiên)

Mùa xuân đến thật gần. Mùa xuân đã đến bên thềm, mùa xuân đã đến bên em.

Nghe câu hát, tưởng chừng nghe được cả tiếng bước mùa xuân, nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài lướt thướt của “nàng xuân” chạm vào những bậc thềm cửa, nghe được cả tiếng động nhè nhẹ trong câu lục bát Trần Dạ Từ, phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà.

“Anh nằm nghe bước em lên

Ngoài song lá động, trên thềm áo bay”

(Khi Nàng Đến)

Mùa xuân đến thật gần. Xuân của đất trời, xuân trong lòng người.



Nỗi buồn ướp men say



Nghe những bài nhạc Xuân quen thuộc của các nhạc sĩ quen tên, tôi nhận ra một điều, mỗi “nàng xuân” của mỗi chàng nhạc sĩ có một vẻ đẹp riêng, những nét quyến rũ riêng.

Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh là “Xuân mộng”, dắt ta đi vào những giấc mộng êm đềm, đi vào những giấc mơ tràn đầy mùa xuân tình ái của lứa đôi.

Nghe tiếng xuân về tim rộn rã

cho ước mơ thành những vần thơ… (Mộng Đêm Xuân)

Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh còn là mùa xuân tao ngộ, mùa xuân tương phùng sau những cách ngăn, chia lìa qua bao tháng năm dài biền biệt.

Hết rồi mùa chia ly

cho tình xuân vừa ý… (Mùa Xuân Đầu Tiên)

Mùa xuân trong nhạc Tuấn Khanh rất gần với mùa xuân của thi nhân.

“Ai bảo em là giai nhân

cho lệ tràn đêm xuân

cho tình tràn trước ngõ

cho mộng tràn gối chăn”

Những “lệ tràn đêm xuân” và những giấc mộng vàng, mộng đẹp ấy không chỉ có trong những câu thơ Lưu Trọng Lư thôi mà ta còn nghe được cả trong những câu hát của Tuấn Khanh nữa.

Mộng về một đêm xuân sang

em thì thầm ngày đó thương anh…

Mộng tràn ngập đêm trăng sao

sao đầy trời từng chiếc lấp lánh…

Những câu hát ấy ở trong bài “Chiếc lá cuối cùng”, một trong những ca khúc gắn liền với tên tuổi nhạc sĩ Tuấn Khanh, từng được nhiều ca sĩ trình bày nhất, được nhiều trung tâm băng, dĩa nhạc thu âm nhất và tất nhiên, được nhiều người yêu thích nhất.

Tại sao lại là “chiếc lá cuối cùng”? Không rõ là cái tựa của bài hát ấy và câu chuyện Chiếc Lá Cuối Cùng của nhà văn Mỹ nổi tiếng O’Henry có mối liên hệ nào(?). Điểm tương đồng là cả bài hát lẫn câu chuyện đều buồn bã như nhau, và cả người họa sĩ trong câu chuyện ấy lẫn người nhạc sĩ trong bài hát ấy đều có những đêm thức trắng, những đêm dõi mắt trông chờ chiếc lá cuối cùng sẽ lặng lẽ lìa cành trong đêm lạnh vắng. Chiếc lá cuối cùng rụng xuống là thời khắc cô bé trong câu chuyện ấy sẽ phải từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, cũng là thời khắc hai kẻ yêu nhau trong bài hát ấy sẽ phải nói lời chia tay.

Lá trên cành một chiếc cuối bay xa…

Nghe “Chiếc lá cuối cùng”, ta nghe một nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ.

“Chiếc lá cuối cùng” là chuyện tình trái ngang, là mối duyên không thành, là tìm quên trong men rượu, là tiếc nhớ những ngày vui đã xa như dĩ vãng.

Rồi một chiều xuân thơ trinh

cho lòng mình về với dĩ vãng…

“Chiếc lá cuối cùng” là nỗi đau tê dại của trái tim rạn vỡ, là nỗi sầu chìm ngập trong men rượu, là nỗi-buồn-ướp-men-say.

Đã có bao nhiêu ca sĩ từng hát “Chiếc lá cuối cùng” kể từ khi bài hát ra đời (1962), kể từ khi người ta nghe Thái Thanh hát lên lần đầu tiên, tác giả bài hát không sao nhớ hết, không kể ra hết được. Gần đây nhất, các ca sĩ trẻ ở trong nước cũng đã tìm đến bài hát ấy, cũng đã cất giọng “Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng?...” Bài hát có một đời sống thật là dài và vẫn luôn “mới”, luôn làm rung động những trái tim.

Đã có bao nhiêu là giai thoại về những người yêu “Chiếc lá cuối cùng”, như một nhạc sĩ Tuấn Khanh… khác ở trong nước đã đặt tựa cho một sáng tác của mình là… “Chiếc lá đầu tiên”, hay như một người làm thơ đã cảm tác “Chiếc lá cuối cùng” để sáng tác bài thơ dài đến hơn trăm câu, mỗi câu bắt đầu bằng một hoặc hai chữ của trọn bài hát ấy.

. . . . .

Mộng về dưới bóng hoàng lan

một đêm trăng ngọt hương tràn môi xinh

xuân sang thắm lối ân tình

em duyên như nụ hoa quỳnh, trao nhau

thì thầm tiếng nhớ ngàn sau…

Đã có bao nhiêu người tìm gặp được mình, tìm gặp những nỗi niềm “trắng đêm tâm sự” của mình trong bài hát ấy. Bài hát, có phải vì lẽ ấy, đã ở lại về lâu về dài trong lòng người?

Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang

Thật ít có ai sử dụng chữ “chở” tuyệt vời đến như thế!







Trong những câu hát của Tuấn Khanh ta vẫn nhặt ra được những câu thơ đẹp như thế, những chữ và nghĩa hay đến như thế, như là những chữ “vội vã”, “len lén”, “quấn quýt”, “lẻ loi”…

Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã

Đêm đêm heo may len lén vào hồn tìm nhau

Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt

cho đêm không mơ, cơn mơ lẻ loi

Những câu hát ấy–hay những câu thơ ấy–ở trong bài “Nỗi niềm” của nhạc sĩ Tuấn Khanh.

Từng ngày trôi qua tim em héo úa...

“Nỗi niềm” là nỗi buồn héo hắt đến rã rượi.

Những lời tình ta nghe được trong bài hát ấy như là tiếng thở dài não nuột của một người yêu. Nói “như là” vì lẽ, những lời ấy là “nỗi niềm” tâm sự của người vợ hiền, là nỗi lòng cô phụ những đêm dài trằn trọc, những đêm vò võ một mình một bóng, sau phút chia tay vội vã, tiễn chồng và các con lên đường… vượt biên.

Nên em cô đơn những đêm về sáng…

Anh ơi, đêm nay em nghe trống vắng buồn tênh…

Nghe “Nỗi niềm” mà nghe lòng chùng xuống, mà nghe tim thắt lại.

“Nỗi niềm”, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết, là “Hoa soan bên thềm cũ” nối dài. Những lời thơ ý nhạc gửi gấm trong hai ca khúc ấy đều như lời hẹn ước gửi đến người bạn đời đầu gối tay ấp của ông.

Em nhé, mình thương nhau muôn đời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

Xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)

“Nỗi niềm”, trong một nghĩa nào đó, cũng là “Chiếc lá cuối cùng” nối dài. Cũng là nỗi buồn trăn trở của nửa đêm về sáng, của những đêm không ngủ, cũng là giai điệu chầm chậm, buồn buồn đến rã rời ấy. Có khác chăng, nỗi cách chia người yêu đổi thành nỗi chia lìa chồng vợ.



“Giàn hoa tím xưa chưa phai”



Dường như trong mỗi nhạc sĩ của chúng ta đều có ít nhiều một chàng thi sĩ. Nhờ vậy, chúng ta mới có được những câu hát thật là thơ, thật là đẹp.

Tôi vào vườn xưa

gặp em tóc buông vai gầy

thẹn thùng nhìn tôi ngỡ trong giấc mơ…

Nghe những câu hát như thế, ta nghe được cả những ý thơ.

Câu hát ấy ở trong bài nhạc có một mầu tím vấn vương của Tuấn Khanh, “Dưới giàn hoa cũ”, được ông sáng tác cách đây đúng năm mươi năm. Nghe lại bài hát ấy, sau nửa thế kỷ, sau bao vật đổi sao dời, vẫn nghe lòng lâng lâng như “ngỡ trong giấc mơ”, vẫn nghe một nỗi xao xuyến, bâng khuâng như “thuở ban đầu” của bài hát, như mối tình đầu thường khó phai.

Nỗi xao xuyến, bâng khuâng ấy bàng bạc hầu hết trong các bài hát, trong từng lời ca ý nhạc của Tuấn Khanh.

Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về

thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai…

Bài hát như mẩu tự truyện của người nghệ sĩ ấy. Dường như mỗi bài nhạc của ông là mỗi câu chuyện kể, là câu chuyện thật; nói đúng hơn, là câu chuyện tình.

Lòng tôi vẫn còn ghi mãi phút êm đềm

thềm hoa chia tay lúc trăng đang lên

Hẹn tôi, “Đến một mùa se thắm duyên lành,

ngắt bông hoa tím trên cành trao anh.”

Những chuyện tình ấy thường dẫn đến một kết thúc “êm đềm”.

Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm

vầng trăng thu soi mắt em long lanh…

Nếu ở Hoàng Trọng là “Trời buồn đem mây tím về chơi vơi…” (Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím), ở Nguyễn Hiền là “Nhớ nhau khi mây vương vương màu tím…” (Ngàn Năm Mây Bay) thì ở Tuấn Khanh là…

Những chiều buồn mây tím xây thành

có thương hoa thắm mong chờ không anh?

Cũng là mầu mây tím, cũng là một mầu tím vời vợi, cũng là những nét nhạc lâng lâng, êm êm nhưng là những dòng nhạc không lẫn vào nhau được. Nét nhạc Hoàng Trọng nghe man mác như ngọn gió heo may lay động mặt nước hồ thu, nét nhạc Nguyễn Hiền nghe mênh mang, đẹp và buồn như bức tranh thủy mạc, trong lúc nét nhạc Tuấn Khanh nghe xao xuyến, bâng khuâng, và có thoáng e ấp, ngại ngùng như “nụ hoa vừa hé”, như “đôi môi xinh” của “người em nhỏ bé mộng mơ” (Mùa Xuân Đầu Tiên).

“E ấp, ngại ngùng” nên chàng trai chỉ “thầm mơ giàn hoa tím xưa chưa phai”, cô gái chỉ thầm hỏi “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?” Trong những câu hát của Tuấn Khanh, ta vẫn nghe được những lời tỏ tình thầm kín như thế, những lời tỏ bày nhiều ẩn dụ và chan chứa những tình ý yêu đương như thế.

Chàng nhạc sĩ ấy không nói “Có thương người em nhỏ đợi chờ?” như ta vẫn thường nghe, thường gặp, mà nói… “Có thương hoa thắm mong chờ không anh?”

Chàng nhạc sĩ ấy cũng không nói “hương sắc phai tàn”, hay “tình yêu nhạt phai”, hay “lòng thủy chung qua bao tháng đợi năm chờ” mà nói… “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

Tình yêu ấy thật nhẹ nhàng, thật tha thiết và đẹp như những cánh hoa mầu tím mỏng manh, lay động trong nắng sớm, trong gió chiều. Mầu hoa tím bâng khuâng và luôn có chút vấn vương.

Hoa nào đợi chờ không phai sắc hương

Ngày tàn không gieo nhớ thương

Dặm trường không gây vấn vương







Mầu tím, mầu của định mệnh. Bài hát ấy đã như một định mệnh.

Đời tôi đã nhiều lần vui bước phong trần

gió lùa xao xuyến tim đơn chiếc thân…

Câu hát ấy,” nhạc sĩ Tuấn Khanh nói, “đã ‘ứng nghiệm’ vào tôi.” Chàng nghệ sĩ ấy, con người lãng tử ấy đã sống kiếp nổi trôi lang bạt kỳ hồ, kể từ ngày đơn thân độc mã khoác cây đàn lên vai, một mình vượt tuyến vào Nam năm 22 tuổi, hành trang chỉ vài bộ quần áo, vài tập sách nhạc và… chiếc đàn vĩ cầm không lúc nào rời chàng.

“Hoa soan bên thềm cũ”, ra đời ít năm trước “Dưới giàn hoa cũ”, cũng là câu chuyện kể, là câu chuyện tình mùa ly loạn mà giới yêu nhạc cuối thập niên 50’s và đầu thập niên 60’s hầu như không ai lại không biết đến. Như bao lớp trai theo nhau lên đường, chàng trai phải giã biệt làng quê, giã biệt tình đầu vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi. Người đi nói với người ở lại những lời nhắn nhủ, vỗ về thiết tha, ân cần.

Đừng buồn khi xa nhau em nhé,

thăm em đôi ngày rồi anh đi…

Người lính chiến dừng chân phút giây thôi, rồi lại lên đường, rồi lại miệt mài đi khi quê hường còn tiếng súng.

Chuyện tình mùa chinh chiến mang nhiều nỗi vấn vương “như hương hoa soan dâng bên thềm” trong buổi chiều vàng. Người lính chiến luôn giữ chắc tay súng, không chỉ “giữ gìn biên cương xa vời” mà còn giữ gìn cho tình yêu bền chặt, không nhạt phai theo tháng năm..

Một chi tiết khá thú vị, trong lần ấn hành đầu tiên (nxb An Phú, 1956), một câu hát trong bản nhạc “Hoa soan bên thềm cũ” được in nhầm là “như hương hoa soan vang bên thềm”. Một số ca sĩ đã hát theo như thế (và nhiều ca sĩ đến nay vẫn hát như thế). Một số ca sĩ nhận ra chỗ sai ấy (“hương hoa” thì không thể “vang” được), bèn đổi chữ “vang” thành chữ “vàng” (vẫn cứ… sai, vì “hương hoa” thì không thể… xanh đỏ tím vàng được). Một số ca sĩ khác đổi lại là “như hương hoa soan vương bên thềm”, nghe hợp lý hơn, nhưng vẫn cứ… sai. Câu hát đúng, tác giả Tuấn Khanh cho biết, là “như hương hoa soan dâng bên thềm”.

Chữ “vương” đã hay, chữ “dâng” lại hay hơn. Thật khó mà có thể nghĩ ra, tìm ra được chữ nào hay hơn thế.

“Người kể chuyện mình”, có thể gọi nhạc sĩ Tuấn Khanh bằng cái tên ấy, qua những bài nhạc gắn liền với tên tuổi ông. Từ “Hoa soan bên thềm cũ” đến “Dưới giàn hoa cũ”, đến “Chiếc lá cuối cùng”, đến “Quán nửa khuya”, đến cả những bài nhạc về sau này như “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… Có khi chỉ nghe qua cái tựa của bài nhạc thôi, như “Hai kỷ niệm, một chuyến đi”, “Đêm này nghỉ đỡ chân”… người ta cũng hiểu được đấy là những câu chuyện buồn vui được ông kể lại bằng lời ca tiếng nhạc.

Những câu chuyện kể trong nhạc Tuấn Khanh thường là “chuyện hai người”, thường là những lời tình thật tha thiết, thật dịu dàng “hai người” nói với nhau.

Em nhé mình thương nhau muôn đời

Anh giữ gìn biên cương xa vời… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

Nhìn nhau khẽ nói câu

“Thời gian trôi qua mau

không phai lạt đâu…” (Một Chiều Đông)

Tuấn Khanh, ông đã phơi trải lòng mình qua những dòng kẻ nhạc, đã dẫn dắt người nghe đi vào những câu chuyện lòng qua những giai điệu đằm thắm, ngọt ngào.

Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm

lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui… (Chiều Biên Khu)

Câu hát ấy rất gần với câu hát của Phạm Duy, một “người kể chuyện mình” khác, kể về những buồn vui đời lính bên bếp lửa hồng trong ngày trở về của người chiến binh.

Ngày trở về, trong bếp vui

anh nói chuyện nghe, chuyện đời chiến sĩ

sống say mê, đường xa lắm khi nương hồn về quê… (Ngày Trở Về)

Nghe nhạc Tuấn Khanh, người ta như nghe được những nỗi niềm và những rung cảm của trái tim ông. Chính từ những rung cảm của trái tim, chính từ những rung cảm chân thực ấy, những ca khúc của ông đã chạm được tới trái tim người nghe.



“Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt”



Những người yêu nét đẹp trong nhạc tiền chiến cũng sẽ dễ dàng yêu thích những khúc “nhạc tình muôn thuở” của Tuấn Khanh như là “dòng nhạc tiền chiến nối dài”. Một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc “lãng mạn tiền chiến”, nhạc sĩ Tô Vũ, cũng đã yêu những khúc nhạc tình ấy. Tác giả “Em đến thăm anh một chiều mưa” đã tìm đến ông như tìm đến mối đồng cảm trong nhạc Việt, như tìm đến mối duyên tri ngộ giữa hai tâm hồn đồng điệu.

Sao gọi là “đồng điệu”? Hai chàng nghệ sĩ cùng chia sẻ mối đồng cảm về tính thẩm mỹ trong âm nhạc và nghệ thuật. Hai chàng nghệ sĩ cùng “kể chuyện mình” bằng những giai điệu lâng lâng như ướp chút men say của tình yêu, và bằng những lời nhạc đẹp như lời thơ.

Ở Tuấn Khanh là:

Chiều nay buồn tôi đi tìm ý… (Mộng Đêm Xuân)

Ở Tô Vũ là:

Ta đi tìm thơ muôn phương… (Tạ Từ)

Ở Tuấn Khanh là:

Đồi núi chiều nay mây vương ngợp trời… (Buồn Đêm Vắng)

Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

Ở Tô Vũ là:

Ta ước mơ một chiều thêu nắng

em đến chơi quên niềm cay đắng

và quên đường về… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

(“Chiều thêu nắng”, trước Tô Vũ, tôi chưa hề nghe nhà thơ nào nói như thế. Chỉ có những “chiều vương nắng”, “chiều buông nắng”..., hoặc “đất thêu nắng” trong câu thơ Huy Cận.

“Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng

Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu” / Đi Giữa Đường Thơm)

Ở Tô Vũ là kỷ niệm êm đềm về một đôi mắt, một tà áo:

Em đến thăm anh người em gái,

tà áo hương nồng

mắt huyền trìu mến

sưởi ấm lòng anh… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

Ở Tuấn Khanh cũng có một đôi mắt như thế:

Vầng trăng thu soi mắt em long lanh… (Dưới Giàn Hoa Cũ)

Tại mình còn yêu, tại mình còn thương đôi mắt lạ thường… (Nhạt Nhòa)

Và một tà áo như thế:

Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo… (Từ Đó Khôn Nguôi)

Ở Tô Vũ cũng có một người “bồi hồi” đứng nhìn theo như thế:

Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)

Trong câu hát của Tuấn Khanh có chữ “dâng” thật là đẹp:

Nay qua đau thương yên bình rồi

tình ta lên hương ngát

như hương hoa soan dâng bên thềm… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)

Trong câu hát của Tô Vũ cũng có chữ “dâng” thật là đẹp:

Rồi đây khi mùa dứt chiến chinh,

gió dâng khúc đàn thanh bình

ta đi tìm thơ muôn phương… (Tạ Từ)

Cả hai chàng nhạc sĩ đều là “người kể chuyện mình”. Ở Tuấn Khanh là:

Có một lần tôi về qua nơi đó

Tiếng chuông chùa ngân báo tin đêm về… (Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)

Ở Tô Vũ là:

Em đến thăm anh một chiều mưa,

mưa dầm dề đường trơn ướt tiêu điều… (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa)







Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe những thoáng rung động nhẹ nhàng, những xao xuyến, bâng khuâng về một câu chuyện kể, về một bóng hình nào đã đi qua đời mình, để lại những dấu ấn khó phai. Nghe nhạc Tuấn Khanh là lần theo những lối mòn kỷ niệm, là tìm về những phút giây êm đềm, có khi là cuộc hạnh ngộ kỳ thú, có khi chỉ là cuộc gặp gỡ tình cờ trong một chuyến đi, một đêm nào “nghỉ đỡ chân”.

Cơm sắn canh rau

bên hàng cau xanh ba mái đầu

Mẹ thầm nói câu

“Chiều nay có con ta thấy vui,

ngày mai đơn người quá”… (Đêm Này Nghỉ Đỡ Chân)

Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta gặp lại những mùa thu “mây tím xây thành”, những buổi chiều vàng “khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi”, và cả những lời hẹn thề dưới bầu trời lấp lánh sao đêm.

Rồi mai anh đưa em về nơi vui ấm êm

trăng soi đầy thềm

Nhìn nhau khẽ nói câu

“Thời gian trôi qua mau

không phai lạt đâu” (Một Chiều Đông)

Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta nghe lại những nét nhạc lâng lâng “tiền chiến”, những mối tình như gió thoảng, những nhớ nhung và mộng mơ, những khung trời đầy trăng và sao.

Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm

vầng trăng thu soi mắt em long lanh… (Dưới Giàn Hoa Cũ)

Nghe nhạc Tuấn Khanh, ta còn nghe thấy những cuộc chia tay buồn bã, ngậm ngùi, nghe thấy những hối tiếc vì những lời chưa kịp nói hay chưa nói hết, và không làm sao trút cho cạn, dốc cho vơi những nỗi niềm.

Lúc gặp em lòng định nói rồi lại thôi… (Từ Đó Khôn Nguôi)



Sao khi chia ly hôn em một lần vội vã…

Đêm em xa anh em chưa kịp nói… (Nỗi Niềm)



Đêm chia ly nghẹn ngào sao chẳng nói

chỉ nghe tim nức nở trở về thôi (Chiếc Lá Cuối Cùng)

Những cuộc chia tay nhạt nhòa nước mắt. Những giọt lệ long lanh như là “từng hạt sương khuya hoen đôi mắt biếc”, và lặng thầm như những giọt sương đêm chảy ràn rụa trên những ô kính ngoài khung cửa nhỏ.

Đôi môi run run lệ tuôn khóe mắt

Ngỡ đã xa nhau nên khóc một lần từ giã… (Nỗi Niềm)



Từ biệt người yêu muốn nói thật nhiều

muốn khóc một chiều sao cứ ngại ngùng…

Lệ bỗng rưng rưng

Tình nỡ quay lưng trong chiều hấp hối… (Nhạt Nhòa)

Thật may một điều là, những câu chuyện tình của ông sau cùng vẫn có một kết thúc tròn đầy, vẫn có những phút giây trùng phùng như người lính trở về sau chiến tranh, để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc “mộng đêm xuân”.

Nay qua đau thương yên bình rồi

tình ta lên hương ngát… (Hoa Soan Bên Thềm Cũ)



Ngày nào trăng khuyết nay lại tròn tươi nét môi

ai ngờ chiều nay chúng mình đẹp đôi… (Chúng Mình Đẹp Đôi)



Giờ thì đôi tay đan tay quấn quýt

xin cho đêm đêm tình đầy mộng say… (Nỗi Niềm)



Chiếc vĩ cầm không có tuổi



“Những bài nào được anh yêu thích nhất trong số các nhạc phẩm của Tuấn Khanh?” tôi nhớ đã hỏi ông câu ấy. Thường thì với câu hỏi như thế, các nhạc sĩ ít khi trả lời thẳng hoặc chỉ trả lời xuôi theo… ý thích của số đông người yêu nhạc mình. Tuấn Khanh thì khác, sau vài giây nghĩ ngợi, ông nhắc đến hai bài “Mộng đêm xuân” và “Một chiều đông”, và nói ông yêu nét lãng mạn, thi vị trong những bài ấy. “‘Hoa soan bên thềm cũ’ và ‘Chiếc lá cuối cùng’,” ông nói, “là hai bài hát của kỷ niệm”. “Kỷ niệm khó quên?” tôi hỏi. Ông lắc đầu, “Không phải ‘khó quên’, mà… chẳng bao giờ quên được.”

Quay sang tôi, ông hỏi tôi… thích bài nào của Tuấn Khanh. “Dưới giàn hoa cũ,” tôi nói, không chút do dự. Ông hỏi vì sao, tôi trả lời, “Bài nhạc ấy nghe… ‘Tuấn Khanh’ hơn cả.” Những câu hát đẹp như thơ ấy, những nét nhạc lâng lâng ấy, đã gieo vào lòng tôi những tình cảm thật xao xuyến, thật êm đềm. Hơn thế nữa, câu chuyện trong bài hát ấy có một kết thúc thật đẹp, thật “happy ending”, nghĩa là rất… “Tuấn Khanh”. (Một lý do khác có chút riêng tư, người tôi yêu ngày xưa đã… yêu bài hát ấy, đã yêu câu hát ấy, “Những chiều buồn mây tím xây thành…”). “Dưới giàn hoa cũ”, bài hát đã đưa tôi lại gần với dòng nhạc Tuấn Khanh. Nét nhạc lâng lâng ấy, giai điệu thật là đẹp ấy chỉ có ở Tuấn Khanh, không lẫn vào đâu được. (Tôi nhớ, lần đầu nghe “Nỗi niềm” qua giọng Ngọc Minh, người bạn hỏi, “Nghe được chứ?” Tôi nói, “Rằng hay thì có hay, nhưng mà nghe có vẻ…‘Tuấn Khanh’ quá.” “Thì Tuấn Khanh chứ còn ai nữa!” người bạn nói. Tôi có hơi bất ngờ, vì không nghĩ ông vẫn còn… viết nhạc). Tôi cũng yêu “Đêm này nghỉ đỡ chân”, yêu chút hạnh phúc đơn sơ trong bài tango hiếm hoi ấy của ông. Ai cũng từng có một “đêm này nghỉ đỡ chân” như thế, ai cũng từng có những thoáng hạnh phúc thật đơn sơ như thế, ai cũng từng có chút vấn vương về một bóng hình nào đó đã tạt ngang qua đời mình.

Nói như thế cũng để thấy rằng, mỗi người có thể yêu thích những bài nhạc khác nhau của Tuấn Khanh, mỗi người đều tìm thấy một bài nào mình yêu thích, hay giữ trong lòng mình kỷ niệm nào về một bài hát nào của Tuấn Khanh.

Như các bài nhạc làm nên tên tuổi một nhạc sĩ, một ca sĩ, mỗi bài nhạc của Tuấn Khanh cũng phù hợp hoặc gắn liền với giọng hát nào đó. “Hoa soan bên thềm cũ” nghe được vào “thuở ban đầu” qua hai tiếng hát quấn quýt Thái Thanh và Thái Hằng (hát duo) của Ban hợp ca Thăng Long, để từ đó trở nên một trong những ca khúc phổ biến nhất, được yêu cầu nhiều nhất trên các làn sóng đài phát thanh, các chương trình đại nhạc hội, các phòng trà ca nhạc. “Dưới giàn hoa cũ” và “Chiếc lá cuối cùng” được giọng hát… đầu tiên là Thái Thanh gửi đến giới yêu nhạc (Sĩ Phú và Lệ Thu được xem là hai giọng hát gắn liền với “Chiếc lá cuối cùng” về sau này). “Một chiều đông” được yêu thích qua các giọng hát Sĩ Phú, Duy Trác, Mai Hương. “Mộng đêm xuân” được yêu thích với giọng Duy Trác và Sĩ Phú. “Gọi buồn” với giọng Sĩ Phú. “Chiều biên khu” với giọng Lệ Thanh, Thái Thanh, Nhật Trường. “Quán nửa khuya” với giọng Thanh Thúy, Duy Khánh. “Từ đó khôn nguôi” với giọng Quỳnh Giao. “Những lời ru cuối” với giọng Hoàng Oanh, Quỳnh Giao. “Chúng mình đẹp đôi” với giọng Nhật Trường…

Có thể nói được rằng không có ca sĩ tên tuổi nào của miền Nam ngày trước mà không từng hát bài nào đó của Tuấn Khanh.

Tất nhiên, ca sĩ đầu tiên thể hiện mọi ca khúc của Tuấn Khanh vẫn là… Trần Ngọc (một tên gọi khác của nhạc sĩ Tuấn Khanh). Ít ai biết tác giả “Hoa soan bên thềm cũ” từng chiếm giải “thủ khoa” trong cuộc thi “tuyển lựa ca sĩ” của đài phát thanh Hà Nội năm 1953. “Thí sinh” Trần Ngọc, 21 tuổi vào thuở ấy, hát bài “Đôi chim giang hồ” của Ngọc Bích, và “thí sinh” Thanh Hằng, người đoạt giải nhì, hát bài “Đêm xuân” của Phạm Duy. (“Thí sinh” đoạt giải nhất trong cuộc thi tổ chức năm sau, 1954, là Duy Trác). Cánh “chim giang hồ” Trần Ngọc đã bay một vòng bay quá dài trước khi quay về lại chốn cũ (Hà Nội, 2007) để có cuộc hội ngộ kỳ thú, dạt dào cảm xúc với “cố nhân” Thanh Hằng, và cùng ngồi nhắc chuyện xưa sau khi chiếc bánh xe nặng nề của thời gian đã lăn đi một vòng hơn năm mươi năm. Những người yêu nhạc cuối thập niên 50’s và thập niên 60’s hẳn còn nhớ tới ba viên “ngọc” quý của làng ca nhạc thuở ấy là Anh Ngọc, Ngọc Long và Trần Ngọc, trong đó giọng hát trầm ấm của Trần Ngọc (trong các ban nhạc tên tuổi của đài phát thanh Saigon và Quân Đội) từng cất lên các bài hát quen thuộc như “Trở về thôn cũ” (Nhị Hà), “Cánh hoa duyên kiếp” (Đoàn Chuẩn), “Mơ hoa” (Hoàng Giác), “Người về” (Phạm Duy)…. Chương trình “Nhạc chủ đề” về tiếng hát Trần Ngọc của đài phát thanh Saigon do nhà văn Đào Trường Phúc thực hiện vào giữa năm 1970 đã đánh dấu ngày tiếng hát ấy lặng lẽ rời bỏ sự nghiệp ca hát của mình. Gần đây, rất tình cờ tôi được nghe lại giọng hát “vang bóng một thời” ấy qua bài “Nợ nhau một chút giận hờn” (một trong những sáng tác của ông về sau này). Giọng hát “ngẫu hứng” nhưng vẫn nghe nhiều rung cảm, vẫn nghe phảng phất chút dư âm của một mùa kỷ niệm.

Cũng ít ai biết, sáng tác đầu tay của Tuấn Khanh là một bài phổ thơ T.T.KH, “Hai sắc hoa Ti-gôn”, cho thấy ở nơi ông, nơi chàng trai 16 tuổi ngày ấy, một tâm hồn yêu thi ca. Có thể kể ra được những bài phổ thơ của ông được yêu chuộng về sau này như “Tôi mở vòng tay” (thơ Tuệ Mai), “Những lời ru cuối” (phổ từ bài “Ru” của Nguyễn Đình Toàn)…, và gần đây nhất, “Chọn màu áo” (thơ Nhất Tuấn), “Chiều thứ Bảy xa rồi” (thơ Hồng Vũ Lan Nhi) và “Nợ nhau một chút giận hờn” (thơ Phạm Quang Vịnh). Cũng ít ai biết, ông còn viết lời cho nhạc phim nữa. “Lá thu” (nhạc Đức Hưng, lời Tuấn Khanh), sau đổi tên thành “Mưa lạnh hoàng hôn”, là bài nhạc chính trong phim Mưa Lạnh Hoàng Hôn (1961) của đạo diễn Nguyễn Long (vừa là diễn viên chính, diễn chung với Mai Ly). Bài hát được ca sĩ Mai Trường trình bày lần đầu và khá phổ biến với giọng hát Duy Trác về sau này.

Điều ít ai ngờ được, vào đúng năm 70 tuổi, chỉ trong vòng một năm thôi (1983), ông đã đặt lời cho một trăm bài thánh ca, và phổ đến hơn năm mươi bài thiền ca. Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy, vào buổi hoàng hôn của đời người, đã chảy xuôi về dòng nhạc tâm linh? Điều gì khiến nguồn nhạc hứng trong con người nghệ sĩ ấy đến nay vẫn dào dạt, vẫn còn sung mãn đến như thế? Chuyện thật nhưng lại như nhuốm một vẻ gì huyền nhiệm, khiến ngay đến chính ông cũng không sao giải thích được.

Có lẽ vẫn còn quá sớm để nói được bài nhạc… cuối cùng của Tuấn Khanh là bài nào. Người ta khó mà biết được, hay chỉ biết được rằng, đấy là bài nhạc mà ông… chưa hề viết ra.



* * *



Trước năm 1975 chúng ta có “Hoa soan bên thềm cũ”, có “Chiếc lá cuối cùng”, có “Dưới giàn hoa cũ”, có “Mộng đêm xuân”, có “Một chiều đông”… của Tuấn Khanh. Sau năm 1975 chúng ta có “Nỗi niềm”, có “Nhạt nhòa”, có “Từ đó khôn nguôi”, có “Tháng Chín dòng sông”, có “Nợ nhau một chút giận hờn”… Nguồn nhạc hứng trong tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa hề vơi cạn. Trái tim chàng nghệ sĩ ấy vẫn chưa có lúc nào “già”, và vẫn như những phím đàn nhạy cảm, chỉ cần chạm nhẹ đến là đã rung lên những nốt nhạc thảng thốt. Có như thế hôm nay chúng ta mới có những “Nỗi niềm”, “Nhạt nhòa”… và mới nghe lòng rung động vì những khúc nhạc êm đềm, ngọt ngào như thanh âm tiếng vĩ cầm réo rắt của người nhạc sĩ ấy.

Không có tuổi nào cho người viết nhạc tình, vì tình yêu làm gì có tuổi, và vì tuổi nào không là tuổi của tình yêu.

“Chiếc vĩ cầm không có tuổi”, Tuấn Khanh, tôi muốn được gọi ông như thế. Chiếc vĩ cầm, nhạc cụ được ông yêu thích nhất, đã dẫn ông bước vào thế giới kỳ diệu và mê hoặc của âm thanh, dẫn ông bước vào cuộc hành trình âm nhạc dài đến hơn sáu mươi năm, kể từ bài học về âm nhạc đầu tiên ông học được từ người anh cả ở Hà Nội.

Tuấn Khanh, ông đã viết nên những khúc nhạc tình ấy bằng những rung cảm thực sự của trái tim mình. Không yêu, không từng trải qua những hạnh phúc và khổ đau vì tình yêu thì không thể nào viết được những khúc nhạc, những câu hát cảm xúc tràn bờ đến như thế.

Hạnh phúc trong nhạc Tuấn Khanh thật đơn sơ và êm đềm như một giấc mơ thanh bình, có “trăng soi đầy thềm”, có “giàn hoa tím xưa chưa phai”.

Tình yêu trong nhạc Tuấn Khanh thật dịu êm và phảng phất tựa hồ như “hương hoa soan dâng bên thềm, nhẹ nhàng nhưng ngất say”.

Xao xuyến và bâng khuâng, dịu dàng mà tha thiết, nhẹ nhàng và lâng lâng như nhắp chút men say của tình yêu, như gối đầu lên những giấc mơ yên bình. Nét nhạc Tuấn Khanh là thế, tâm hồn Tuấn Khanh là vậy.

Con người nghệ sĩ tài hoa ấy vẫn còn dạo lên những khúc nhạc êm đềm bằng thanh âm réo rắt, du dương từ chiếc vĩ cầm yêu quý của chàng để “đem nhạc tình ghi tràn đầy cung điệu buồn”. (*)



lê hữu



(*) Thúy Đã Đi Rồi, nhạc Y Vân



Source : www.hopluu.net.

Hoàng Cầm (1922-2010)- Một Vị Thuốc Ðắng, Một Vị Thơ....

Hoàng Cầm (1922-2010)- Một Vị Thuốc Ðắng, Một Vị Thơ....

NAM DAO
Ngày 10 tháng 5-2010

Trong giòng thơ Việt Nam ở thiên niên kỷ 20, thơ Hoàng Cầm là những giọt nước trong veo nhưng mặn chát vị đắng, vị của thuốc mang tên Hoàng Cầm. Gặp anh đầu thập niên 80 kỷ trước, liên hệ trân quí này hẳn đã ảnh hưởng đến nghiệp viết của tôi, và hàng năm, cứ dịp Tết tôi lại điện thoại thăm hỏi chúc tụng anh. Mỗi lần, anh lặp đi lặp lại ‘’ cố về, để anh em còn gặp nhau…’’. Tết năm nay, đứa cháu anh trả lời : ‘’ ông cháu nay chẳng còn nhớ gì nữa rồi! ‘’ Cho nên, tuy tin anh về một cõi khác không đột ngột, nhưng sao vẫn rất đỗi đau lòng. Thơ Việt Nam lại vắng thêm một cái bóng khổng lồ, bóng anh.
Xin chép dăm câu thơ anh làm trên gường bệnh gửi tôi :


Thì em cứ đi
đã quá vòng định mệnh
Sao còn loanh quanh bên số phận của rừng
Tưởng đã đến một tầng sâu giun bướm
Hóa ra còn con dế vẫn dưng dưng

Và, thay nén nhang thắp lên tiễn biệt anh, tôi xin đưa lên trang mạng này bài tôi viết về anh, thấm thoát thế mà đã quá mười năm.

MỘT VỊ THUỐC ÐẮNG, MỘT VỊ THƠ....

1
Thế đấy. Anh chép miệng cười. Nụ cười rất tươi, rực lên cùng ánh mắt. Anh bảo : «...nó vận vào người», lại rót rượu.
Ðó là một loại rượu ngâm với mơ, màu vàng óng, vị hơi ngọt, uống khá đầm. «Rượu làng Vân, ngâm mơ thế này là đã cả năm rồi», anh lại cười, tay với điếu cày. Tiếng nước reo sòng sọc. Mùi thuốc lào hăng hắc xông lên. Anh ngả đầu ra sau, mắt lim dim. Tôi ngắm anh. Những nét hào hoa nay hằn xuống, nhưng vẫn là những nét hào hoa.
Anh quả là một người hào hoa.
Chị đi đâu về. Tôi đứng dậy. Chị bảo «...à, chú đấy à !». Rồi chị ra ngồi, tay rót nước. Tôi nhìn chị. Chị quả là một người đàn bà đẹp. So với người Hà Nội những năm đó, chị đỏm dáng. Có lẽ chị biết là mình đẹp.
Tôi đưa ly rượu lên môi, bâng khuâng nhớ người con gái trùng tên chị đã hẹn tôi rồi không đến một năm xưa. Tôi nhìn anh, vẩn vơ hồi tưởng lần đầu đến quán rượu này. Tai tôi lại văng vẳng tiếng cười ròn rã của họa sĩ Hoàng lập Ngôn «... muốn thì đi với tớ, không đi lại chê Hà Nội không có !» Ngồi trên chiếc ghế đẩu chông chênh chỉ chực đổ soài ra, tôi nghe tiếng ngâm thơ. Anh ngâm một cách ngâm lạ lùng. Ngâm như than, như khóc, như rên rỉ, như van vỉ. Như hát chầu văn. Như rủ người nghe nhập đồng.
Quái lạ. Lời thơ lại vượt khỏi tầm trí tuệ. Nó lơ lửng ở chốn nửa nhân gian nửa thần thánh. Nó chém xuống tâm linh, để lại vết cắt, thứ vết cắt hằn sâu xuống ở lớp thứ tám. Vâng, hiểu thì chỉ cần lớp một cho đến lớp ba, bốn. Sau đến lớp năm, lớp bảy là cảm. Khi đó chữ nghĩa hết là chữ nghĩa. Nó thành những tác động tâm - sinh lý. Nhịp tim không còn đều đặn đẩy máu đi như làm thứ nghiệp vụ buồn tẻ trong một cơ thể bình thường. Nhịp thở không còn đều đặn như khi người ta ngủ say đến mất hết khả năng tiếp nhận bất cứ gì. Còn lớp tám ? Tôi phải nói thế nào ? Tôi biết như kẻ có lòng tin vào Thượng Ðế, nhưng làm sao nói đây ?
Tôi lẩm nhẩm «... Ta soi. Chỉ còn ta đạp lùi tinh tú. Ngủ say rồi đôi cá đòng đong». Ở tầng thứ tám, một bàn chân người nhỏ bé đạp vào không gian mênh mang bí ẩn đẩy lùi lại những vì sao long lanh trên dải ngân hà trong suốt. Cúi xuống, cũng ở tầng thứ tám đó, con người nhỏ bé soi mình trong lạch nước, và an bình thay, đôi cá đòng đong còn nhỏ bé hơn nữa đã ngủ say rồi. Từ vô cùng lớn, chỉ vài chữ là đến li ti nhỏ. Ở giữa, con người kia cô đơn làm cái ảo tác đạp lùi tinh tú. Hình ảnh đó còn bi tráng hơn huyền thoại Sisyphe lăn đá lên cao. Hòn đá tới đỉnh lại lăn xuống như một thứ định nghiệp vô căn do, lăn xuống để rồi lại phải đẩy lên, theo cách diễn tả sự phi lý kiếp người của Camus. Lăn đá là hình phạt của Zeus, thứ thần linh hóa ra đại bàng đi đánh cắp một cô con gái nhưng bị Sisyphe - kẻ được bàn dân coi như một vì vua mong xây dựng một vương quốc có văn minh - nhận diện và tố cáo. Văn minh nằm ép dưới quyền lực. Còn luân lý, luân lý đã nhiều lần chùn bước trước sức mạnh trong lịch sử nhân loại.
Hình ảnh lăn đá của Sisyphe khắc nghiệt hơn đôi cá đòng đong ngủ say. Con người cô đơn nổi loạn đạp lùi tinh tú, nhưng hiểu ra sự bất lực của ảo tác đó nên vội quay về tìm an nhiên bằng giấc ngủ của đòng đong. May thay, đòng đong vẫn có đôi. Ðó là một cách an ủi. Dĩ nhiên kém triệt để, nhưng bao dung hơn. Phải chăng Ðông khác Tây là vậy ? Nhưng thế thì sao «nó vận vào người» được nhỉ ?
2
Buổi sáng hôm ấy lành lạnh gió. Hai mươi năm sau, cứ mỗi lần gió như thế, tôi lại nhớ, lại mang mấy tấm ảnh cũ ra nhìn. Ảnh có cụ Sìn, có Văn Cao, có Thái bá Vân, những người đã khuất. Có anh. Có Duy. Có tôi. Những người vẫn còn. Có chị Băng, dĩ nhiên. Còn có T và L, hai cô gái nuôi của cụ Sìn, một họa sĩ đầu đàn của Hà Nội vào những năm ba mươi. T kéo violon cho dàn nhạc giao hưởng. Duy làm bài thơ khá đẹp về bàn tay và chiếc vĩ cầm. Còn L, cô dạy học ở Hải Phòng, nhưng nay đã lưu lạc đâu đâu bên Hòa Lan rồi. Duy đèo tôi bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng cứ dăm trăm thước lại tuột xích. Chúng tôi đi dọc đại lộ Lê Duẩn về hướng Nghi Tàm. Tôi bảo «Chẳng biết các ông ấy gặp nhau thì thế nào nhỉ ?». Khi mời anh, Duy chỉ nói «...anh lên xem bức tranh cụ Sìn vẽ anh năm tiếp thu thủ đô !». Khi mời Văn Cao, tôi chỉ nói «...cụ Sìn nhắn anh lên, lại khà khà bảo không có anh thì thôi không đình đám nữa. Cụ yếu lắm rồi...». Chúng tôi đều biết là từ cái thuở Nhân Văn gần ba mươi năm xa lơ xa lắc, anh và Văn Cao không gặp nhau nữa. Lý do ? Tôi kêu lên «...miễn bàn !». Cả nước hòa hợp hòa giải. Văn hóa thì thế. Một dúm tác phẩm. Dăm ba ông đứng đầu, ông nọ tránh không nhìn mặt ông kia. Con cháu sau này trông vào thì sẽ nghĩ gì ? Thái bá Vân gật gù, nhỏ nhẻ «Cho tôi đi với !» rồi hồn nhiên tiếp «...cũng đến lúc các ông ấy nên gặp nhau rồi !»
Tôi không hề hỏi đến lúc là đến lúc nào. Tôi cũng vô tâm, chẳng thắc mắc thế nào là nên , thế nào là không nên . Bữa ăn nhà cụ Sìn khá vui vẻ. T và L chạy lên chạy xuống. Cụ bà đi vào đi ra. Tôi vui trong bụng, chỉ cảm thấy một thoáng sượng sùng khi hai anh bắt tay nhau, để ý các anh tránh nói với nhau, nhưng cả hai đều góp chuyện. Văn Cao thích làm dáng, đôi khi hơi gượng trong dăm ba hoạt cảnh đầy tính kịch. Còn anh, anh hồn nhiên. Cụ Sìn mang bức tranh cũ ra. Bức tranh không có khung, vải bố nhem nhuốc, nhưng anh, anh cười trong bộ quân phục màu vàng, đọâi mũ có đính sao. Cụ Sìn lại khà khà móm mém bảo «...lính Vệ quốc đẹp thế đấy !». Anh mơ màng «...đẹp và trẻ. Có lẽ đẹp vì trẻ...», mắt nhìn T và L đang cúi xuống thẹn thùng. Quả thế. Tôi cũng nhìn. Cô giáo ở Hải Phòng đằm thắm hơn. Cô nhìn lại rồi chạy vụt đi. Cô nhạc sĩ vĩ cầm dáng dấp có nét bốc lửa, nhưng mắt lại mơ màng chút u uẩn than tro. Cô làm vẻ thản nhiên, nhìn về phía sân, nơi nước ao đã tràn lên mấp mé ven bờ.
Buổi trưa hôm đó qua đi, rất nhẹ, không khác cơn gió lành lạnh chớm đông. Cõi nhân duyên chập chờn oái oăm. Hai anh lại chia chung cái chiếu rượu này. Và chia với chúng tôi. Mỗi kẻ một vẻ đời. Làm lính. Làm thơ. Kéo đàn. Dạy học. Ðến từ một bờ Ðại Dương xa lắc bên kia. Lên từ Cảng, quê hương của người tài tình thõng một câu thơ nhập « Sinh ra tôi đã có Hải Phòng...» cho bản trường ca Những người trên cửa biển dính dấp đến vụ quyền lực hãm và hiếp văn học vào năm 1956. Ðè xuống rồi nằm lên dăm ba tờ báo để che bớt đi cái ê chề có tên là cải cách ruộng đất, quyền lực thở phì phò, xong việc kéo quần lên, tay chùi mép dính nước bọt phán lửng một lời «...có phải con gái nhà lành đâu, quí báu đéo gì !». Chữ đéo không thừa. Nó vạch ra tính chất của hệ tương quan giữa chính trị và văn hóa. Con gái nhà lành thì dĩ nhiên không phải là con gái tạch tạch sè thành thị. Họ dẫu còn trinh nhưng điều đó không thể bảo đảm rằng họ thuộc thành phần cốt cán của dân tộc. Nước ta vốn là một nước nông nghiệp và sẽ còn lâu vẫn là một nước có rất nhiều nông nô. Nhưng chuyện đã xưa rồi. Bây giờ khác, người cày có ruộng và công bằng ra thì người viết có giấy có bút để góp phần xây dựng một xã hội tươi đẹp. Có lẽ chính vì vậy là đã đến lúc các ông ấy nên gặp nhau ? Tôi ngây thơ nghĩ thế. Còn anh, hồn nhiên như anh, chắc anh cũng nghĩ thế. Cụ Sìn, cụ chỉ cười khà khà. Cụ không nhầm, mặc dù tuổi đã cao.
Tối ăn cơm, không biết là chân ai khều nhè nhẹ vào chân tôi. Hẳn vô tình. Giá mà cố ý nhỉ. Ai biết được, lại chuyện nhân duyên. Ðêm hôm đó, tôi ngủ lại nhà cụ Sìn với Duy. Hai đưa lau sàn xi măng đã lên dầu mồ hôi sáng bóng rồi mắc màn. T và L cũng thế, hai cô nằm chiếu bên cạnh.
Tiếng ễnh ương bờ ao. Vẫn gió. Gió xào xạc. Ngọn đèn hoa kỳ vặn xuống li ti sáng một màu xanh biếc. Tiếng cụ Sìn ho. Tiếng đập muỗi. Tiếng thở dài nhè nhẹ chiếu bên. Duy bắt đầu ngáy. Tôi thiếp dần đi trong mùi đàn bà bay thoang thoảng. Tôi mơ bay lên thật cao, cao đến độ trái đất ở dưới chỉ còn là một hòn bi ve óng ánh màu hy vọng một hạnh phúc trong tầm với của cả dân tộc tôi. Thú thật, tôi đã là một kẻ có niềm tin như vậy. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn cố gắng tin và còn hy vọng nên mới viết được những giòng chữ này, dẫu rằng đôi khi bóng tối có lúc đã bao trùm cả đời tôi lẫn đời những người tôi yêu.
Hình như ai thò tay sang nắm lấy tay tôi. Tôi để yên, lòng ngậm ngùi, vờ ngủ. Cho đến nay tôi vẫn chưa biết bàn tay đó là tay L hay tay T. Tôi chỉ biết tờ mờ sáng L đã đi ra bến xe về Hải Phòng. Và sau đó tôi rồi cũng phải bay sang bờ Ðại Dương bên kia. Nỗi ngậm ngùi sau này đọng lại được đúng hai câu : Em đi rón rén trời chưa sáng. Bước động ao bèo bỗng hóa sông.
3
Thuở đó anh biết tôi yêu thơ. Thật ra, tôi yêu tất cả những cái đẹp. Và yêu, dĩ nhiên là mù quáng. Là như bị thôi miên. Là buông hết, và thả luôn đời mình vào cái mình yêu, hệt như những kẻ tử vì đạo. Cái đẹp, gộp luôn cả chân - thiện, trở thành tất yếu cho sự tồn sinh, và mặc dầu tôi là người ngoại đạo, thỉnh thoảng lại mập mờ mang hình tượng Ðức Chúa đóng đinh trên thánh giá cứu rỗi, sườn loang lổ máu một vết dao đâm vì lòng tham tàn cộng thêm sự ngu muội.
Tôi đến chơi với anh như đến với cái đẹp. Người ta chặc lưỡi «...giao du phải cẩn thận.» Tôi bảo «Nếu phải xin phép thì cho tôi một cái danh sách, những ai là người không nên giao du !». Người ta trừng mắt. Tôi quay lưng đi. Người ta cho là tôi thách thức quyền lực. Tôi thì không. Vì tôi nghĩ, rất ngây thơ, là đã «đến lúc» vì bây giờ chỉ có ta, và ta phải «cùng nhau» góp tay vào xây lại một mảnh đất đã quá đọa đầy. Ðòi hỏi của hai từ ghép «cùng nhau» là phải xóa đi lằn ranh dĩ vãng đã chia nhau ra thành đôi, thành ba, thành năm thành bảy mảng. Những mảng băng rời trôi mỗi mảng một hướng. Nước ơi, chỉ có tình của nước mới làm tan những mảng băng chia cắt lạnh lẽo kia. Người ta lắc đầu nghi ngại. Tôi đến chơi với anh. Với Trần Dần, Lê Ðạt. Với Ðặng Ðình Hưng. Người ta nhăn mặt «Trải chiếu hoa cho mà không biết lên ngồi à ? ». Tôi giật mình. Thì ra phải chọn giữa mảnh chiếu hoa đã trải và cái đẹp ! Nhưng tôi đã thưa, cái đẹp là tất yếu cho sự tồn sinh, và tôi xin trả lại một góc chiếu vẽ hoa đỏ không hợp tạng.
Anh biết tạng tôi, cái tạng con trẻ không làm sao cho khôn ngoan thích ứng hơn được với cuộc đời. Tôi không kể cho anh cái đêm có một bàn tay đàn bà thò qua màn nắm lấy tay tôi ở chiếu bên. Anh tặng tôi một chai rượu mơ anh ngâm, dán thêm hai chữ Men Quê và Bốn câu thơ. Anh kể :
«... Tên nàng cũng là Yến. Chúng mình lên đồi, mặt đất xanh rì, nhấp nhô mềm dịu như mông như vú đàn bà. Nắng đã bắt màu vàng tươi trên mái chùa Phật Tích ngói đỏ xa xa. Ngả mình nằm xuống thảm cỏ, nàng nhìn, cái nhìn như bảo ban. Bỗng nàng chồm dậy, hai tay bíu lấy đầu mình kéo xuống, rồi áp môi hôn những nụ hôn cuồng nhiệt. Khi buông nàng ra, mình đọc «Một con bướm lửa đậu môi». Nàng nắm hai tay mình kéo ra, miệng thầm thì «Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm». Nhìn lên trời, những ráng mây xa óng ánh như sắp cháy bùng lên, mình tiếp «Ba làn mây lửa về thăm». Nàng như say sóng, ôm choàng lấy mình để giữ thăng bằng trong một cơn bão biển bất ngờ ào vào thân thể, mắt nửa khép nửa mở, tay quơ lên, miệng thở dốc. Mình lao vào nàng, vào cơ thể nàng, vào tâm hồn nàng bằng tất cả sinh lực đàn ông, cứ thế cho đến khi cùng kiệt. Nàng ngước mắt, vừa cười dịu dàng, vừa đếm «... Bốn lần chim lửa đến nằm rậm hoang».
Hai mươi năm sau, tôi vẫn nghĩ cho đến nay câu chuyện anh kể không chỉ là một câu chuyện thật. Nó có chất cốt tủy như khi anh bảo với tôi rằng nàng Thơ vốn dĩ lẳng lơ, gặp ai cũng quyến rũ, nhưng chung chạ gối chăn với nàng lại là chuyện khác... Tôi tin lời anh. Anh hồn nhiên nhận mình là người may mắn. Như vậy cái gì có thể lại «vận vào người» anh ?
4
Mẹ, Chị, rồi Vợ anh và những người đàn bà yêu anh đều là cốt đồng cho anh nhập vào tâm giới của nàng Thơ. Hiện tượng này nằm dưới tầng ý thức của chính anh. Thậm chí, nó nằm ngoài anh, và chính vì thế mà anh kể là thơ anh «... vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải là tôi nghĩ ra, mà đúng thật là những lời văng vẳng bên tai như có một giọng nữ đang hát, hay đang đọc... mà tôi xin gọi là lời của thần linh đọc cho mình chép lại được.».
Vâng, nghe đâu anh chép được nguyên bài Lá Diêu Bông. Lần cuối gặp anh năm ngoái, anh hỏi «Thơ mình được mấy bài ?». Tôi tần ngần, đếm có Về với Ta, Ðợi mùa, Cây tam cúc, Quả vườn ổi. Ðó là những bài thơ lạ, ngôn ngữ thơ biết thở, biết hát và biết im lặng. Tôi đáp «năm, sáu bài...». Anh cười «...thế là lấy của thiên hạ quá nhiều rồi !» và hồn nhiên nói tiếp «... à, em mới kể có năm thôi !». Thật ra còn bài U gì anh làm gửi cho Ðặng Ðình Hưng. Bài Ðợi mùa, ít người nhắc. Thú vị nhất là tiếng chim tu hú, thứ chim lớn hơn sáo, lông đen nhạt điểm trắng, đẻ trứng thì đẻ vào tổ sáo hay tổ chim ác là, và cuối Xuân là kêu để gọi Hè về :
Mùa chưa về
Tu hú gọi Em đi tìm Mẹ

Dãy tre xa giấu biệt giải khăn điều
Khi gậy nắng ăn mày đã quăng sau núi
Hàng tre nhà
yếm trả
Mẹ về
lều dột đón mưa đêm
Thì chị đi
mấy lối chân chim
Ðể Mẹ về bao phương bèo nổi
Riêng Em nằm trơ đợi giờ tu hú gọi


Câu bốn và năm trong đoạn này rủ người đọc thở một nhịp thở gấp gáp, tiếp đó, nhịp thở lại chậm đi, rồi nức nở nghẹn lại. Tôi xin trích thêm một đoạn :


Em bước vào đình
ôm cột bốn người ôm
Em rẽ sang chùa
lay chân hộ pháp
Sau chùa tát đêm một, chạp
Gầu giai ai vớt Chị ơi lòa lõa thân trăng
Chị lỡ xe hồng
Mẹ đi lấy chồng
Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc
Mật vàng mọng rách vỏ nâu non


Giữa câu bốn và năm trong đoạn này, thơ chuyển mạch bằng cách im lặng ( đọc ở giữa hai câu, nghĩa là không có chữ nào ). Và đây là đoạn cuối :


Có hôm Em lần xuống bếp
Cậy cháy sành vỡ toác chôn niêu
Một con mèo mướp ruỗi chân chiều
Lưỡi gió liếm gio vờn tóc rụng
Tưởng như Mẹ về
Vai áo toạc ba vá chằng tơ dứa
Tưởng như Chị về
Tơ tóc đêm xưa giờ rễ tre
Bao giờ Chị về
tóc phủ vai Em chiều hương nhu
Bao giờ Mẹ về
Buộc yếm đào phai vỗ hát ru

Khấn thầm như gặp Chị
Mắt nứa cứa tay Em
vẫy đón đầu làng
Khấn thầm
như mẹ lỡ đò ngang
Miệng hé hạt na nhòa bến vắng
Cổ tay tròn đẫn mía gie
Không
Bầu mẹ không tròn
Bưởi Chị không hoa
Ðã hết năm tu hú gọi rừng già
Ðã sang mùa
tu hú ngủ rừng xa


Hai câu cuối cùng, thơ là thơ biết hát. Trong đoạn vừa trích, thơ biết im lặng sáu lần và hát lên hai lần. Còn thở, thơ thở hắt ra ba lần, thở kiểu máu nhồi cơ tim một lần. Mời bạn tìm, xem sao.
Ðiều tôi thực sự muốn nói bằng cách nói trên : Thơ hay là Thơ có tác động sinh lý lên người đọc qua nhịp thở và nhịp tim. Chính tác động đó ảnh hưởng đến tâm lý, tạo ra cái đa dạng của thất tình : buồn, vui, bâng khuâng, bực dọc, phẫn nộ... Ðã nói đến nhịp, là nói về nhạc. Thơ hay không phải chỉ một câu hay. Thơ hay, không phải một chữ hay. Trò kén chữ cho khéo là trò kén chồng, kén để làm lễ cưới cho có pháo nổ và họ hàng hai bên cười cợt, xong lễ thì ém nhẹm đi cuộc sống lứa đôi dẫu ổn thỏa hay không ổn thỏa. Thơ hay là thơ nhìn dưới góc độ một tổng thể. Tác động câu chữ là tác động trên trí tuệ. Thêm một mức, một mức cao hơn mới tới tâm cảm, hệ quả của tác động trên nhịp thở - nhịp tim, yếu tố sinh lý gây lên thất tình. Thơ hay chính nó là Nhạc. Và thường thường, chúng ta đơn giản hóa Nhạc vào vần, vào điệu. Nhưng vần thì thật ra thừa, và điệu, rất sáo mòn, nhất là vần điệu của lục bát, tứ tuyệt hay thất ngôn ( nhưng nói thế, không phải bảo rằng Thơ hay không có thơ lục bát, tứ tuyệt hay thất ngôn ). Thơ anh ra ngoài thể loại vần điệu đó. Thơ anh mang âm vận của Từ đời Tống và những bài Phú thời Nguyên - Minh, tự do hơn, phóng khoáng hơn, nhưng là thơ Việt Nam vì mang mang tính cách Quan họ đặc biệt đất Bắc Ninh. Thơ anh có Mẹ, có Chị. Những «Bầu Mẹ không tròn, bưởi Chị không hoa». Cũng vì vậy nên thơ anh là thơ của Lỡ làng. «Chị lỡ xe hồng. Mẹ đi lấy chồng, cỗ cưới chênh vênh khoai luộc...». Sự lỡ làng chỉ đổi lại bằng khoai, «mật vàng mọng rách vỏ nâu non». Vỏ khoai có khác ai hơn là Em, tâm hồn tả tơi làm thơ khóc những lỡ làng ?
5
Năm 1982 là một năm đầy oan trái nghiệp nghiệt. Ngẫm lại, hình như những vết chém phi lý và vô nghĩa, những vết chém không làm sao tìm được căn do, đều chọn được loại nạn nhân riêng của nó. Cả anh lẫn tôi đều nằm ọp bốn năm liền nhấm nháp cái vị tanh của máu ứa ra từ những vết chém đó. Anh chịu cả phần xác lẫn phần hồn trong lao ngục. Phần tôi, tôi chịu phần hồn trong một nhà tù không cần cửa sắt chấn song.
Sau Tết năm Nhâm Tuất, tôi rời Sài Gòn sang Paris, ở nhà Tạ Trọng Hiệp vùng Gentilly. Nhà bị kẻ gian cậy cửa. Xe để dưới đường bị đánh cắp. Ngày đêm, tôi cứ phải trông chừng Hiệp đang bị đại nạn tình với T, nói đến cái chết rồi khóc, và dự trữ rất nhiều thuốc ngủ. Ðến tháng sáu, tôi lại về Hà Nội sau khi dặn dò Hiệp là chớ chết dại. Chết dại là chết vì tình, chết khôn là chết với tình. Lời dặn đó ngây ngô : làm gì có chết khôn hay chết dại. Chết là hết, thế thôi.
Lần về này, tôi gần như tuyệt vọng : thế quyền đã «co cụm» lại sau Ðại Hội IV, vẫn khăng khăng một thứ giáo điều lưỡi gỗ, ngược hẳn lại với những điều tôi đã trình bày về phương thức dùng qui luật thị trường nhằm ổn định kinh tế Việt Nam trong một đề nghị chuyên ngành với cấp cao nhất có thẩm quyền. Chống lại niềm tuyệt vọng, thấy ánh đèn là tôi lao vào, cứ như loài thiêu thân. Dễ nhất lại là lao vào tình yêu. Hay bất cứ gì đồng dạng với tình yêu. Anh cho tôi một món quà mừng cái tình yêu đó : tập thơ Về Kinh Bắc anh hì hục chép tay trên một quyển vở học trò. Tôi vào Sài Gòn trước khi bay sang Pháp. Một người bạn vào báo anh vừa bị công an giữ để điều tra. Tập thơ Về Kinh Bắc tôi trao cho những người trong nước giữ lại, không mang theo khi đi, tránh không để ai kết tội anh chuyển thơ «chống đối» ra nước ngoài. Thật ra, Về Kinh Bắc chẳng chống đối gì cả : nhà xuất bản Văn Học đã in nó năm 1994. Còn bắt anh, họ bắt vì lý do gì rồi giam cầm anh một thời gian khá dài ? Bán rượu ? Hút thuốc phiện ? «Hủ hóa» Việt Kiều ? Trên Métro từ Luxembourg đến Place Italie, tôi giở tờ Le Monde đọc. Báo loan tin anh bị tù. Hôm ấy, tôi đọc rồi nước mắt ứa ra. Cứ thế, tôi khóc. Kẻ đi qua thản nhiên hay chỉ khẽ nhăn mặt. Duy có một người da đen đến chìa cho tôi mẩu thuốc lá hút dở, và nói «Bonne chance !»
Bonne chance. Năm ấy, tôi chẳng có một thứ may mắn nào cả. Về đến chốn ngụ cư, tôi tất bật lo việc «bảo lãnh gia đình». Tôi xin giấy nhập cảnh Việt Nam. Lần này là cấm. Lý do ? Không ai cho tôi biết. Ðơn xin, không bao giờ có phép. Cấm như thế sáu năm liền. Gia đình tôi qua. Thế là đi vay, làm một quán ăn. Tất cả mười hai nhân mạng, lấy gì mà sống. Thực tế sống ở nước ngoài khác hẳn với sự mơ mộng của thành phần tương đối «dư dả» thời xưa ở Sài Gòn. Các cô em nhăn mặt, qua đây mà phải đi hầu người ta trong quán ăn thì thà ở Việt Nam còn hơn. Vài năm sau, các cô ấy đều ăn nên làm ra với dịch vụ quán ăn. Nhưng lúc đó, các cô em tôi thì thào cho tôi nghe thấy «...qua đây bị tư bản bóc lột lao động ...» và gọi tôi là ông giám đốc. Giám đốc đấy, nhưng lắm bữa trưa, tôi không có tiền ăn đến độ phải nhịn đói. Rồi sau đó, tôi phải ra tòa vì đã ký giấy bảo lãnh mà không cung ứng tiền chi tiêu cho đủ. Người trưởng thượng đâm đơn kiện lại là người ruột thịt: «Anh mang gia đình qua là cứu (sic) cả gia đình. Nhưng tôi, tôi bây giờ phải bảo vệ (sic) nó». Bảo vệ thế nào ? Cô em dâu đến đề nghị cho một món tiền cỡ ba chục ngàn đô thì xí xóa giấy bảo lãnh. Cậu em thì bảo cứ đưa cho cậu ấy quản lý toàn bộ quán ăn, tôi không được can dự, nhưng dĩ nhiên nợ nần vốn liếng thì cứ vẫn tôi thôi (!). A, thì ra thế! Tôi ở vào thế kẹt. Kẹt đủ điều: tôi không thời gian vì còn nghiệp vụ chuyên môn, chẳng một ai để tin tưởng phó thác, đầu óc căng cứng khủng hoảng. Kẹt cho nên phải chẹt. Chẹt mọi mặt, mang ra tòa gây áp lực chỉ là một phương án. Nhưng ông tòa xét thấy tôi nợ đầy đầu, đến điện thoại cũng bị cúp vì không có tiền trả, nên tha cho. Ngoài ra, nghiệp vụ chuyên môn bị xao lãng vì nào là chuyện quán ăn, nào là chuyện kiện tụng tòa án, đồng nghiệp tôi «điều đình» để tôi tự ý xin thôi việc. Lại nữa, người vợ mới cưới qua Paris, kẹt lại vì lao phổi. Thế là phải gửi gấm. Rồi bạn phản. Tình phụ. Chỉ một năm, bằng ấy cái họa. Mất nhà, mất nước, mất tình, nghề nghiệp bị đe dọa. Quán ăn phải thuê người làm, bị ăn cắp hết vì không lấy ai ra để trông coi. Lại nợ. Nợ chồng nợ chất. Nhưng ghê rợn hơn hết là sự trống rỗng.
Chính sự trống rỗng đó đã đưa tôi đến cạnh cái chết lúc ấy tôi đồng hóa với giải thoát. Tôi thức hàng đêm, nhìn ra ngoài trời tuyết trắng mênh mông, đầu óc tê điếng, vô cảm, và chỉ thấy trùng trùng băng giá, không yêu không ghét không hờn không giận. Chỉ trống rỗng. Cái trống tếch trống toác của thế gian không có một chút tình người. Tôi là tên tù nhân của cái ngục trống khủng khiếp không có cửa sắt chấn song. Lẽ sống lúc đó nhẹ tênh tênh, vậy thì tự do mà làm gì. Tôi nhịn đói hàng tuần, không thấy cần ăn, uống nước lạnh thôi là đủ. Sống chết lúc đó ở ngoài tôi. Soi gương, «kìa ai đó - tôi lạnh nhạt- chớ có phải tôi đâu». Cho đến một hôm. Vâng, hôm đó người bạn gái gốc Chilê, kẻ đã dịch một đoạn thơ tôi ra tiếng Tây Ban Nha gửi đăng trong một tờ báo phe tả ở Salvador, đến nhà tôi với một bông hồng. Nhìn tôi, nàng nói «Không nhà thơ nào có thể chết được !» và cười rất tươi.
Nghe nàng nói, không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến anh. Lúc đó, anh vẫn còn nằm trong tù ngục. Anh là nhà thơ. Anh không thể chết được. Còn tôi, câu nói của Cecilia đẩy tôi ra khỏi một cuộc tuần du đầy ác mộng. Tôi phải sống.
6
Có sống mới về thăm anh được. Năm 1988, giải tỏa lệnh cấm. Dĩ nhiên, Ðại Hội VI đã Ðổi Mới Tư Duy, và thấp thoáng một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy thì những đề nghị ngày xưa của tôi đâu là tội. Tôi, con gà gáy trước khi trời sáng, chỉ là thứ gà non, gà ngoại, gà lai giống, gà vừa đạp vỡ vỏ trứng đã vội khập khiễng đi tìm rạng đông.
Tôi men ngách vào nhà anh, số 43 Lý Quốc Sư. Nhà vẫn vậy, nhưng quán rượu thì dẹp rồi. Cháu nội gọi ông, anh từ gác xép leo xuống. Anh đây. Anh gày gò, tóc bạc gần hết đầu, mắt trũng sâu, răng cửa đã khuyết một cái. Anh ngẩn ngơ nhìn. Tôi ôm lấy anh. Chúng tôi ngồi nhìn nhau. Giữa chúng tôi là bốn năm tù của anh. Tôi nói «... có điều gì khúc mắc anh cứ hỏi». Anh bảo «... giá em về trước hai năm thì anh em mình chẳng được thế này đâu». Tôi im lặng. Trong tù đầy, hỏi cung, quay quắt ra biết bao nhiêu thêu dệt thực hư. Tôi hỏi «Tập thơ anh chép cho em, anh đã lấy lại rồi chứ ?». Anh cười, cái cười đau xót. Ðó là cái lấy lại được, nhưng vừa ra khỏi tù thì anh mất ngay chị, rồi liền sau đó anh mất con gái anh, cũng tên là Yến. Nước mắt ứa ra, anh kể :
«... đêm hôm đó, anh đang chập chờn ngủ, sao lại ở đâu có một con bướm vàng bay vào lảng vảng quanh màn. Mở cửa màn, con bướm chui vào. Anh linh cảm, anh biết, anh khấn. Bướm bay rồi đậu lên bàn thờ. Anh lại khấn «Yến ơi, con ơi, con về đấy à, khổ thân con». Bướm từ bàn thờ bay xuống quấn quít bên anh như không nỡ rời dẫu âm dương cách trở».
Nắm tay anh, tôi không muốn để anh mất mát thêm bất cứ gì. Sau, tặng tôi tập thơ Men Ðá Vàng, anh viết «...để cùng nhớ những năm tháng đầy oan nghiệp nhưng cũng đầy hạnh phúc». Ðấy, cặp bài trùng oan nghiệp - hạnh phúc. Và hạnh phúc của nhà thơ lúc nào cũng là một điều thật bí ẩn. Bí ẩn như ngôi sao trên kia long lanh sáng, nhưng xa lơ xa lắc, kẻ bình thường như tôi có giơ tay lên với cũng không nắm bắt được.
Có một người Anh như anh, là một niềm hạnh phúc. Anh nghiêm mặt bảo «...cái vốn từ của cậu chưa đủ. Phải đọc đi đọc lại truyện Kiều. Rồi đọc cô tổ Xuân Hương...» Tôi cãi, chữ cho đơn giản chứ bí hiểm quá, sang quá, hay điển tích quá thì đều là «quá tải». Hôm ấy có cả Trần Dần và Lê Ðạt. Anh Ðạt khéo kết chữ cũ cho ra mới. Còn anh Dần, anh đi tìm chữ mới, đang thử nghiệm loại thơ cực ngắn, đôi khi chỉ đúng hai chữ. Anh quay hỏi «...nó nói thế, chúng mày nghĩ thế nào ?» Anh Ðạt lý giải. Còn anh Dần, anh nhìn tôi chằm chằm, buông gọn, cũng cực ngắn, «cứ làm !».
Cãi thế, nhưng tôi về tôi nghĩ. Tôi đọc đi đọc lại Truyện Kiều. Tôi đọc đi đọc lại thơ Xuân Hương. Tôi học chữ Hán để đọc cả Bắc Hành Thi Tập. Rồi tôi dịch lại hai trăm bài thơ Ðường mà khi chuyển sang tiếng Việt, những người đi trước tôi lại dùng thể lục bát. Rồi tôi dịch lại cả Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn cho sát lối Tập Cổ, tránh kiểu song thất lục bát của bà Ðiểm. Ðấy, chỉ một câu anh nó thôi mà khi hiểu ra tôi đã đổ mồ hôi như vậy. Chuyện này, tôi chỉ mới nói thoáng cho anh nghe. Nay nói lại, một cách gửi lời cảm tạ anh. Quả là vốn từ của tôi nay có hơn xưa. Song có ân ái được với nàng Thơ hay không lại là một chuyện khác.
Hợp rồi tan. Tôi lại phải ra đi. Cứ mỗi lần như thế, anh nhắn nhe «...lại anh thêm dăm phút». Lúc tôi về, anh lại đạp xe đạp theo đến khách sạn. Và khi chia tay, anh ôm tôi, anh hôn, anh khóc. Tôi nhìn theo anh trong bóng đêm. Mái tóc anh trắng bồng bềnh lồng lộng gió ven hồ Hoàn Kiếm. Bóng anh mãi cũng xa dần rồi mất tăm. Lúc ấy tôi cũng khóc.
Chúng tôi là những kẻ mau nước mắt.
7
Nhưng cũng có một thời những giọt nước mắt chảy vào trong. Và rồi một thời khóc - cười là một. Hè năm 1990, bước vào Nội Bài thì người ta đã hờm sẵn. «Xin mời ông qua bên này !». Vâng. Cuối cùng, «Ông hiểu cho. Ông không có phép nhập cảnh !». Tôi hỏi «... thị thực nhập cảnh đây. Giấy mời đây. Chắc là lầm lẫn gì đó...». «Vậy ông đợi, chúng tôi điện vào Hà Nội». Trưa hừng hực nắng. Chiếc quạt máy vừa quay vù vù, vừa lắc đầu qua lắc đầu lại. Nhìn ra sân phi trường, chiếc máy bay Air-Thai vẫn nằm lì ở đó. Một tiếng đồng hồ qua. Rồi hai tiếng. Hai vị công an cấp tá lại ra. Các vị bắt chiếc cái quạt máy lắc đầu «... Lệnh trên không cho phép. Ông thông cảm...». Tôi nói «...cứ để tôi ở khách sạn của phi trường. Hôm nay là ngày nghỉ. Ðợi đến thứ hai, ngày làm việc, tôi xin điện vào hỏi kỹ...». Lại tiếp «... vậy, ông đợi...». Một lát sau «... Lệnh trên không cho !». Chiếc máy bay Air-Thai không được phép cất cánh vẫn đó. Tôi hỏi «Lệnh trên là trên thế nào ?». Ðáp «...trên là cao lắm, chúng tôi chỉ thừa hành». Tôi cũng biết vậy, lắc đầu.
Tôi bước lên máy bay, được hai vị cấp tá xách hộ va-li đi hai bên. Cô chiêu đãi viên hàng không Thái hai tay chắp, cúi đầu reo như thông lệ «Welcome to Air -Thai !», rồi đưa lên ghim một bông lan vào áo tôi. Cô kịp nhìn ra bông lan cô gài cho tôi khi tôi sáng nay rời Bangkok bay đi Hà Nội vẫn còn đó. Cô ngại ngần, ánh mắt tối đi một thoáng, nói nhỏ «I am sorry !»
Ðến Bangkok, tôi phải đợi máy bay. Tôi quyết định ra bãi biển nằm, tránh cái hừng hực hè và mùi xăng dầu sùng sục xông vào mũi. Lúc đó, tôi thừa thời giờ để tìm nguyên do cái việc thô bạo kia ở Nội Bài. Phải, thời gian đó là chưa chẵn một năm từ khi bức tường Bá Linh xụp đổ. Và chỉ vài tháng sau những tiếng hò trên quảng trường Thiên An Môn. Rồi đám Việt Kiều ngây thơ chúng tôi lại ký Tâm Thư này nọ ( mặïc dầu riêng tôi, tôi không ký vì lý do Tâm Thư chưa đủ tính triệt để đáp ứng với thời cuộc lúc bấy giờ). Rõ ghét. Và tôi, cái con gà non ngông nghênh chưa sáng đã gáy, cho vào là lại tổ bực mình rách việc !
Vâng, tôi nghĩ là chỉ có thế. Lúc ấy, khóc - cười thành một. Tôi không còn hờn oán gì nữa, chỉ thấy tội nghiệp cho quyền lực.
Những cánh phượng vĩ vẫn đỏ rực dưới nắng vàng óng ánh mật ong. Ðỏ như phượng vĩ Hà Nội. Biển vẫn xanh và sóng vẫn rì rào. Xanh như biển Việt Nam, quê hương tôi. Và rì rào như đòi quyền sống. Tôi thanh thản nhìn trời, nhìn nước. Bấy giờ, rõ ràng quê hương đích thực chính là lương tâm. Và mảnh đất lưu đày nào cũng là những mảnh đất không tôn trọng nhân phẩm và quyền con người. Thôi, từ biệt nhé, ảo vọng về trí tuệ và lòng thành tín trong guồng quay của thế quyền. Từ biệt nhé, giấc mơ nóng vội đổi đời. Tôi viết một bức thư dài gửi cho cái trục chính của guồng quay gọi là bộ Chính Trị, khẳng định tôi tin rằng dân chủ là tất yếu, và làn gió ấy sẽ rồi thổi đến quê hương tôi như điều không khiên cưỡng được.
Ngửng mặt nhìn những cụm mây trắng thong dong, tôi biết tôi là một người có tự do. Vấn đề đặt ra : tôi làm gì với sự tự do đó. Tôi, một người may mắn, không thể vô trách nhiệm.
8
Là một người có tự do, tôi lại càng hiểu thế nào là tù ngục. Những năm anh tù tội nằêm trong trại giam lại ám ảnh tôi. Anh tội gì ? Ai có quyền cướp sống dăm ba năm một đời người ? Nhân danh ai, nhân danh gì ? Và hẳn anh rồi không có tội nên anh mới được phục hồi «hội tịch» vào năm 89 !
Phục hồi, chắc cũng trả cho tí tiền. Liệu tiền đó có đổi được những đêm dài lắng nghe muỗi vo ve, tiếng chuyện trò duy nhất với những tội nhân. Riêng anh, loại tội nhân có cái tội là chót làm nhà thơ. Và tội to hơn, thơ lại là thơ hay. Nhưng hình như có ai nói dân tộc ta toàn là những nhà thơ. Ðó là một điều đáng hãnh diện. Ðồng thời đó cũng là một điều bất hạnh trong cái cặp biện chứng oan nghiệt - hạnh phúc.
Thôi im đi, tiếng hát ngọng nghịu của thứ gió định mệnh khắc nghiệt sụp về đánh úp hạnh phúc. Thôi im đi, những lạc quan đen, những cú phất cờ hô khẩu hiệu, hoan hô và đả đảo. Hãy trả cho chúng tôi những cái tay bắt chân thành, những cốc rượu của tình bạn, những cuộc đoàn viên có tiếng cười, những phi vụ vui chơi lương thiện... Tôi bị cấm về, chỉ thỉnh thoảng nghe tin anh qua bè bạn, là ông ấy năm nọ ốm đã tưởng đi, ông ấy khỏe lại yêu, yêu PQ, yêu B.Ng, Yêu ÐÐ..., yêu vân vân và vân vân. Tôi mừng, ông ấy vẫn đó. Cho đến 1998 tôi mới lại đặt chân trở lại Hà Nội. Lần này về, về cho bè bạn. Và đi kèm có cháu Việt, con trai lớn của tôi.
Lại men cái ngách 43 Lý Quốc Sư. Ngách vẫn thế nhưng nhà anh nay khác, lên ba tầng, trước nhà vẫn còn một đống cát, xi-măng, và dăm ba chiếc xẻng. Bây giờ, không ai réo tên nhau. Phải bấm chuông. Tôi hồi hộp. Cửa mở. Anh thò đầu nhìn, mắt nhắm mắt mở. Tóc anh xù ra bạc trắng màu mây. Anh còm xuống. Răng thật rụng hết, nay chỉ có răng giả. Anh cười. Ở một cái tuổi nào đấy, cười làm sao thì cũng như hơi mếu máo. Anh ngồi xuống ghế salon bọc simili-cuir. Bàn kính. Nhà lát gạch hoa. Thế thì đâu rồi những chiếc ghế đẩu nằm soài ra trên nền đất nện ? Thế thì đâu rồi cái điếu cày, dăm chiếc đóm, chai rượu mơ và ngọn đèn hoa kỳ bâác vặn thật thấp li ti đốm cháy ? Tôi xin anh, thôi lên chỗ anh ở, chứ ngồi salon làm gì. Leo gác hai, anh đẩy cửa. Một cái giường đơn. Trên sàn, trải chiếu, khay nước nằm tênh cạnh ngọn đèn hoa kỳ. Và chiếc điếu với dăm vê thuốc lào. Rồi dăm chiếc đóm. Tôi ngồi sụp xuống đất. Tôi bắt đầu nhận ra anh. Anh cười. Bấy giờ, cái cười mới hết mếu máo.
Lần sau đến, tôi kể cho anh nghe ý định viết một vở kịch về quan họ. Lần ấy, có TK, rất duyên và cực xông xáo vui chơi. TK hẹn sẽ cùng nhau đi Bắc Ninh làm một chầu quan họ, dọa là «các em» bên đó «tình» lắm. Còn phần tổ chức «hành quân», TK la «...cứ để tôi». Về, tôi hẹn đến đưa anh đi ăn cơm trưa với Việt ngày mai. Khi bố con tôi đến thì người nhà anh bảo anh ốm lắm. Chúng tôi lại leo gác hai. Trong phòng, anh co quắp trên chiếc chiếu giải trên sàn, mình đắp chăn. Tôi cúi xuống nhìn. Mắt anh nửa khép nửa mở, trắng đục, vô hồn. Anh không nhận ra tôi.
Anh phải vào viện. Năm ngày sau, bố con tôi đến thăm anh trong nhà thương. Anh bị xưng phổi sau cái chuyến đi «trình diễn» thơ ở Thái Bình thì phải. Mỗi chuyến đi thế, cũng được thù lao một hai triệu, nghĩa là một, hai trăm đô Mỹ. Lộc thơ chỉ có thế, và phải chờ những ngày cuối năm. Chúng tôi đến thì đã có dăm ba phóng viên những tờ nhật báo của Hà Nội. Anh lại khều tôi, miệng cười rất tươi, chỉ một chị phóng viên ước độ trên dưới ba mươi, và hỏi «...trông được chứ nhỉ !». Rồi anh víu vai cháu Việt, nói bằng tiếng Pháp, «Bác về là sẽ hỏi cô ta làm vợ». Ngớ ra, Việt không hiểu nhìn tôi dò hỏi. Anh tiếp tục, rất chân thành, «Mais oui, je vais lui demander sa main... c ’est sur». Sau, con tôi cứ cười, bảo «...quả bác ấy là nhà thơ. Un poète-fou !»
Ðúng đấy Việt ạ. Có nhà thơ nào không điên ? Tôi lại nhớ lời ra tiếng vào của một người bạn, bàn «Ông ấy nỡm lắm. Già thế mà lên tivi cứ nói tình yêu này, tình yêu kia... Nghe ngượng đỏ cả mặt !». Thưa anh bạn đứng đắn, anh Cầm thế, vì anh ấy sống phút nào là chong mắt tìm một cốt đồng để nhập vào, hy vọng thêm một lần ân ái với nàng Thơ. Nỡm ư ? Nhưng ngẫm kỹ mà xem, cứ giả thử như chúng ta có tất cả nhưng không còn yêu thương được nữa, giả thử như trái đất này đánh rơi vào cái rọ đen - black hole - tất cả tình yêu và đam mê. Chúng ta có tất cả đấy, nhưng lại không còn gì ngoài cái hành trình của những người không tim trong thiên hà mênh mang kia. Anh bạn đứng đắn ơi, trong hành trình đó anh cứ đi một mình. Chúng tôi xin ở lại.
Tôi đến chào anh một lần cuối trước khi bay vào Ðà Nẵng. Lần ấy, chúng tôi tẩn mẩn đếm sổ văn hóa xem có ai và đã làm được những gì suốt ba mươi năm qua trong nền Thơ - Văn của chúng ta. Lần ấy là lần anh kêu «... thế là lấy của thiên hạ quá nhiều rồi !». Có lẽ. Huy Cận của Lửa Thiêng, trước khi làm quan thì cũng chỉ được dăm ba bài. Làm thơ, không thể làm quan. Không thể làm giàu. Làm quan làm giàu rồi, thơ chết. Nàng Thơ không ưa công đường. Không thích nhà cao cửa rộng, ngươì hầu kẻ hạ. Và nàng chúa ghét những kẻ nói khéo, nói láo, nói dai, nói ngoa, nói nhiều và nhất là loại nói-không-ai-nghe. Nàng hay ghen. Yêu, thì Nàng phải là Cứu Cánh, là vợ cả. Không bao giờ Nàng chịu làm lẽ cho phương tiện danh lợi và quyền lực. Và ân ái với Nàng, bạn chớ chơi trò chơi «kiểu». Kiểu hiện sinh, hiện thực, hiện đại hay thậm chí hậu hiện đại theo chữ nghĩa thời thượng. Trong 36 kiểu, xin hãy làm tình theo cách tự nhiên phát sinh từ bản năng mình. Với Nàng là chỉ có Thơ. Thế thôi.
Ðếm, đếm đi đếm lại. Cuốn sổ văn hóa mỏng dần. Mỏng làm cho bật máu và chảy nước mắt. Tôi thấy dẫu anh bảo anh có lấy quá nhiều của thiên hạ, anh còn phải lấy nữa. Ngoài dăm ba vì sao lấp lánh, văn hóa của chúng ta mươi năm trở lại đây lại hụt hẫng vào cái rọ đen - cái black hole - ghê rợn kia trong một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu phải hô khẩu hiệu, tôi đả đảo cả hai, chỉ hoan hô một mình nàng Thơ.
9
Bây giờ, trên đầu hai thứ tóc nên tôi rất sợ hô khẩu hiệu. Chẳng hạn loại khẩu hiệu như «... tất cả cho mai sau», hoặc «Tự do hay là chết». Bây giờ, trên đầu hai thứ tóc, tôi rất do dự khi đụng vào cái chết. Tôi linh cảm rằng sự sống quí hơn tất cả. Nó đèo bồng trên lưng tự do. Và càng tự do thì gánh nặng càng nhiều. Cái gánh nặng đó nằm trong câu hỏi là ta làm gì và sống ra sao với cái tự do đó. Cho những người theo đòi nghiên bút, làm gì là viết gì. Sống ra sao đồng nghĩa với ý thức trách nhiệm thế nào với người và với mình.
Ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, có người bạn gửi cho tôi một cục đá nhỏ. Anh viết kèm «... kể từ nay, tự do không còn là một cụm từ trong thứ ngôn ngữ chết. Con người biết tự mình cởi ra những sợi dây trói buộc, kể cả đám lính kín, công an. Chúng ta có quyền hy vọng...». Anh ta kể ra hoài bão thực hiện một bộ tiểu thuyết về bức tường mà không còn sợ hãi gì nữa. Mươi năm qua, anh vẫn chưa viết gì được. Tôi hỏi, anh đáp hai trăm trang đã viết là viết trước ngày bức tường sụp đổ. Từ đó, anh chịu. Tự do đấy, nhưng anh chỉ thêm được vài trang. Còn hai trăm trang kia, anh đã lặng lẽ viết trong nỗi lo âu. Lo và sợ. Ðến độ vợ con anh cũng không hay biết. Tôi lại hỏi, tại sao, tại sao thế. Anh buồn bã trả lời «...ngày trước, tôi viết chống một cái gì để cho một cái gì khác chưa có. Nó thật rõ ràng. Bây giờ ư ? Cái gì đó chưa có đã thành ra có, nhưng có đấy mà lại mù mờ nên tôi không còn định hướng viết cho cái gì được nữa. Có nhà xuất bản bảo tôi, hãy viết để giải trí cho công chúng người đọc thôi, vừa dễ viết, vừa dễ bán. Viết hay sẽ dịch ra tiếng Anh, có cả thị trường toàn thế giới. Tôi đã thử, nhưng rồi xấu hổ đem đốt cả đi. Tôi không muốn là một nhà văn vô trách nhiệm...».
Nhưng trách nhiệm đó là gì ? Có lẽ với anh là ca ngợi Tình Yêu chăng ? Chỉ năm ngoái tôi mới được anh cho tập thơ Về Kinh Bắc, tập cuối cùng anh giữ lại. Sách in lem nhem, bìa photocopy đen trắng trên nền xanh lơ, mặc dầu để là nhà xuất bản Văn học in năm 1994. Tôi cầm cuốn sách, lòng ngậm ngùi. Những vần thơ mượt mà nhất trong thơ Việt Nam thế kỷ hai mươi bị tình phụ trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Nhưng đó là những vần thơ tình rất đẹp. Tình yêu Kinh Bắc. Bắt đầu bằng năm đêm, trong ngũ hành. Rồi anh đi liền bảy nhịp, trong một cuộc tuần du có Mẹ, có Chị và Lỡ Làng. Lỡ làng, bến tình không người đợi. Lỡ làng, mắt mỹ nhân khép đến thiên thu. Lỡ làng, những mảng hoa bèo ao cá quẫy. Lỡ làng, xin Chị một quả ương, Chị lại dối quả ương chim khoét thủng dẫu chẳng con chim nào lại chọn quả ương. Lỡ làng, cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng... Lỡ làng, quan đốc đồng áo đen nẹp đỏ, thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi. Lỡ làng, em đứng nhìn theo em gọi đôi. Lỡ làng, đứa con anh thai nghén sau những đêm ân ái với nàng Thơ. Lỡ làng, cơn đau của con tằm rút ruột nhả tơ. Lỡ làng, là đời anh. Bởi anh biết yêu. Biết yêu là yêu đến cuồng dại, tôi viết tặng anh :
«Hờ hững buốt căm, bờ sóng lụy
cuồng si thiêu rụi bến đa tình,
Ba ngả sông về người bơi đứng
Cợt đám hoa bèo dạt đến quanh..»
Ðể kết một cuốn sách đọc lâu rồi nên tôi đã quên tên, Albert Breton - một cột sống trong phái siêu thực - viết «Je vous souhaite d’ être follement aimée.» ( Xin chúc bạn được yêu đến cuồng dại ). Ðược yêu thôi ư ? Cũng tạm. Nhưng tôi, tôi chúc anh khác, chúc anh hơn vậy nhiều. Tôi chúc anh yêu đến cuồng dại. Tôi cũng chúc tôi yêu, với chữ Yêu cùng một lúc hiểu như danh từ, trạng từ và nhất là như động từ. Vâng, yêu có bao giờ lại là tĩnh từ. Nhất quyết là phải thế chứ. Vì Yêu là trách nhiệm cứu rỗi của những con chữ có nghĩa. Những con chữ đẹp. Những con chữ có đời sống. Muốn đẻ ra chúng, thì có hề chi những cơn đau trở dạ. Thì có hề chi những lỡ làng.
Tôi nhớ đã hỏi anh Hoàng Cầm, tại sao là Hoàng Cầm, và Hoàng Cầm có nghĩa gì ? Anh cười, có chút gì như là chua xót, «Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng... Tên nó vận vào người».
Hoàng cầm còn vận vào thành một vị thơ. Vị của những vần thơ sang nhất, đẹp nhất, nhưng cũng xót xa nhất của dòng thơ Việt Nam ở thế kỷ 20. Cơn mây mưa giữa nàng Thơ và Anh đã sinh hạ ra Lỡ Làng, dấu vết cặp oan nghiệp -hạnh phúc như vết chân con rắn và trái táo cắn dở của Eva. Nhưng hề chi, có hề chi.
Viết đến dòng này, đếm ra còn đúng bốn ngày nữa là chúng ta cùng bước qua ngưỡng cửa thế kỷ 21. Tôi lại chúc, anh Cầm, chúc anh yêu đến cuồng dại cả thiên niên thứ ba này, anh nhé.

NAM DAO
27-12-1999


Source : www.hopluu.net.

TRẦM HƯƠNG- Mưa Qua Sân Thượng

Mưa Qua Sân Thượng

TRẦM HƯƠNG



Sáu tấu khúc của một tuổi hoa niên đến khi chấm dứt vẫn là đột ngột. Tôi từng tự hỏi nén được không những thứ như tình yêu, quá khứ, kỷ niệm và cả mặt đại dương đã tràn vào phố? Tôi tự trả lời là một giọt nước mắt cắt làm sáu khúc vẫn giữ nguyên những óng ánh trong suốt của tuổi thơ và niềm chua xót. Viết là một hành động thao thức. Viết thành truyện là mang trả cho đời sống những gì đời sống đem đến: sự khắc khoải của chính mình. (Trầm Hương)

Hồ nước



Căn nhà của tôi cao ốm, bốn tầng lầu đứng chen chân trong khu phố sầm uất mà sân thượng trơ trọi giữa trời với tầm nhìn quanh vun vút xa. Sân thượng im lìm tựa đám mây treo trên cao ngắm nhìn những hình ảnh bận rộn không âm thanh của nhịp đời dưới phố. Đôi khi sân thượng thở nhẹ bằng những hơi gió đứt đoạn làm nhiễu mặt nước của chiếc hồ to nằm lặng lẽ chờ những trận mưa qua.



Trong ký ức sớm nhất, tôi đã rất thích tắm mưa. Khi mưa đổ xuống gợn sóng mặt hồ, mấy chị em tôi thích thú leo vào tạt nước cho sóng cao hơn. Chúng tôi nhảy nhót trên đầu ngón chân, nước ngập khoảng vai và mưa trút trên đầu. Chúng tôi cười nghiêng ngả như những lần bị sóng Vũng Tàu đánh bật. Trong chơi vơi, tôi rơi vào vùng biển thâm sâu, nơi ánh sáng xuyên qua khó khăn mà sự sinh dưỡng vẫn không ngừng phát triển. Nền biển nhấp nháy màu sắc của vô số đàn cá rực rỡ lượn quanh những cụm lá thuôn dài. Lá không ngừng uốn mình theo dòng nước đùa vui chung với bầy cá. Tôi làm công chúa nhỏ được cha Long Vương cưng chiều, đưa đi nhặt những cánh sao rơi cất vào bảo tàng của mình. Mỗi cánh sao rơi là tặng phẩm của trời đem chút ánh sáng đến lòng biển tăm tối. Sóng xô đẩy tôi ra rồi tấp vào lại giấc mơ. Đến khi người lớn lôi chúng tôi ra khỏi hồ, đứa nào cũng đã thâm đen nhăn nhúm như quả táo tàu.



Mùi thuốc phiện len qua khe cửa của một căn phòng nhỏ ở lầu ba. Mùi thơm ngọt ngầy ngậy quyện vào không gian muốn biến những nơi mình qua thành cõi u mê. Những buổi sáng trễ học, tôi ôm cặp thấp thỏm trước cửa phòng, muốn gõ cửa, muốn nhắc bố chở đi học mà không dám. Tôi dán mắt vào khung kính mờ nhưng không lần nào tìm thấy gì hơn một ngọn lửa nhỏ leo lét. Bố rất thương tôi, khi trở ra sẽ chở tôi đi học. Mẹ kể khi tôi mới chào đời, buổi chiều mát, bố thường ẵm tôi trên tay ngồi xích lô dạo quanh phố phường. Tôi được vài ba tuổi, bố bắt đầu cho đứng phía trước xe vespa chở đi hóng gió. Sau này tôi có nhiều em, bố vẫn thương nhất đứa con gái đầu lòng. Nhưng khi bố vào căn phòng đó, dù trời sập bên ngoài, tôi cũng không được phép gõ cửa.



Bà nội cho tôi niềm tin vào cuộc sống. Những buổi sớm khi cả nhà còn yên giấc, tôi dậy theo bà hái hoa cúng Phật. Gốc hoa sứ trồng trong chậu nên không được cao, nhưng nhánh xòe ngang đến mấy thước ra vô số hoa trắng nõn nhụy vàng. Tôi đi trên cạnh hồ nước với tay bẻ nhẹ cuống hoa đặt vào chiếc rổ trong tay bà. Cánh sứ màu sữa nhã nhặn thoảng hương tinh khiết, đẹp như một điều thiện. Hai bà cháu đem hoa vào phòng thờ xếp lên những đĩa tráng men, thay đi hoa cũ. Bà thắp ba nén nhang vào chiếc lư trên mỗi bàn thờ rồi quỳ trước Phật Như Lai gõ mõ tụng kinh. Bà thuộc nằm lòng những lời kinh tiếng Phạn, dù bà không hiểu gì song vẫn đọc rất thành tâm, mong đức Phật độ cho con cháu bình an. Bà còn dạy tôi hứa ngoan ngoãn, học hành chăm chỉ và không được nói dối rồi Phật sẽ độ cho những điều tốt đẹp trong cuộc sống mai này. Tôi quỳ cạnh bà, đã quen quỳ ngay ngắn với hai tay chắp lại, khấn nguyện nhiều lần lời hứa. Tôi thấy đức Phật trên cao mỉm cười hiền lành, như ngài bằng lòng ban phát cho tôi một sự che chở bao la. Đợi bà tụng kinh xong, hai bà cháu tiếp tục sang khấn vái trước bàn thờ Quán Thế Âm, bàn thờ Quan Công rồi bàn thờ tổ tiên. Như thể bà quyết tâm xin cả đất trời trông chừng chúng tôi, cho tôi niềm tin rằng cả đất trời trông chừng mình.



Bà nội mất năm tôi mười một tuổi. Ngày ấy, nhiều cơn giông không ngừng đi qua sân thượng, nước dâng đầy hồ rồi tràn ra ngoài, trôi đi hết bảo tàng của công chúa nhỏ. Tôi cầm giải khăn sô trắng buộc lên cây sứ rồi ngồi lặng lẽ trên cạnh hồ. Mưa rơi trên cây sứ khiến hoa lá tang thương, tôi cũng không phân biệt được nữa đâu là nước mưa đâu là nước mắt của mình. Trong hồ, chiếc bóng công chúa nhỏ nhìn vô cùng ủ rũ. Chắc cô buồn vì bảo tàng đã trôi xa, mà cô lo cha Long Vương sẽ không đưa cô đi nhặt sao rơi nữa. Cô khóc nức nở không ngừng, nước mắt lênh láng làm nhòa mặt hồ và bóng cô tan mất. Tôi đoán cô sẽ không quay về, mặc tôi và cây sứ nhớ thương bà. Buổi chiều hôm ấy, bà than không khỏe bảo tôi gọi bố. Tôi đứng chần chừ mãi trước ngọn lửa leo lét, ngón tay gắng gượng gõ trên mặt kính không gây nổi mấy tiếng vang. Trả lời tôi là sự im lìm vô vọng của mùi hương ngầy ngật mê man. Trên đường mẹ đưa bà đi nhà thương, bà thấy mệt dựa vào mẹ ngủ êm đềm không dậy nữa. Mẹ nói bà có tâm nguyện về nương tựa tại chùa Hương Tự ở miền Bắc. Quê bà xa vời như trong chuyện cổ tích, nên bà cần bỏ thân xác nặng nề để linh hồn nhẹ nhàng bay về. Nơi bà muốn đi, bà sắp đến. Niềm tin bà muốn thấy trong lòng tôi ở mãi với tôi.



Căn phòng nhỏ ở lầu ba nuốt dần bố. Mẹ một mình quán xuyến việc buôn bán cùng những việc trong gia đình không còn thì giờ dạy học và kể chuyện cho chúng tôi nghe. Tôi đã biết tự đi bộ đến trường, mà tôi không ngại đi bộ, nhưng tôi nhớ những hôm hai bố con ghé qua quán ăn sáng. Bố luôn gọi hai tô phở và hai ly cà phê, một ly nhiều sữa ít cà phê. Tôi nghiện sự quan tâm của bố khi dặn dò đến mấy lần rằng một ly chỉ lấy tí cà phê, nghiện một sở thích duy nhất mà bố đã chia xẻ với mình. Tôi đã từng mong được hơn. Bố cũng vậy, cũng từng mong tham dự hơn vào đời sống của gia đình. Bố đã tự giam mình trong phòng ba ngày để cai thuốc, chịu trải qua những dằn vặt thân xác. Khi trở ra dù còn yếu mệt, bố bảo tôi đi mua mấy xe đồ chơi con về để dạy tôi luật đi đường. Những bánh xe con lăn trên mặt bàn đem về làn gió mát rượi của những buổi chiều tôi đứng trên xe vespa, cho tôi niềm hy vọng được bố tiếp tục chở đi vào những ngõ ngách mới. Nhưng tôi còn chưa hiểu luật thì ánh lửa leo lét lại soi qua tấm kính mờ, thiêu tàn rụi những ý chí cuối cùng của bố. Bị bỏ rơi, mấy chiếc xe con nằm vô tri vô giác tựa như lòng đứa trẻ không còn biết trông mong. Dù vậy, tôi vẫn tin rằng bố rất thương mình. Chỉ là cơn nghiện, giống sự khao khát một ly cà phê, thật khó từ bỏ.



Trong nắng gắt mưa giông, thân hoa sứ cùng với tôi tiếp tục trưởng thành. Gốc cây to ra nhờ những luồng nước đổ xuống từ trời hòa với đất đem dinh dưỡng thấm vào cây. Vài chiếc rễ vỏ sần sùi đủ tự bảo vệ, bật khỏi mặt đất vươn về hướng nguồn nước. Những chùm hoa đua nhau trổ rộ trong nắng. Không có bà và tôi thường xuyên hái, những cánh hoa mơn mởn đành héo úa lìa cành, xác mục rã lại thành đất nuôi cây, và sự sống luân chuyển tiếp tục như chưa từng mất mát. Tôi cũng không còn là đứa trẻ cần nhón chân lên để tránh nước ngập miệng. Mực nước hồ thấp dần xuống ngực, thân thể nhú lên dưới làn vải ướt khiến mấy chị em chúng tôi ngượng ngùng thôi dầm mưa chung. Vắng tiếng cười đùa, sân thượng ngập một nỗi buồn cô quạnh, và lòng tôi hứng giá lạnh của mưa. Giữa tầng mây xám dầy che tối bầu trời và nền xi măng xám đen là không gian mù của vùng trí tưởng. Một mình tôi buông thả thân thể nổi trôi trong thênh thang, tâm hồn mong manh như hạt nước rơi sắp vỡ trên thành hồ. Mưa không ngừng tuôn tràn, nước không ngừng rơi vỡ. Những hạt nước rào rạt trên da tôi để lại những vết kim xâm âm âm vô hình. Tôi ngắm chúng, cảm giác lạ lẫm như đang có những mầm non bé tí trồi từ da thịt mình, mọc lên và hoá thành những suy nghĩ lãng mạn nhẹ nhàng bay theo trận mưa.



Đến cuối mùa, trời gom những đám mây đen còn lại đổ hết một trận mưa sau cùng. Mưa từ rất cao, rất xa, giăng xuống tựa một tấm màn khổng lồ với nhiều lớp mỏng lung linh như kết bằng thủy tinh. Những lớp màn tung trong gió uốn lượn quanh tôi, rồi vỡ ra thành trăm nghìn viên nước đá nhỏ li ti. Những viên đá thủy tinh phản chiếu ánh sáng long lanh, khi va chạm vào nhau gây ra âm thanh rổn rảng, mà rơi xuống mặt hồ nhẹ nhàng như bụi rồi tan thành dòng nước lũ ấm như hơi thở. Dòng nước ấm áp tuôn tràn bao ngộp lấy tôi, khiến làn da tôi trở nên trong suốt như đang hòa vào nước. Nhịp mưa có khi dồn dập từng lúc, nặng nề trên nền xi măng rồi lại mềm mại khi chạm vào nước hồ, hòa với tiếng phong linh ngân của gió tạo nên một bản đàn kỳ bí.



Tiếng phong linh vẫn ngân, nhưng tôi vừa bắt đầu nghe thấy.




 

Tháng Tư



Một buổi sáng tháng Tư, nắng còn mới trên sân sỏi, những tiếng nổ ầm vang từ xa làm náo động toàn trường. Thầy giáo và chúng tôi kinh hãi chui xuống gầm bàn. Đợi một lúc không còn nghe nổ, thầy cô triệu tập các học sinh trước phòng giám thị rồi vội vã ra về. Chúng tôi đứng hoang mang không bao lâu thì phụ huynh lần lượt đến. Họ có vẻ lo lắng vì thấu rõ việc gì sắp xảy ra, nên hấp tấp. Chỉ hơn một giờ sau sân trường vắng tênh, còn lại mình tôi với một con bé cùng lớp. Con bé cao khoảng tôi, mái tóc đen mượt dài đến ngang lưng khác với mái tóc nâu ngắn của tôi. Chúng tôi nhìn quanh rồi xích lại gần nhau để giảm bớt sự trống trải. Mấy năm chung lớp, hai đứa ít khi trò chuyện nhưng lúc ấy lại có chung sự lo lắng. Chờ thêm một hồi, cô giám thị bảo chúng tôi tự về vì cô phải đóng cửa trường. Cánh cổng nặng nề đóng sập lại sau lưng khiến chúng tôi giật mình nắm chặt tay nhau. Các ngón tay của con bé giúp tôi cảm thấy bớt bơ vơ. Phố xá vắng vẻ đến lạ lùng. Sự nguy hiểm nào đó đang rình rập, có thể sau những tàng cây xao xác hoặc từ những trực thăng sẽ vụt ra từ trời cao. Khi chúng tôi thả tay, những ngón tay vô hình của con bé vẫn còn nằm yên trong lòng tay tôi và mãi mãi, dù chưa ý thức, chúng tôi đã thành đôi bạn thân. Chúng tôi về đến nhà bình yên, nhưng sự hỗn loạn trong thành phố chỉ mới bắt đầu.



Hỗn loạn lên cao ngày những bánh xe tăng khổng lồ cán trên mặt đường. Mẹ tập họp gia đình và những người giúp việc vào một phòng giữa tầng trệt, tránh pháo kích, bom đạn từ máy bay trên trời và từ ngoài đường bắn vào nhà. Mẹ đã có chuẩn bị sẵn, trữ thêm gạo và mua một số bao cát chất chung quanh phòng. Mẹ còn cột vào người mỗi đứa một bao nhỏ đựng ít tiền, lương khô và giấy ghi rõ tên tuổi cha mẹ đề phòng chạy loạn bị thất lạc, và giao mỗi đứa cho một người giúp việc. Chúng tôi ngồi bệt trên nền nhà, trong tầm che chở của những bao cát, chuẩn bị chịu đựng một tai biến khủng khiếp. Mẹ dặn dò xong, căn phòng chỉ còn tiếng máy phát thanh. Những người lớn chăm chú nghe, thỉnh thoảng một người chạy ra cửa trước nhìn qua kẻ hở xem động tịnh ngoài đường. Tôi cố gắng chú tâm đọc thầm những lời cầu nguyện bà đã dạy để xua đuổi những hình ảnh đói khát và đổ máu cứ hiện ra trước mắt. Bỗng có tiếng đập rầm rầm lên cửa khiến chúng tôi giật thót người. Bố đưa tay ra dấu cho mọi người ngồi yên, một mình bước ra phía trước và trở lại mau với sáu người lính Cộng Hòa. Họ mặc quân phục tay cầm súng ống, yêu cầu cho lên sân thượng để nhìn xuống đường cho rõ. Có lẽ họ chọn nhà tôi vì căn nhà cao nhất khu phố. Mẹ lo căn nhà sẽ biến thành một bãi chiến trường, năn nỉ họ rời khỏi với lý do nhà rất đông con nít. Những người lính ngồi trên những chiếc nón sắt úp xuống nền, băn khoăn nhìn về phía chúng tôi như không biết phải tính sao. Mỗi thời khắc trôi qua nặng nề trong lòng chúng tôi, và có lẽ, cũng không yên lành trong lòng họ. Một lúc sau, họ đứng dậy bỏ đi. Chúng tôi lại quay về với sự chờ đợi hồi hộp trong bất an, cho đến khi đài phát thanh loan tin bàn giao và bố kết luận không cần chạy nạn nữa. Tôi thấy bố mẹ chỉ ứa nước mắt được một thoáng rồi lại lo lắng bàn về những bất định sắp tới. Thỉnh thoảng hai tiếng "hòa bình" vang lên rồi lại lấp đi bằng các chữ "di cư", "quân quản"… Tôi linh cảm ngày cuối cùng của tháng Tư đã xóa đi thành phố tuổi thơ của mình và cuộc sống trước mặt sẽ đếm từng ngày một.



Bàn giao xong, hỗn loạn không chấm dứt mà tràn từ ngoài phố vào trong nhà. Trong hẻm phía sau nhà có nhiều súng đạn, lưỡi lê và một số quân phục rằn ri bị vứt bỏ. Em trai tôi lén nhặt một cây súng đem về rồi mang lên sân thượng tập bắn, khiến bố mẹ hốt hoảng, sẵn bố mẹ đang lo lắng đến mất bình tĩnh vì sợ bị tịch biên tài sản như năm 54 ở ngoài miền Bắc. Tôi biết tình trạng rất nghiêm trọng vì thấy bố không nằm lâu trong căn phòng nhỏ ở lầu ba mà bỏ nhiều thì giờ xếp đặt với mẹ. Thỉnh thoảng, mấy chị em tôi núp ở lan can lầu hai nhìn xuống, hễ thấy có nhiều xe quân đội đi ngang là chạy báo tin cho bố mẹ biết. Mẹ để ý "họ" ăn mặc thô sơ nên dặn tất cả mọi người phải ăn mặc thật giản dị, đàn bà phải chùi hết sơn móng tay và không trang điểm, và con nít không được ra đường. Mẹ còn dặn người làm chỉ nấu những món thanh đạm lỡ "họ" vào xét nhà. Người lớn lục lọi khắp nhà tìm một số sách báo tranh ảnh đem đi đốt. Mấy ngày không có một tiếng cười, tôi thấy nhà như cảnh chùa có nhiều người mặc áo xám hoặc nâu trầm tư đốt nhang đèn, khấn vái xin tai qua nạn khỏi. Thêm một nhóm lính khác mặc quân phục và đội nón cối xanh vào nhà chúng tôi đòi đặt súng chống máy bay trên nóc sân thượng. Họ cho biết muốn đề phòng máy bay Mỹ trở lại quan sát thành phố. Cũng may, một phần sân thượng được che bằng mái tôn không đủ sức chịu đựng súng phòng không cỡ lớn nên cuối cùng họ bỏ đi. Sự xáo trộn và bấp bênh không biết đến bao giờ mới hết. Mẹ lắc đầu chép miệng bảo người ta sao thì mình vậy, miễn cả nhà được bình yên. Con đường phía trước dù sao chúng tôi vẫn phải tiếp tục đi.



Tôi đã dọn vào một căn phòng ở lầu ba, bên cạnh gian thờ. Mẹ sợ sau này đồ dùng bị quản thúc như gạo nên mua lắm bàn ghế, giường tủ chất vào mỗi phòng trống trong nhà. Mẹ nói sau này mấy chị em tôi lớn lên lập gia đình sẽ có đồ dùng. Tôi thay tấm màn trên cánh cửa phòng bằng một loại vải dịu mềm in hình những hoa hồng li ti. Màu hồng phấn nhạt e dè tựa nụ hoa vừa hé mở, tựa một niềm hạnh phúc sắp sửa thành hình. Đối diện cửa phòng, khung cửa sổ lớn chắn song sắt mở ra một vòm trời xanh rộng. Buổi trưa, làn gió nóng bức len vào ru tôi ngủ. Giấc ngủ trưa nhiều mộng mị để khi thức giấc đầu tôi thấy nặng và dòng máu trong thân như đã ngừng lưu chuyển. Đây là những thời khắc mà tâm trí tôi không xác định được mốc thời gian, cứ chập chờn giữa quá khứ và hiện tại. Những mơ ước của đứa con gái vừa kịp lớn lên trong năm cuối cùng của Sài Gòn phồn vinh và lãng mạn xa vời hơn với mỗi ngày mới. Cũng như cuộc sống đang mất dần với những sổ gạo, đổi tiền, đánh tư sản và những vụ xét nhà bất chợt. Trong một hộc tủ của chiếc bàn học, tôi dấu những tập thơ, băng nhạc và tiểu thuyết mà lũ con gái trong lớp lén truyền tay nhau. Chúng tôi cùng gìn giữ những mơ ước của riêng mình dù vài ba năm nữa thành phố sẽ chẳng còn lại mấy cho chúng tôi. Trên kệ tủ quần áo, con búp bê mắt xanh tóc vàng chực chớp đôi mi cong vút; những món hàng xa xỉ phẩm như vậy sẽ không bao giờ được bày bán nữa.



Mỗi mùa mưa trở về trên sân thượng gây thêm chút chao động trong tâm hồn tôi. Tôi dệt mộng như tương lai vẫn có thể đem đến những gì đẹp nhất mà tôi đã biết từ tuổi mười hai. Con bé ngồi cạnh tôi trong lớp bảy ở trường Saint Exupéry thường kể cho tôi nghe những cuộc hẹn hò của anh chị nó lúc ấy đang học ở Marie Curie. Chuyện tình của họ đẹp như những chuyện tình của công chúa và hoàng tử trong thần thoại. Tôi mê man đến quên mất trường Pháp đã đóng cửa và cả thành phố cũng đã đổi thay. Cho đến một ngày tôi bất chợt chồm qua lan can nhìn xuống phố. Sắc màu đỏ ối của những lá cờ và biểu ngữ giăng khắp nơi đánh thức tôi từ một giấc mộng dài. Tôi đã quá xa với thực tế mà chỉ những ước mơ vừa vặn với hiện thực mới có thể thành hình. Những gì tôi mong không phải ở trên mây mà ở dưới phố. Có thể trong cuộc sống khắt khe, những ước mơ cần thu nhỏ lại.



Nhưng trước tiên, tôi cần phải xuống phố.




Sinh nhật



Mẹ mua cho một chiếc xe gắn máy vừa lúc tôi muốn tìm những cảm giác mới. Bước tập xe đầu tiên thật bỡ ngỡ vụng về. Nhưng ý chí muốn tập làm người lớn cho tôi can đảm, thêm một chút liều lĩnh, và tôi đã làm quen mau. Tôi thấy mình chững chạc hẳn khi ngồi vững vàng trên xe máy.



Sinh nhật của người bạn vào một ngày cuối tháng Ba. Bức thiệp mời được viết với tất cả sự trân trọng của một thiếu nữ sắp tròn mười sáu tuổi. Mấy năm nay chúng tôi không hề tổ chức tiệc sinh nhật; mỗi năm một lần là xa xỉ trong hoàn cảnh khó khăn chung. Hôm ấy, trời ngả chiều với một thoáng mưa xuân gội trôi khói bụi ám mờ không khí. Lúc tôi đến trước thềm, mưa đã tạnh, mây đã qua hết để lại một bầu trời trong. Tôi đoán khi ra về, đêm sẽ rất đẹp và trời sẽ đầy những vì sao lấp lánh sáng như tuổi cặp kê của chúng tôi.



Phòng khách nhìn sang trọng hơn hẳn ngày thường với ánh đèn mờ ảo xóa đi hết những vết loang trên tường. Bộ tràng kỷ được phân tán, những chiếc ghế kê sát tường và chiếc bàn lui vào một góc. Giữa phòng bài trí bàn ăn khá dài phủ khăn trắng. Những chiếc bát sành khác màu, những ly nhựa trong và những đôi đũa gỗ được xếp ngay ngắn từng bộ dọc theo mỗi cạnh bàn. Chiếc bánh kem trắng nằm giữa bàn được tô điểm bằng những đóa hoa hồng. Mỗi bên của chiếc bánh là một thố to đựng ra-gu bò nấu với đậu trắng còn tỏa vài lượn khói thơm, hai đĩa bánh mì cắt khúc, một khay tôm chiên và một khay sandwich kẹp thịt nguội. Xen kẽ là những chai nước ngọt và vài sô đá nhỏ. Thật lâu rồi tôi mới thấy lại một tiệc thịnh soạn như vậy. Thường thì dù có khả năng, người ta cũng không dám phô trương hoặc không dám tiêu xài hơn cần thiết tổi thiểu vì sự bấp bênh của ngày mai.



Bạn bè đến thật đông, có những khuôn mặt tôi không quen biết. Chúng tôi tươm tất hơn ngày thường với những chiếc áo ủi phẳng lì, tay cầm những món quà gói bằng giấy hoa thắt thêm chiếc nơ xinh xắn. Căn phòng biến mình vào trong một khung cảnh của Sài Gòn hoa lệ khi các thanh niên và thiếu nữ trịnh trọng ngồi vào bàn. Chốc nữa đây, sau khi tiêu thụ xong những món ăn ngon, chúng tôi sẽ làm lễ cắt bánh, và sẽ hát những bản nhạc tình cấm lưu truyền. Tất cả thơ mộng sẽ tụ thành một kỷ niệm vĩnh viễn đẹp trong lòng mỗi người dự. Khung cảnh này, tuổi chúng tôi đã biết đến từ lâu, lẽ ra tiếp tục đầy ắp mà sau tháng Tư lại vắng dần đi để đến một lúc chỉ còn là ký ức. Chúng tôi muốn quên đi thời gian nhưng chiếc đồng hồ to treo trên tường không ngừng quay tích tắt khiến buổi tối không ngừng trôi.



Bất chợt, tôi để ý người thanh niên nhìn tôi bằng ánh mắt say sưa của tuổi trẻ đầy hiếu kỳ. Mắt nhìn như mất hút trên tôi khiến tôi bối rối. Tôi quay vội xuống nhìn tấm khăn trải bàn trắng muốt. Không gian bỗng xôn xao khác thường. Ý nghĩ ánh mắt đó đang di chuyển trên người tôi khiến tôi thấy nóng ran trên má. Tôi ngước mặt lên vừa đủ để tầm nhìn ngừng lại ở giữa bàn, vờ chăm chú vào chiếc bánh kem. Từng ngọn nến nhỏ đang được mồi lửa sáng lung linh. Khi đèn điện tắt đi đem u tối tràn ngập căn phòng, những tia lửa rạng rỡ hào quang trên cô bạn tôi. Cô xinh đẹp thuần khiết như một thiên thần trong chiếc áo lụa màu vàng nhạt. Chiếc áo mỏng ôm dịu dàng thân hình, phô trương những đường nét của người thiếu nữ trong tuổi dậy thì. Nét mặt cô hạnh phúc khi thì thầm lời ước nguyện, như nguyện ước sẽ xảy ra đêm nay. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh bàn. Mọi người đang chăm chú nhìn cô chuẩn bị thổi nến. Ánh mắt của các thiếu nữ đầy mộng mơ xen kẽ với những ánh mắt chiêm ngưỡng của các thanh niên. Tôi thoáng dừng lại ở người thanh niên khi nãy. Tôi hy vọng tìm kiếm nơi anh, hoặc nơi những người thanh niên đã để ý đến tôi, một người mà tôi đang chờ đợi. Một chiếc bóng vô hình vô danh, mà tôi sẽ biết nhận ra khi đến với tôi. Tôi vụt ý thức, chúng tôi cùng tròn mười sáu tuổi đêm nay và đêm sinh nhật ghi dấu mốc thời điểm này không phải của riêng ai, không của riêng một người mà là của tất cả chúng tôi đã sẵn sàng dấn bước vào đời sống. Mười sáu tuổi, chúng tôi đẹp như những búp hồng nhung muốn bật tung cánh.



Không gian chùng hẳn khi những tiếng hát thay phiên nhau cất lên. Mỗi người hát dùng lời nhạc để âm thầm bày tỏ tâm sự của mình, tâm sự cất dấu đã lâu và cần nói cho ai nghe. Mỗi người nghe, nghe trong im lặng, tìm sự cảm thông của người hát đối với tâm sự của mình. Và như vậy tâm hồn chúng tôi tìm nhau trong âm vang hư ảo của những bản nhạc tình. Tôi mất tan trong tiếng hát của mình, như giọng hát vang lên từ một thể xác mà linh hồn đã thoát ra và không chịu trở về. Chỉ cần tôi chưa tỉnh dậy thì buổi tiệc không thể tàn. Ban chiều tôi đã đánh một vòng qua khu trung tâm, khung cảnh lộng lẫy xưa đã thay bằng những sắc màu đỏ vàng nghiêm khắc. Trên đại lộ Nguyễn Huệ vẫn còn hai hàng cây cao ngất nhưng thương xá Tax đã trở thành nơi triển lãm hàng hóa công nghiệp. Chung quanh, một ít nhà hàng sang trọng và tiệm bánh Pháp còn kinh doanh nhưng bên trong nhìn trống rỗng, ít hàng, ít khách. Mấy năm nay, gạo trắng đã trở thành hàng cao cấp, cả đường trắng cũng khó mua được. Tôi muốn kéo dài hơn cơn mộng mị này. Chỉ cần tôi chưa tỉnh dậy thì Sài Gòn hoa lệ chưa biến mất. Nhưng tôi hiểu, miễn thân xác còn cần hơi thở thì tôi cần phải tỉnh dậy.



Khi tôi ra về, đêm tĩnh mịch sâu như vô tận. Mặt trăng không tròn không khuyết giống mơ ước mới đang chớm nở trong tôi vẫn còn méo mó. Tôi suy gẫm ánh mắt của người thanh niên đã chăm chú nhìn mình. Tôi yêu thích sự say sưa trong ánh mắt của anh, ánh mắt đã đem xúc động đến trong lòng tôi. Tôi thường mơ ước tình yêu trong xa hoa. Nhưng ngay lúc này, nếu có lựa chọn, tôi sẵn sàng chối bỏ một tình yêu xa hoa để đổi lấy một tình yêu cuồng nhiệt. Nhưng hình như tôi không có tình yêu xa hoa nào, và khi tôi quay đầu nhìn lại, ánh mắt đó cũng không đi theo tôi. Có lẽ vì tôi ít nói và vẻ bên ngoài hơi lạnh khiến người khác ngại ngùng, tôi muốn tin như vậy. Bạn bè khi chưa quen biết thường cho là tôi nghiêm, nhưng đó chỉ là một cách che giấu sự nhút nhát của mình. Đêm thật trong, như tôi đã đoán, thật sống động với triệu triệu vì sao chiếu sáng. Nền trời lấp lánh ước mơ của thành phố. Lấp lánh sự hiện hữu hòa đồng trong sắc màu đồng dạng của đêm. Tôi chạy xe thật chậm dưới các vì sao, dường như tinh tú vây quanh và dẫn đường, như thể tinh tú thúc giục nếu tôi cứ tiếp tục đi mãi thì sẽ tìm ra mơ ước của mình, không phải ở trên mây, mà phía trước. Tôi không muốn ngủ đêm nay, đêm quá đẹp để chui vào phòng, vả lại đời sống sẽ có ý nghĩa hơn khi mình có ước mơ và tôi muốn thấy rõ hơn ước mơ của mình.




Vượt biên



Có những gặp gỡ bất chợt giúp tôi hiểu rõ hơn mình cần gì trong cuộc sống, như ánh mắt ngày nào đã thay đổi những mơ ước thơ dại của tôi. Đoạn đường ngắn ngủi chung với anh, một nụ hôn chưa đến, một tình yêu không hiện hữu, dạy tôi ước mơ lớn hơn cho tuổi trẻ của mình.



Hai bên cha mẹ chúng tôi thân nhau đã mấy mươi năm. Khi chúng tôi còn bé, hai bác mời gia đình tôi cùng đi nghỉ hè ở Vũng Tàu, tại ngôi biệt thự nghỉ mát mà hai bác vừa mua. Sóng biển và cát vàng còn lưu trữ bao kỷ niệm đẹp của đám trẻ con chúng tôi. Sau đó tôi không gặp lại anh, hình ảnh cũng nhạt nhòa. Một hôm mẹ cho biết anh đang trốn nghĩa vụ ở nhà một người quen và bảo tôi đem một gói đồ trao cho anh. Căn nhà nằm trên đường Lê Thánh Tôn, là một tiệm vàng lộng lẫy với đèn đuốc sáng trưng. Người đàn bà tuổi trung niên dáng vóc gầy và sắc đứng sau quầy bảo tôi đi qua hai cánh cửa và thẳng lên lầu tư. Không hiểu họ có móc nối gì mà dám chứa người trốn nghĩa vụ ngay giữa trung tâm thành phố và không biết họ còn chứa những gì. Cầu thang chật hẹp, chìm trong u tối và vắng lặng. Tôi nắm chặt thành, mò mẫm bực thang. Những nấc thang cao hơn bình thường khiến mỗi bước chân tôi khó khăn và lòng thêm hoang mang. Ngang qua lầu hai, một cánh cửa phòng mở rộng để lộ đôi mắt sáng chiếu ra từ bên trong. Tôi trông thấy lờ mờ một người đàn bà ngồi bệt trên nền nhà, tay ôm một đứa trẻ sơ sinh không động đậy. Tôi gật đầu chào nhưng bà không tỏ vẻ gì. Dù bà đầy vẻ kỳ lạ, sự hiện diện của một người đàn bà cho tôi chút yên tâm. Lầu ba phảng phất mùi thuốc phiện, mùi vị này tôi đã biết nhiều năm và không thể nào nhầm lẫn, và người đang hút chắc chắn là đàn ông. Tôi bước nhanh hơn. Căn nhà dị quá, nếu không vì mẹ bảo phải trao tận tay, tôi đã quay đầu chạy trở xuống. Lầu tư có hai căn phòng đều đóng cửa, vài tia ánh sáng mỏng xuyên qua khe hở của một cửa sổ nhỏ trên hành lang. Cả gian lầu hoàn toàn im lặng chỉ nghe được tiếng tim tôi đập loạn vì sợ. Người đàn bà đứng sau quầy không hề dặn căn phòng nào. Tôi ôm chặt gói đồ đứng trước căn phòng đầu tiên vài phút, rồi thu hết cam đảm gõ lên cánh cửa. Gõ nhè nhẹ rồi gõ mạnh vẫn không có tiếng trả lời. Cho đến khi tôi gọi tên anh.



Thì ra, ký ức con người đầy kỳ lạ. Đôi khi mình tưởng đã quên mất nhưng chỉ với chút manh mối là có thể nhớ ra. Anh lớn hơn tôi mấy tuổi, hao hao giống bác trai, gương mặt vuông, chiếc cằm hơi chẻ, và hai hàng chân mày ngắn rậm. Tôi không nhận ra ánh mắt, vẫn đôi mắt đen nhưng ánh mắt hoàn toàn thất lạc. Cậu bé hôm nào đuổi sóng với bao nhiệt tình trong nắng cháy da ngồi trước mặt tôi nhợt nhạt xanh xao. Hình như anh đã ngồi đóng khung như vậy trên mép giường qua nhiều ngày tháng, chỉ đôi môi mấp máy câu chuyện trao đổi với tôi. Tuy lần đầu ở riêng trong một căn phòng kín, giữa chúng tôi không có sự ngại ngùng, có lẽ vì tình thân của hai bên gia đình rõ rệt hẳn trong căn nhà quái dị. Một nỗi buồn nhẹ thấm khi anh cho biết đang đợi tìm chỗ vượt biên. Tôi thường hay như vậy, nghe ai đi thì cũng buồn, dù quen dù lạ. Có lẽ tôi buồn cho tình cảnh chung của dân tộc mình, ai mà không yêu quê hương mà vẫn thấy cần thiết bỏ đi. Chắc anh rất cô đơn, nói mãi không để tôi ra về. Nhắc đến quá khứ, anh mau mắn tìm lại được ánh mắt nghịch ngợm của cậu bé từng xoa cát lên vết phỏng nắng trên người tôi. Tôi còn nghe được tiếng kêu la thất thanh của mình. Cô bé vẫn còn trong tôi, nhưng khi tôi bước ra khỏi căn phòng, cậu bé sẽ biến mất trong chiếc khung tái nhợt. Tôi có thể trở lại bãi biển phủ nắng thân mến nhưng anh sẽ không còn cơ hội nào nữa, rồi ký ức sẽ nhạt phai và anh sẽ đánh mất quá khứ. Lòng tôi đầy thương cảm. Tôi định về đến nhà sẽ hỏi xem mẹ còn nhớ những kỷ niệm gì ở Vũng Tàu để chuyến thăm sau, tôi sẽ kể giúp vui cho anh.



Thành phố ít khi nào mưa như vậy, mưa giông cả tuần cho đến sáng nay mới tạnh. Những đám mây vẫn chưa đi hết, một ít rải rác trên nền trời. Tôi chạy xe dọc theo giòng sông Sài Gòn, mực nước lên cao hơn bình thường, trôi như thác lũ, gấp rút xuôi ra biển cả. Tôi nghĩ đến anh, đến chúng tôi, đến những người vượt biên, số mệnh tựa mưa xuống giòng sông đang xuôi ra biển, một phần nước bay hơi thành mây quay về thành phố, một phần khác nổi trôi đến bến bờ xa xăm, và phần còn lại ở với biển muôn đời. Không bao lâu nữa, tôi sẽ cùng anh làm mưa trôi vô định. Lần gặp gỡ trao gói đồ thật ra là lễ xem mắt. Bác muốn hỏi tôi cho anh và cho cả hai đi vượt biên chung; mẹ cũng đã đồng ý. Mẹ không dám đem cả nhà đi vượt biên, sợ không thoát, khi trở về nhà cửa bị tịch thu thì sẽ không nơi trú thân. Cách tốt nhất cho anh và tôi là nương tựa lẫn nhau trong việc truy tìm một cuộc sống trọn vẹn, có tự do và cơ hội phát triển. Một ngày trước ngày vượt biên, mẹ sẽ kín đáo đãi một tiệc nhỏ ở nhà, chỉ mời những người rất thân và không quà lễ phô trương để tránh sự nghi ngờ của phường. Sau đó, anh ở lại nhà tôi một đêm và hai chúng tôi sẽ cùng lên đường. Mọi chi tiết đã được bàn thảo xong, chỉ còn chờ xác định ngày. Ngày này có thể đến bất cứ lúc nào để chấm dứt sớm tuổi thiếu niên của tôi. Rồi tôi sẽ nhập vào giòng nước mới mãi xa, hoặc biển sẽ giữ tôi ở lại.



Người chồng tương lai của tôi đã thoát ra khỏi chiếc khung khô cứng, cử chỉ và ánh mắt sống động như anh yêu vô cùng cuộc đời. Anh nắm tay tôi, bằng giọng trìu mến hứa sẽ che chở cho tôi. Tôi không rút tay ra, vì hình như tôi không có quyền rút tay, lặng thinh nghe anh sắp đặt cho những ngày sau này. Đôi lúc hơi thở của anh đến gần bên tai, bàn tay vén mái tóc đang rơi che mắt tôi khi tôi bất chợt cuối đầu. Người đàn ông trước mặt muốn hôn tôi, tôi không nên tránh né, nhưng lại không có cảm giác gì. Anh muốn thân mật nhưng anh có hiểu những mơ ước tầm thường nhất của tôi? Tôi muốn gì? Giản dị là một lời hát. Một bài nhạc vút cao thành tiếng sáo trời hay tiếng đàn đệm trầm ấm. Tầm thường hơn nữa, một đôi guốc cao. Hay cao sang hơn nữa, được tự do lựa chọn. Anh đem đến tôi hoài bảo đi tìm tự do cho một tuổi trẻ không tương lai, ở đây, trên đất nước này. Nhưng anh không biết rằng chính anh lại như các biểu ngữ áp đặt lên tôi ước muốn của riêng mình: Một định chế cùng những lời động viên mà tôi không cần. Anh không hiểu.



Buổi trưa hầm trong thời tiết oi ả. Tôi và cô bạn thân nằm im lặng nhìn lên trần nhà, những suy tưởng riêng tư cuốn theo cánh quạt xoay tít. Sau khi tôi báo ngày đi chính xác, chúng tôi không còn lời gì khác chưa nói ra để chuẩn bị cho một cuộc chia ly vĩnh viễn. Cơn nóng hầm tăng lên với mỗi giờ khắc trôi qua cho đến khi trận mưa vỡ oà. Những giọt nước mắt nén mãi trong lòng cuối cùng cũng rơi ra, rồi như mưa từ từ khô cạn. Chúng tôi hiểu gặp gỡ và ly biệt là việc tự nhiên trong đời sống như nắng và mưa. Tôi ra về sau khi mưa tạnh, trên con đường tôi đã đi biết bao nhiêu lần và đây có lẽ là lần cuối. Đêm sinh nhật thứ mười sáu của cô bạn đã qua hơn một năm mà như mới đây. Chỉ mới đây thôi, tâm hồn tôi còn như trang giấy mới sẵn sàng thu thập tất cả dữ kiện về tình yêu. Chỉ mới đây thôi, tuổi trẻ mở rộng trước mặt chờ tôi khám phá, và hôn nhân nằm trong xa vời. Tôi dừng gấp chiếc xe bên đường rồi quay nhìn về phía sau, nhìn mãi cho đến khi bóng tối phủ ngập. Trong lòng tôi vẫn thiết tha với ánh mắt của người thanh niên cùng tuổi, với tình yêu mà tôi chưa thực sự biết là gì và mong chờ thử nghiệm. Nhưng năm ngày nữa mọi thứ tự của một trật tự lý lẽ sẽ bị đảo lộn. Tôi sẽ đám cưới với một người chồng chọn sẵn, sẽ trở thành một người đàn bà không có tuổi trẻ, một người phản bội tâm hồn mình để đổi lấy một sự bình yên trên con đường đi tìm tự do. Nhưng tự do có ý nghĩa gì khi bị ràng buộc bởi một hôn nhân gượng ép, khi tôi có thể sống hết lòng nhưng không bao giờ yêu hết lòng. Mười bảy tuổi còn quá trẻ để bỏ rơi mơ ước chưa kịp thành hình và chấp nhận một cuộc sống máy móc. Tôi thà đi một mình và gánh chịu hậu quả của sự chọn lựa này.



Tôi quyết định bãi bỏ hôn ước.




Căn phòng



Căn phòng vuông vứt với khung cửa sổ to mở ra vòm trời rộng là thế giới của riêng tôi. Thế giới lãng đãng những suy tư của tuổi trẻ trước một lối rẽ phân nhiều ngõ ngách. Tôi bước vào đây năm mười ba tuổi, cùng lúc thành phố cũng như tôi ngẩn ngơ tìm phương hướng. Sau tháng Tư, tôi đã tự hỏi bao lần: Tôi là ai? Tôi ước muốn gì cho tương lai? Tôi đã ướm thử nhiều hình tượng và đặt ra nhiều viễn ảnh, tất cả đều được cất giấu trong căn phòng riêng. Không ai biết những bí mật của tôi. Anh cũng không ngoại lệ. Anh muốn xâm nhập nhưng tôi đã cự tuyệt. Bằng những nét bút vô hình, tôi sắp xếp mỗi suy nghĩ bắt đầu từ chân tường cho đến khi các thao thức lấp đầy trên vách.



Căn phòng giúp tôi gìn giữ niềm tin. Vách tường dựa vào gian thờ truyền sang những hương trầm thơm ngát trong đó có chút dư âm của tiếng gõ mõ tụng kinh cùng những lời cầu nguyện của hai bà cháu. Lời cầu xin của bà cho một cuộc sống tốt đẹp đã thuần thục trong tôi hóa thành sự ao ước cho một cuộc sống phóng khoáng và trọn vẹn, có tự do và sống hết lòng. Những áp bức gò bó của hiện tại gieo vào lòng tôi một sự chống đối âm thầm, để tôi hiểu ra những cần thiết căn bản của sự tốt đẹp. Có lẽ anh, cũng như họ, sẽ cho rằng tôi lý tưởng hóa ý nghĩa của cuộc sống.



Tôi thân thiết với chiếc tủ đứng ngày ngày nhìn tôi chải tóc thay áo. Ánh phản chiếu trên tấm kính là một người con gái với ánh mắt ưu tư trên gương mặt. Mưa đã thấm vào tôi thành làn da sáng mỏng và nắng đã phủ lên nhiều chấm tàn nhang. Bên trong tủ treo quần áo gồm nhiều áo cánh trắng. Tôi chọn cho mình một bề ngoài giản dị như hình ảnh của cánh hoa sứ yêu nắng mưa. Anh chưa trông thấy cây sứ đã cùng tôi trưởng thành.



Trên trần nhà, tôi treo lên những nốt nhạc của các tình khúc mà tôi ưa chuộng suốt những năm vừa lớn. Anh không biết đến tâm sự lãng mạn của tôi. Đến những âm thanh gây xúc động tâm hồn tôi mà trí óc không bao giờ hiểu nổi. Đến những giai điệu của cuộc sống mà tôi muốn thử nghiệm. Chúng tiêu biểu cho một phần tâm hồn, ước muốn, sở thích của cá nhân tôi, đã được chọn lọc từ một nền văn hóa mà tôi quen thuộc. Khi tôi nằm nhìn lên trần, chỉ cần tôi hướng mặt về phía trần nhà, dù tôi nhắm mắt, những nốt nhạc sẽ sống dậy để hòa lên những âm thanh kỳ diệu nhất. Trần nhà sẽ trở thành một giải ngân hà lấp lánh, quá bao la để cho mọi thứ trên quả đất còn có mảy may quan trọng. Và tôi có thể chìm đắm hoàn toàn vào trong một giấc mơ đẹp, không muộn phiền khắc khoải.



Anh không biết tôi có bao nhiêu hoài niệm. Tôi thích ngồi ở bàn học nhìn ra ngoài khung cửa sổ, ngắm dẫy ngói ống bao la tăm tắp đều đặn của những mái nhà bên cạnh. Tôi đã ngắm những mái nhà nhấp nhô này nhiều năm. Có khi chúng uốn lượn như sóng của đại dương lại có khi tựa sự thăng trầm của con người. Màu ngói ống đậm sẫm trước khi hừng đông sáng dần thành nâu sòng giống mái tóc tôi, nhiều năm nay vẫn vậy. Dáng dấp của thành phố nhìn từ trên cao nguyên vẹn như những ngày tôi còn bé, khi tôi yêu mảnh đất nơi mình sống không một chút đắn đo.



Tôi là ai? Tôi là người chấp nhất cho tình cảm của mình đối với quá khứ. Bản chất của tôi là do quá khứ tạo thành. Nhưng anh không quan tâm, còn họ muốn xóa đi quá khứ. Những gì tôi từng quý mến, tôi đã mất rất nhiều. Còn lại là những kỷ niệm mà tôi cố gìn giữ trong căn phòng này. Tôi khóa chặt cửa phòng để bảo vệ sự tư ẩn của mình. Hiện tại trừng phạt sự xa cách của tôi bằng cách gieo vào lòng tôi một cảm giác bất ổn liên miên.



Tôi cố gắng mường tượng tương lai với tất cả niềm tin trong lòng. Nhưng trên các vách tường chỉ là những hình ảnh nhòe nhoẹt, những nét dở dang, những sắc màu nhợt nhạt. Tôi vẽ hoài không ra một hình ảnh có ý nghĩa cho sự ở lại với thành phố, dù thâm tâm vẫn chưa nỡ rời xa. Cuối cùng, khi bốn bức tường đã đầy ắp và trí tưởng tượng đã cạn sạch, tôi chấm dứt bằng một ánh trăng và một chiếc cầu vồng. Qua bao thất vọng, tôi vẫn muốn tin vào ánh trăng sáng sẽ đưa đường trong đêm tối và cầu vồng sẽ xuất hiện khi trời rối loạn nửa mưa nửa nắng. Vẫn muốn tin mù quáng vào niềm tin bà nội đã cho tôi.



Nhưng tôi không gắng gượng được bao lâu. Khi cảm giác bất ổn tích lũy đủ độ trầm kha, lòng tin bị khuấy động. Tôi không còn biết tin vào gì. Không có tương lai, linh hồn trở nên lười biếng, không một chủ tâm, không một mục đích. Tôi máy móc qua ngày, thỉnh thoảng tự hỏi sống để làm gì. Sống khép mình trong vâng phục thì có khác gì là sống để chịu khổ rồi chết đi. Trong những giờ khắc trống trải nhất, tôi nằm vùi vào mặt nệm chịu đựng sự trừng phạt nặng nề. Tôi là ai hình như không còn quan trọng nữa. Vách tường không khuyên giải được tôi. Trần nhà không khiến tôi khuây khỏa. Những mái ngói không còn gây ấm lòng tôi. Những suy tư tiếp tục phình to chiếm hết không gian khiến tôi ngộp thở. Không bao lâu nữa khung cửa sổ sẽ không còn lùa vào đủ không khí để tôi hô hấp, giúp tôi thở những làn hơi thở khát khao của đời sống. Có lẽ đó là lúc tôi phải mở toang cửa phòng, loan báo những tư ẩn của mình với tập thể, chấp nhận một sự kiểm soát vô lý lẽ. Và đó cũng sẽ là lúc tôi bỏ rơi bản thân.



Anh chưa bước chân vào căn phòng của tôi nhưng tôi thường nhìn thấy anh từ đây. Trong những đêm trăng rất sáng, anh và tôi có thể nhìn thấy nhau. Mặt trăng phản chiếu chiếc tàu mang anh băng qua đại dương. Anh trở lại thế ngồi của một chiếc khung cứng ngắt và nét mặt anh tỏ rõ sự bất an. Nhưng đôi mắt của anh tinh anh vì sự tuyệt vọng không hiện diện trong lòng anh. Anh biết khi anh đến bờ bên kia, tất cả đau khổ của những ngày trốn chạy sẽ tan biến. Anh tin tương lai mà anh chọn lựa sẽ chờ anh đến gặp. Nên anh sẵn sàng chịu đựng bề tăm tối của biển. Không chỉ anh mà cả vô số lớp lớp người vượt biển, cả vô số lớp người trước đã di cư từ Bắc vào Nam. Tất cả cho cùng một nguyên tắc sống. Nếu anh nhìn vào mặt trăng, anh sẽ thấy tôi nằm bất động trên chiếc giường. Dáng tôi buông xuôi và tôi mang đôi mắt của một người không còn hơi thở. Nhưng anh đừng lo lắng, không cần an ủi tôi. Sau khi nằm chán, tôi sẽ biết mò dậy và tìm lại chính mình.



Anh suýt đem theo tôi, chúng ta đã vuột tay, nhưng ý nghĩ đi tìm tự do đã mọc gốc rễ trong tâm trí tôi, phóng đại theo từng giờ khắc.



Sân thượng



Với những cuộc ra đi, biển đã tràn vào thành phố.



Cùng với biển là những viễn tượng của sự chết xâm chiếm mọi không gian. Tôi không thể không nghi vấn một nguyên tắc sống mà giá trả bằng tính mạng. Thật ra, sự chết luôn áp cận con người nhưng người ta không quan tâm cho đến khi phải đối diện. Sự chết là gì mà đầy uy quyền, chỉ nghe phong phanh đã khiến con người sợ hãi? Một thiếu nữ cần bao nhiêu can đảm để đi gặp thần chết cũng như đối đầu với những xâm phạm còn tệ hơn cái chết?



Khi nhớ bà, tôi thường liên tưởng đến thần chết xuất hiện lần đầu vào năm tôi mười một tuổi. Ngày đưa ma, tôi đã kết luận rằng thần chết không đáng sợ. Tôi đã ngắm bà suốt ba ngày liệm. Bà nằm im không xúc động với mọi đau khổ đang xảy ra chung quanh, hững hờ với cơn đau nhức đã quấy rầy mình. Bà đã về chùa Hương Tự và hài lòng đạt tâm nguyện cuối cùng bằng linh hồn. Chết là không u buồn bệnh tật, là thoát thân xác chấm dứt khỏi mọi ràng buộc. Vậy, chết có gì đáng sợ?



Đáng sợ có lẽ là khoảnh khắc trước khi chết, khi phải chấp nhận sự mất mát lớn nhất trong cuộc đời là chính sinh mạng của mình. Có lẽ sự tiếc nuối cho một tương lai muốn khám phá sẽ níu kéo tôi, dù không còn quan trọng nữa, hay sự tiếc nuối cho một tuổi thanh xuân chưa sống, và rồi hình ảnh trông mong tuyệt vọng của từng người thân sẽ lần lượt chất ân hận đầy lòng mình… Có lỗi nhất là tôi đã khiến bố mẹ phải tự tay đưa con mình vào chỗ chết. Thần chết vừa thoáng qua đã khiến tôi ngập ngừng: Sự đáng sợ nằm trong chính những món nợ mà mình không trả nổi đành phải mang theo.



Đáng sợ không kém là sức tưởng tượng ra thần chết to dần trong chờ đợi, làm choáng đầu, vì chừng như chỉ là vấn đề thời gian rồi sự hành hình sẽ xảy ra và cách hành hình sẽ phong phú. Những ngày cận đi giống ngày áp lễ hành hình, sự chết không ngừng động kinh, không chỉ cá nhân tôi mà cả toàn gia đình chúng tôi. Đêm đêm chúng tôi như chết đi sống lại với tin khí tượng tường thuật chi tiết bão gia tăng rồi lại áp thấp và gió bất chợt chếch hướng thổi vào vịnh Xiêm La. Ngày ngày chúng tôi hoang mang bấn loạn với những mẫu chuyện đồn đãi về những chuyến đi trước. Tuy không ai trở lại nhưng những cánh thư đem tin của thần chết được truyền miệng với tất cả hốt hoảng. Tôi chưa bao giờ biết thần chết khoác nhiều lớp áo mang nhiều màu sắc đến vậy. Họ kể ông đến như chập sóng xanh đen cao ngút rầm rộ đem theo một bản án tử hình; tức khắc chiếc tàu bể nát thành nhiều mảnh vụn, xác tung khắp nơi. Có khi ông mang cảnh tượng của nắng soi thủng trên những làn da kiệt nước lở loét; của nắng gắt trên boong tàu nhởn nha bập bềnh, chồng chất những thân thể cạn lực; của đảo hoang giam cầm những kiếp người. Đến câu chuyện hải tặc, tôi bịt tai, đầu óc vội vã chuẩn bị cho mình một cái chết chỉnh tề. Trước những điều tệ hại hơn cái chết thì cái chết sẽ là một chọn lựa không tệ.



Giấc ngủ chập chờn hằng đêm với những cơn mơ rối rắm xen kẽ nhiều sắc màu khác nhau. Tâm hồn của cô gái Sài Gòn chưa đủ tuổi vị thành niên, chưa bao giờ xa nhà có bao nhiêu can đảm? Tôi sợ trông thấy máu ngay cả chỉ từ mũi kim tiêm, sợ sóng to nước sâu, không chịu được đói khát và cho rằng cướp bóc hãm hiếp chỉ xảy ra cho người khác. Nói chính xác, tôi thật khiếp sợ những câu chuyện chết chóc trên biển mà người ta đã kể lại.



Những lúc không ngủ được, tôi nhờ bốn vách tường cố vấn: tâm trí vùng vẫy trước quyết định đi hay ở. Sự bất an mà hiện tại đã gieo vẫn còn nơm nớp trong lòng tôi. Cả căn phòng thúc đẩy tôi liều lĩnh, thuyết phục đừng ở lại vì đa phần sẽ thành một xác chết biết đi trong khi cơ hội chết trên biển không nhiều hơn. Tôi muốn tin như vậy. Tôi tự nói với mình rằng ngay cả biển cũng đã tràn vào thành phố.



Bố hỏi Có sợ không, tôi trả lời Không sợ. Bố lắc đầu bảo tôi khờ như ếch con nằm đáy giếng xem trời bằng vung. Mẹ dặn chỉ đem theo vài món đồ dùng cần thiết. Những thứ cần thiết thì không thể quên vì không thể quay lại lấy. Còn những thứ khác đều phải để lại. Không thể đem theo gì. Không thể quay trở lại. Vài chữ thôi mà đem nước mắt ngập lòng tôi và nuối tiếc không ngừng sinh sôi nẩy nở. Tôi bắt đầu thấy nhớ thương tất cả những quen thuộc sắp đánh mất.



Trời gầm những lời hối gọi từ xa xăm khi tôi bước chân lên sân thượng giã từ. Tôi trông thấy một cô bé đứng ủ rũ bên cạnh hồ nước chậm chạp nhìn quanh. Ánh mắt cô bé đầy mất mát, nhìn luyến tiếc mỗi nơi mỗi vật như muốn ôm hết vào lòng mãi không buông. Tôi chạnh lòng liên tưởng đến sự mất mát của mình, không được như những cánh hoa sứ trắng làm đẹp nơi mình sinh ra và khi chết rơi xuống cội nguồn. Cô bé thổi nhẹ sang tôi một nụ bình an. Tôi thấy một thiếu nữ xoay người dõi mắt theo nụ hoa đang bay bổng, gió lại cuốn hoa bay chung quanh tôi. Hoa và tôi rượt đuổi nhau qua bao vòng xoay, lênh đênh qua bao thời gian. Bà vẫn đứng đó cầm chiếc rổ con, trông chừng sợ tôi ngã. Người thiếu nữ không ngừng quay tròn ở giữa sân. Trời nổi gió lại đổ mưa lại xuyên nắng, xoay vần những bình minh trong những vạt nắng màn mưa, xoay vần mực nước hồ đầy vơi, xoay vần những tiếng cười nắc nẻ của mấy chị em tôi, tiếng reo vui gọi cha của cô công chúa nhỏ. Lòng tôi cảm thấy nặng dần, mọi vật trước mắt nhòa đi và trong tai chỉ còn tiếng gió trở xoáy, xoáy điên cuồng thành cơn lốc nhấc bổng người tôi lên cao lao vào một cảnh đêm lạnh. Thành phố hiện dần ra với những con đường tôi vẫn đi về, với trường lớp còn đóng cửa và những mái nhà có bạn bè thân đang ngủ say. Tôi yêu từng tất đất con người, trước phút ra đi tình yêu chợt thâm sâu che khuất sự bất an. Mùi đất ẩm quen thuộc xông lên theo gió thấm qua từng tế bào trên da thịt vào đến tận tâm tủy. Tôi để mặc từng lớp gió thấm vào mình, mặc sự tê buốt trong xương. Và như vậy, quê hương ở lại trong tôi.

Gió đã hạ và trong hương sứ trắng, cô gái bé nhỏ của cha Long Vương đang tấm tức khóc. Tôi chậm vòng xoay rồi dừng lại nhìn cô. Nước mắt cô là những hạt trân châu từng thấm trên da tôi. Ánh mắt cô là ánh mắt tôi tha thiết niềm thương tiếc. Cô không nỡ xa rời sân thượng đầy kỷ niệm, nên cô ở lại. Người thiếu nữ đã biến mất còn tôi sẽ không thể trở về.

Tôi rời sân thượng khi trời hừng đông. Trên nền trời ban mai, những vì sao đã thu xong mười bảy năm ký ức, yếu ớt dần rồi ẩn vào ánh nắng. Tôi khép lại cánh cửa sắt dẫn ra sân thượng, khép vĩnh viễn cánh cửa của tuổi thơ. Có lẽ những vì sao ấy đang rực rỡ trên nền trời đại dương. Tôi bước thật nhanh xuống thang nhìn cánh cửa mở rộng phía trước mà nước mắt không ngừng trôi.


Trầm Hương

California, tháng 4-2010


Source : hợp lưu

Cánh Quạt Gió Xoay Trong Lòng Anh

Cánh Quạt Gió Xoay Trong Lòng Anh

MICHEL LEGRAND - ALAN & MARILYN BERGMAN




Tròn như một vòng trong xoắn ốc, như bánh xe trong bánh xe
Không kết thúc hoặc bắt đầu trên guồng quay không dứt
Giống hòn tuyết lăn xuống núi, một quả bóng ở chợ đêm
Giống chiếc đèn kéo quân chạy những vòng quanh mặt trăng
Giống chiếc kim đồng hồ quay nhanh qua mỗi số
Và thế giới như quả táo xoay lặng lẽ trong không gian
Giống những vòng xoay của cánh quạt gió trong lòng anh.



Giống đường hầm anh đi giắt anh theo con đường của chính nó
Xuống trũng sâu vào hang động nơi chưa từng có ánh mặt trời
Giống cánh cửa không ngừng quay trong giấc mơ không rõ
Hoặc những gợn sóng từ viên sỏi ai đã ném vào giòng sông
Giống chiếc kim đồng hồ quay nhanh qua mỗi số
Và thế giới như quả táo xoay lặng lẽ trong không gian
Giống những vòng xoay của cánh quạt gió trong lòng anh.



Những chìa khóa rủng rỉnh, những lời làm anh choáng đầu
Sao mùa hè qua quá vội? Anh đã nói gì sai?
Những tình nhân dạo trên bờ biển và để lại dấu chân
Có phải âm thanh tiếng trống xa chỉ là những ngón tay anh gõ
Những hình ảnh treo trên hành lang và một mảnh nhạc này
Gương mặt và tên tuổi mơ hồ, không rõ họ là ai.



Khi chúng ta đã thôi nhau anh mới chợt nhận ra
Rằng mùa thu đổi sắc lá thành màu mái tóc em
Tròn như một vòng trong xoắn ốc như bánh xe trong bánh xe
Không kết thúc hoặc bắt đầu trên guồng quay không dứt
Do những hình ảnh rõ dần giống những vòng tròn anh thấy
Từ những cánh quạt gió của lòng anh.



Michel Legrand – Alan & Marilyn Bergman
Trầm Hương chuyển ngữ, 27 tháng 7-2010




The Windmills of Your Mind


Round like a circle in a spiral, like a wheel within a wheel
Never ending or beginning on an ever spinning reel
Like a snowball down a mountain, or a carnival balloon
Like a carousel that's turning running rings around the moon

Like a clock whose hands are sweeping past the minutes of its face
And the world is like an apple whirling silently in space
Like the circles that you find in the windmills of your mind.



Like a tunnel that you follow to a tunnel of its own
Down a hollow to a cavern where the sun has never shone
Like a door that keeps revolving in a half forgotten dream
Or the ripples from a pebble someone tosses in a stream.

Like a clock whose hands are sweeping past the minutes of its face
And the world is like an apple whirling silently in space
Like the circles that you find in the windmills of your mind.



Keys that jingle in your pocket, words that jangle in your head
Why did summer go so quickly? Was it something that you said
Lovers walking allong the shore and leave their footprints in the sand
Was the sound of distant drumming just the fingers of your hand
Pictures hanging in a hallway and a fragment of this song
Half remembered names and faces, but to whom do they belong.



When you knew that it was over you were suddenly aware
That the autumn leaves were turning to the color of her hair
Like a circle in a spiral, like a wheel within a wheel

Never ending or beginning on an ever spinning reel

As the images unwind, like the circles that you find

In the windmills of your mind.



Cước chú của người dịch:

The Windmills of Your Mind bản Anh ngữ của Alan & Marilyn Bergman, từ bản Pháp văn Les Moulins de Mon Coeur của Michel Legrand. The Windmills of Your Mind, do Noel Harrison trình bày, làm nhạc nền trong phim The Thomas Crown Affair với Steve McQueen và Faye Dunaway thủ diễn, nhận giải thưởng The Academy Award for Best Song 1968.

Nguồn:

http://www.youtube.com/watch?v=dAGGTVft5Lk&feature=related


www.hopluu.net. All Rights Reserved.

Bùi Giáng : Hội An

Hội An

Mơ màng phố cũ hoang liêu
Cánh buồm con sóng sương chiều Hội An
Tờ mây chan chứa mộng vàng
Tuổi đời em kết mấy ngàn cánh hoa
Mừng vui giọt tuổi chan hoa
Bước đi từ đó gió xa bay về
Ngậm ngùi đàn lệ ai nghe
Cộ nguồn bên tháng năm thề xẻ chia
Dấu mờ hoen hận còn kia
Hồn trăng soi bóng sầu khuya một bờ.

Bùi Giáng