Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Nguyễn Hưng Quốc - Kích thước văn hóa trong việc giảng dạy ngôn ngữ

Thứ Năm, 14 tháng 7 2011




Mới đây, tôi vào kiểm tra một lớp tiếng Việt tại một đại học ở Melbourne. Hầu hết các sinh viên đều là người Úc. Các em học tiếng Việt đã được một học kỳ (ba tháng). Tôi hỏi một nữ sinh:

- Em tên gì?

Em ấy đáp:
- Tôi tên Stephanie.
- Em bao nhiêu tuổi?
- Tôi là 19 tuổi.
Tôi hỏi một em khác:
- Ba em tên gì?
Em ấy đáp:
- Tên ông ta là John.
- Bây giờ ba em sống ở đâu?
- Ông ta chết rồi.
Tôi lại hỏi một em khác nữa:
- Sáng nay em làm gì?
- Sáng nay em đã học môn Tâm lý học.
Vân vân.

Xin nói ngay, dù học tiếng Việt mới được ba tháng, cách phát âm của các em, nói chung, tuy không hoàn hảo, nhưng khá chính xác, ít nhất cũng đủ để người nghe có thể hiểu được những điều các em muốn truyền đạt. Trừ câu “Tôi là 19 tuổi” với chữ “là” thừa thãi, tất cả các câu đáp của các em đều đúng về ngữ pháp. Tuy vậy, từ lỗ tai của người Việt Nam, chúng ta vẫn thấy hầu hết các câu ấy đều có vấn đề. Một sinh viên năm thứ nhất nói chuyện với một giáo sư đã đứng tuổi mà xưng "tôi" là có vấn đề. Gọi ba mình là "ông ta" cũng có vấn đề: Nó hờ hững đến độ lạnh lẽo. Chữ “chết” dùng để chỉ người thân lại càng có vấn đề: Nó dửng dưng đến độ vô cảm. Ngoài ra, cũng giống chữ “là” trong câu "Tôi là 19 tuổi", chữ "đã" trong câu "Sáng nay tôi đã học môn Tâm lý học" hoàn toàn thừa. Và vì thừa nên cũng thành một vấn đề.

Nhân nói đến những "bất ổn" trong việc học tiếng Việt của người ngoại quốc (hoặc trẻ em Việt Nam sinh ra và lớn lên ở hải ngoại), tôi sực nhớ đến một câu chuyện tiếu lâm mới nghe được trong chuyến đi Sydney vừa rồi. Xin nói ngay: Như phần lớn các truyện tiếu lâm của người Việt, chuyện này hơi tục. Biết vậy, nhưng tôi cũng xin phép được kể vì, thứ nhất, tôi tin chắc trong số độc giả blog của tôi, không có ai là vị thành niên; thứ hai, tôi thấy khó tìm ra một câu chuyện nào khác tiêu biểu hơn cho vấn đề chúng ta đang bàn.

Chuyện kể một người phụ nữ Tây phương lấy chồng Việt Nam và về Việt Nam sinh sống trong một khu lao động. Chị cố học tiếng Việt để giao tiếp với người Việt Nam, trước hết là với hàng xóm. Một hôm, bị bệnh, chị đến một phòng khám ở thành phố. Người thư ký hỏi chị muốn gặp bác sĩ nào. Chị đáp:

- Cho tôi gặp bác sĩ khám l.
Người thư ký giật mình, nhưng ý nhị, anh nhắc khéo:
- Bác sĩ phụ khoa.
Chị người Tây ghi nhận bài học mới:
- Vâng, cho tôi gặp bác sĩ phụ khoa.
Khám xong; nghe bác sĩ dặn dò xong, chị người Tây cẩn thận hỏi:
- Như vậy, trong mấy ngày tới, tôi có đ. được không?
Bác sĩ cười, nhắc:
- Chị nên dùng chữ "giao hợp".
Chị người Tây cám ơn:
- Vâng, giao hợp.

Từ phòng khám ra ngoài đường, chị gặp một tên lái xe đi ẩu suýt đâm vào người chị. Chị la toáng lên. Tên thanh niên không những không xin lỗi mà còn cười hô hố. Tức quá, chị định phun ra cái câu chửi tục chị thường nghe chồng chị và hàng xóm người Việt của chị sử dụng. Tuy nhiên, nhớ lại hai bài học về ngôn ngữ mới toanh ở phòng khám vừa rồi, chị ứng dụng ngay. Và đây là câu chửi chị phun vào mặt tên thanh niên khả ố nọ:

- Giao hợp cái thằng mặt phụ khoa!

Câu chuyện ở trên hài hước vì người phụ nữ Tây phương mới học tiếng Việt ấy mắc lỗi đến hai lần: lần đầu, thay vì dùng từ thanh nhã, chị là dùng những chữ bị xem là thô tục; lần sau, thay vì nên dùng chữ thô tục để chửi thì chị lại dùng những chữ quá thanh nhã.

Cái sai của chị, như vậy, không nằm ở ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp mà là ở phong cách: Các từ chị dùng, tuy hoàn toàn chính xác, lại không hợp với ngữ cảnh. Chúng thành sai. Hơn nữa, sai một cách hài hước.

Xin thêm một ví dụ nữa: Trong các đoạn văn được xem là sai lầm đến ngô nghê của học sinh ở Việt Nam, tôi bắt gặp mấy câu này:

"Nhà em có nuôi một ông nội. Năm nay ông 70 tuổi. Ông nội em ăn rất khoẻ, lại còn biết trông nhà."

Đứng về phương diện ngữ pháp, mấy câu trên không hề sai. Nếu thay thế câu đầu tiên bằng câu "Nhà em có nuôi một con chó" hay "Nhà em có nuôi một người giúp việc" thì sao? Thì hoàn toàn đúng. Nhưng nếu viết "nhà em có nuôi một ông nội" thì lại có vấn đề. Vấn đề ấy nằm ở hai điểm: "nuôi" và "một". Bởi mỗi người chỉ có thể có một ông nội (ruột) nên số từ "một" đứng trước "ông nội" là thừa. Đó là cái sai về logic (cũng giống như câu cuối: "Ông nội em ăn rất khỏe, lại còn biết trông nhà"). Còn cái sai trong động từ "nuôi" thì rõ ràng thuộc phạm trù văn hóa.

Qua ba câu chuyện vừa kể, chúng ta thấy chuyện sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp có cái gì phức tạp hơn là những điều chúng ta vẫn thường nghĩ.

Lâu nay, nói chung, nghĩ đến chuyện dạy ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt cho người ngoại quốc hoặc cho trẻ em Việt Nam sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc, chúng ta thường nghĩ đến việc rèn luyện cho các em bốn kỹ năng chính: nghe, nói, đọc và viết. Chúng ta thường chỉ bận tâm dạy các em cách phát âm, cách viết chính tả, ý nghĩa của các từ và cuối cùng, một số nguyên tắc đặt câu. Chúng ta cứ tưởng am hiểu tất cả các yếu tố ấy, các em sẽ có thể sử dụng thành thạo tiếng Việt.

Sự thật không phải vậy.

Không hiếm người Việt Nam học tiếng Anh ở mức độ tương đối khá nhưng lại không thể giao tiếp với người bản xứ được chỉ vì một tật: gặp ai cũng hỏi tuổi tác, nghề nghiệp, lương hướng; hứng nữa thì hỏi chuyện tôn giáo và đảng phái, vốn là những điều cấm kỵ trong nghi thức giao tế của người Tây phương.

Ngược lại, cũng không hiếm người Tây phương khi học tiếng Việt cũng than thở rất nhiều điều, chẳng hạn, người Việt rất ít chào hỏi nhưng lại hay hỏi chuyện tuổi tác và gia đình. Họ kể, cứ nghe những câu hỏi như vậy, họ lại khựng lại. Có cảm tưởng như sự riêng tư của mình bị vi phạm. Từ đó, có ấn tượng là người Việt Nam thiếu lịch sự. Câu chuyện, bởi vậy, bị ngắc ngứ ngay tức khắc.

Trong cả hai trường hợp, vấn đề đều không thuộc phạm trù kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills) mà là ở năng lực giao tiếp liên văn hóa (intercultural communicative competence): người Việt thì không biết văn hóa Tây phương trong khi người Tây phương học tiếng Việt thì lại không biết văn hóa Việt Nam.

Những khuyết điểm như vậy không phải chỉ xuất hiện ở những người Việt Nam học tiếng Tây phương hay người Tây phương học tiếng Việt Nam mà là ở hầu như tất cả mọi người học ngôn ngữ thứ hai. Tuy nhiên chỉ một vài hai thập niên gần đây giới nghiên cứu ngôn ngữ học mới nhận thức được điều ấy. Từ nhận thức ấy, người ta phát hiện trong cách dạy ngôn ngữ thứ hai trên khắp thế giới có rất nhiều điều bất cập. Một trong những bất cập ấy, nói theo Joseph Lo Bianco, một nhà hoạch định chính sách ngôn ngữ nổi tiếng của Úc, là, trong các lớp ngôn ngữ, chúng ta chỉ tập trung vào các yếu tố bên trong ngôn ngữ với từ vựng và các nguyên tắc ngữ pháp, mà quên đi những yếu tố bên ngoài của ngôn ngữ, như xã hội và văn hóa, nhất là văn hóa (1). Sự sao nhãng ấy là một sai lầm bởi, như nhiều nhà ngôn ngữ học, từ Elinor Ochs đến Bambi Schieffelin và Lessard-Clouston, đã phân tích: ngay từ đầu văn hóa và ngôn ngữ đã gắn bó đến mức không thể tách lìa được. Theo Claire Kramsch, trong cuốn Context and Culture in Language Education (1993), bất cứ sự giao tiếp nào với người nói một ngôn ngữ khác mình cũng đều là một thao tác văn hóa (culture act). Học ngôn ngữ, do đó, thực chất là học văn hóa. Nếu chúng ta chỉ dạy ngôn ngữ mà không dạy văn hóa, chúng ta đang dạy những ký hiệu hoặc là vô nghĩa hoặc mơ hồ đến độ học sinh sẽ hiểu hoàn toàn sai. (2)

Đó là lý do tại sao gần đây khái niệm “dạy ngôn ngữ” (language teaching) thường được gọi là “dạy ngôn ngữ liên văn hóa” (intercultural language teaching), ở đó, khái niệm “khả năng giao tiếp’ (communicative competence) được soi chiếu dưới lăng kính liên văn hóa (intercultural) hoặc xuyên văn hóa (cross-cutlural): Giao tiếp không còn là một hành động sử dụng ngôn ngữ thuần túy mà biến thành một nỗ lực tiếp cận với cái khác (otherness).

Chú thích:

1. Joseph Lo Bianco & Chantal Crozet (2003), Teaching Invisible Culture, Classroom Practice and Theory, Melbourne: Language Australia Ltd., tr. 26.
2. Xem thêm Teaching Language as Culture in the Foreign Language Classroom, luận án tiến sĩ của Kathleen J, Taylor đệ trình tại The University of Texas năm 2010. Đọc trên http://repositories.lib.utexas.edu/bitstream/handle/2152/ETD-UT-2010-08-1630/TAYLOR-DISSERTATION.pdf?sequence=1

Source : VOA

Nguyễn Hưng Quốc - Dạy ngôn ngữ là dạy văn hóa

21/7/2011

Dạy ngôn ngữ là dạy văn hóa


Nguyễn Hưng Quốc



Qua hai bài "Kích thước văn hóa trong việc giảng dạy ngôn ngữ" và "Ngôn ngữ là văn hóa", chúng ta đã đi đến ba nhận định chính: một, ngôn ngữ thực chất là văn hóa; hai, nói hoặc viết ngôn ngữ khác với tiếng mẹ đẻ của mình là một thao tác liên văn hóa; và ba, dạy và học ngôn ngữ thứ hai hoặc song ngữ thực chất là dạy và học văn hóa.

Vấn đề: Dạy văn hóa qua ngôn ngữ là dạy gì?

Đó không phải là câu hỏi dễ trả lời. Văn hóa có một nội hàm rất rộng, không thể dạy hết được, ngay trong những môn thuộc chuyên ngành văn hóa học. Bởi vậy, chúng ta chỉ giới hạn trong văn hóa giao tiếp. Trong văn hóa giao tiếp, Catherine Kerbrat-Orecchioni đề nghị tập trung vào năm trục chính: một, tầm quan trọng đặt trên việc phát ngôn; hai, cách tiếp cận với các quan hệ liên cá nhân; ba, cách hiểu về phép lịch sự; bốn, mức độ nghi thức hóa; và năm, cách bày tỏ cảm xúc và cảm giác (1). Tôi đề nghị thêm phần ngôn ngữ thân thể như một trục thứ sáu để phù hợp với tầm quan trọng của loại hình ngôn ngữ này trong văn hóa giao tiếp của người Việt Nam.

Riêng trong bài này, xin đề cập đến khía cạnh thứ nhất của văn hóa giao tiếp: Mức độ hoạt ngôn (levels of verbosity).

Trong một số nền văn hóa, người ta đề cao và khuyến khích việc phát ngôn hơn các văn hóa khác. Ví dụ người Palians (thuộc miền nam Ấn Độ) thường được xem là nói rất ít (low verbosity) trong khi người Pháp được xem là nói nhiều (high verbosity); người nói tiếng Anh được xếp vào hạng trung bình (2). Còn người Việt Nam thì sao? Thú thực, tôi không biết. Cho đến bây giờ vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về mức độ hoạt ngôn của người Việt cả. Có điều, cần phân biệt hai môi trường hành ngôn khác nhau. Thứ nhất, ở chỗ riêng tư, trong các câu chuyện phiếm, có lẽ người Việt cũng nói nhiều không thua bất cứ ai cả. Thứ hai, ở nơi công cộng, trong các cuộc hội thảo, người Việt Nam phần lớn, nếu không nói là tuyệt đại đa số, dè dặt và trầm lặng hẳn. Cứ nhìn vào giờ thảo luận trong lớp học của người Việt Nam và của người Tây phương thì thấy ngay. Trong khi người Tây phương, nói chung, sôi nổi bao nhiêu thì người Việt Nam thường lặng lẽ bấy nhiêu. Có lý do văn hóa nào cho hiện tượng nói ít nơi công cộng như vậy không? Tôi nghĩ là có. Ít nhất có ba nguyên nhân chính:

Một, người Việt Nam trọng lễ. Ở nơi công cộng, người ta thường nhường người lớn tuổi và nhiều quyền thế hơn. Ý niệm về bình đẳng trong tranh luận chưa bén rễ sâu trong văn hóa Việt Nam. Phần lớn đều theo văn hóa truyền thống.

Hai, vấn đề thể diện còn ảnh hưởng nặng nề ở Việt Nam và là một trong những trung tâm của văn hóa giao tiếp của người Việt cũng như của người Hoa. Trước đám đông, một mặt, người ta muốn lên tiếng để khẳng định vị thế của mình; nhưng mặt khác, lại sợ nói sai, nói dở hay nói hớ để, hoặc là bị người khác phản đối hoặc là bị người khác cười thầm: trong cả hai trường hợp, người ta đều sợ bị "mất mặt".

Ba, có lẽ do ảnh hưởng của cả một lịch sử dài dằng dặc bị áp bức, người Việt Nam thường sợ việc mở miệng, đặc biệt trước đám đông. Ca dao và tục ngữ Việt Nam cung cấp cả một kho tàng triết lý về việc nói năng. Chẳng hạn, xem ngôn ngữ như một thứ quyền lực: Miệng nhà quan có gan có thép, có ảnh hưởng trực tiếp đến số phận con người: Lời nói đọi máu. Do đó, càng ít nói bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu: Lời năng nói năng lỗi. Trước khi nói nên suy nghĩ chín chắn: Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy; kẻ thất thế càng nên nói ít: Khó nhịn miệng, bồ côi nhịn lời. Nếu phải nói, nên nói, đừng viết: Lời nói gió bay, bút sa gà chết. Nếu viết, nên chọn hình thức phù du nhất: Khôn văn tế dại văn bia. Không nên nói thật: Nói thật mất lòng. Và chỉ nên nói khéo: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, v.v...

Như vậy, trong văn hóa giao tiếp, ngay cả việc ít nói hay im lặng cũng là những sự lựa chọn mang tính văn hóa: chúng cần được diễn dịch trong giao tiếp và cần được giảng dạy trong lớp học.

***

Chú thích:

1. Xem bài “A conceptual framework to help teachers identify where culture is located in language use” của Chantal Crozet in trong cuốn Teaching Invisible Culture, Classroom Practice and Theory do Joseph Lo Bianco và Chantal Crozet biên tập, Language Australia Ltd. xuất bản tại Melbourne, 2003, tr. 39-40.

2. Joseph Lo Bianco & Chantal Crozet (biên tập) (2003), sđd. tr. 41.

Source : VOA







Tìm bài viết này tại:
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/day-ngon-ngu-07-21-2011-125968683.html


Bấm để in Email bài này | Ðóng lại

T.S. Alan Phan - Kẻ cắp gặp bà già

Kẻ cắp gặp bà già -
Tác giả: T.S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa

Bài đã được xuất bản.: 03/08/2011

Trong khi những công dân Tàu ở các nước và khu vực nhỏ bé như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore... học cách làm ăn của Âu Mỹ và tiến nhanh để bắt kịp người da trắng về thu nhập, thì Trung Quốc đại lục lại thoi thóp với lợi tức không quá 200 USD mỗi đầu người mỗi năm (1975).


Trong tiểu thuyết hay phim ảnh, những câu chuyện về kẻ cắp đụng phải bà già có những tình tiết luôn gây thú vị cho người xem. Tuy vậy, những mẩu chuyện kẻ cắp-bà già xảy ra hàng ngày trong thực tế của đời sống cũng không kém phần hào hứng. Đây thực sự là những liều thuốc cười cần cho tim mạch.

Ngân hàng Âu Mỹ và Hy Lạp Trong những xứ sở đã phát triển có tình trạng tiêu xài bê bối nhất từ chính phủ đến người dân phải kể đến Hy Lạp. Trước khi gia nhập Liên Hiệp Âu Châu (EU), các ngân hàng quốc tế thường né tránh nợ công xứ này và không nhà đầu tư nghiêm túc nào có thể tin tưởng vào sự bền vững của đồng drachma. Chính phủ Hy Lạp luôn luôn thiếu hụt về ngân sách và cử tri Hy Lạp luôn luôn thiên về các ứng cử viên xã hội (thích quốc doanh hóa các xi nghiệp thành công và tái phân chia tài sản tư nhân bằng thuế vụ hay bội chi cho các chương trình chánh phủ).

Kết quả sau cùng là một nền kinh tế tụt hậu so với các quốc gia khác ở Âu Châu và những doanh nhân hay các tài năng về mọi ngành thuờng có khuynh hướng rời bỏ Hy Lạp để đi lập nghiệp ở các xứ khác. Nhửng người còn lại thì tìm đủ mọi cách để bòn rút tiền từ chính phủ và có một câu nói phổ thông ở đây là,"Nếu bạn đóng thuế thì chắc bạn không phải là dân Hy Lạp." Tuy vậy, sự suy sụp của tài chính Hy Lạp không trầm trọng lắm vì nợ vay của nước ngòai hiếm và tốn kém.

Mọi chuyện đều thay đổi vào năm 1981, khi Hy Lạp gia nhập Liên Hiệp Âu Châu (EU) và bắt đầu sử dụng đồng Euro như bản vị chính. Các kẻ cắp đánh hơi và nghĩ đây là một miếng mồi ngon. Kẻ cắp số 1 là tập đòan Goldman Sachs và các kẻ cắp nhỏ hơn như Credit Lyonnais, BNP, Deutsche Bank, UBS...chạy theo sau bước chân đại ca không cần suy nghĩ. Trước hết, báo cáo tài chính công của Hy Lạp không đủ tiêu chuẩn để thỏa mãn đòi hỏi pháp lý của EU, nên Goldman Sachs phải tư vấn cho họ cách thức để dấu nợ và thổi phồng số liệu tốt nhằm mục đích vay tiền qua trái phiếu. Sau đó, Goldman Sachs phân phối các trái phiếu này cho đàn em là các ngân hàng Âu Châu. Mọi người hạnh phúc. Chính phủ Hy Lạp có số tiền lớn để tiêu xài thỏai mái, người dân và cò dự án hưởng bao nhiêu là lợi ích từ những chương trình tiêu xài ngắn và dài hạn, các ngân hàng Âu Mỹ thu về bao nhiêu là phí tư vấn và phí phát hành trái phiếu.

Ảnh minh họa: phunu.info

Nhưng cũng giống như chuyện tiểu thuyết, ngày vui lúc nào chóng tàn. Mọi người quên đi một chi tiết rất nhỏ nhặt: nợ đáo hạn thì phải trả. Các kẻ cắp quên nhắc nhở các quan chức chính phủ điều này; và đa số người dân cũng nghĩ rằng họ không liên hệ gì đến việc trả nợ khi họ bỏ phiếu chấp nhận những khỏan vay. Nhưng bà già Hy Lạp cũng không vừa.

Họ nói với kẻ cắp là họ sẽ tuyên bố phá sản và để mặc cho các ngài ăn cắp lo liệu. Các ngân hàng Âu Mỹ sợ tái người. Mất đi hơn 400 tỷ USD sẽ khiến vài ngân hàng cỡ lớn đi theo Lehman Bros ra nghĩa địa và các vị giám đốc ngân hàng sẽ mất job, mất nhà, mất xe, mất vợ, mất nhân tình. Họ thống nhất lại và lobby các chánh phủ Âu Châu phải bỏ tiền ra cứu trợ Hy Lạp. Gói tài trợ năm 2010 với 160 tỷ USD không đi đến đâu, và gói thứ nhì 170 tỷ USD giữ tình hình tạm yên lúc này. Tuy vậy, với số nợ lên đến 580 tỷ dollars hoặc hơn nữa (khỏang 150% của GDP) và lãi suất hơn 14%, Hy Lạp sẽ chẳng bao giờ trả nổi hết nợ. Vấn đề có phá sản hay không chẳng còn là "câu hỏi" nữa, mà đề tài bây giờ là "khi nào thì phá sản".

Ít nhất, các kẻ cắp trong chuyện này, cũng đã "đẩy cây" 330 tỷ dollars cho người dân các nước Đức, Pháp...đóng thuế trả dùm Hy Lạp.

Chính phủ Mỹ và Trung Quốc

Trong câu chuyện này, thật khó mà biết ai là kẻ cắp, ai là bà già? Kẻ nửa cân, người tám lạng? Lịch sử bắt đầu khi Mao Trạch Đông nắm quyền ở Trung Quốc đại lục vào năm 1949. Người Mỹ hoảng sợ nghĩ là con rồng Tàu đã trổi dậy. Tuy nhiên, Chủ Tịch Mao lại trở thành người bạn tốt của đế chế Mỹ bằng cách kìm hãm Trung Quốc trong 30 năm dài với một chánh sách kinh tế tập trung và thoái trào. Trong khi những công dân Tàu ở các nước và khu vực nhỏ bé như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore... học cách làm ăn của Âu Mỹ và tiến nhanh để bắt kịp người da trắng về thu nhập, thì Trung Quốc đại lục lại thoi thóp với lợi tức không quá 200 USD mỗi đầu người mỗi năm (1975).

Năm 1972, kinh tế Mỹ gặp khó khăn khi đà phát triển bị tắc tị với chính sách dầu hỏa của

OPEC, với chiến tranh Việt Nam và với một thị trường nội địa đã bão hòa. Kissinger, đại diện cho nhóm quyền lực Do Thái, thúc đẩy Nixon bắt tay Trung Quốc đại lục để các "kẻ cắp" có cơ hội tiến vào một thị trường 1.2 tỷ dân. Muốn làm một nhân vật lịch sử và cũng bắt đầu gặp rắc rối với cử tri vì kinh tế, Nixon hăng hái "mở cửa" Trung Quốc. Mao và các đồng chí cũng hồ hởi vì đất nước đã quá tiêu điều sau cuộc cách mạng văn hóa vĩ đại.

Vả lại, "bà già" cũng chẳng có gì để mất.

Bà già đón nhận rồi tìm đủ thủ thuật để bòn rút và gặm nhắm tiền nong và công nghệ của kẻ cắp. Bà trở thành kẻ cắp chuyên nghiệp. Sau 30 năm, Trung Quốc giữ giá lao công và tỷ giá hối suất rẻ mạt để các nhà tư bản Âu Mỹ vui vẻ đầu tư và mở cửa thị trường cho hàng hóa Tàu. Các chính trị gia Âu Mỹ cũng hoan hỉ vì cử tri họ có một đời sống sung túc hơn nhờ giá quá rẻ của hàng hóa. Thêm vào đó, tiền Trung Quốc kiếm được từ xuất khẩu lại quay về Âu Mỹ qua việc mua trái phiếu của các chánh phủ Âu Mỹ và các khoản tiền "rửa" của các đại gia Trung Quốc.

Tuy nhiên, kẻ cắp và bà già luôn luôn quên những chi tiết nhỏ nhặt rất bất tiện. Một là nợ lúc nào cũng phải trả khi đáo hạn. Hai là khi anh cho một "kẻ cắp" vay, thì rủi ro mất tiền là điều không sao tránh khỏi.

Trong 35 năm qua, chính phủ Trung Quốc đã lợi dụng sức lao động của hơn tỷ người dân để kiếm được hơn 4 ngàn tỷ dollars cho quỹ ngoại hối. Các đại gia và quan chức Trung Quốc cũng thừa nước đục để "câu" hơn 1.8 ngàn tỷ USD (ước lượng trên các mạng Internet). Con số này đã bốc hơi hết 720 tỷ khi Mỹ áp dụng chính sách hạ giá dollar (khỏang 12%) trong 3 năm qua để kích cầu kinh tế nội địa (thực ra là để cứu các ngân hàng Âu Mỹ). Hiện nay, các công ty thẩm định tín dụng như Moody, S&P, Fitch... dọa là sẽ hạ cấp tín dụng của trái phiếu quốc gia Mỹ; và đảng Cộng Hòa cũng như phong trào Tea Party cũng đang áp lực để Obama không thể vay thêm tiền cho chính phủ. Đồng dollar sẽ mất thêm khỏang 18% nữa nếu 1 trong 2 điều này xảy ra.

Dĩ nhiên, khi nền kinh tế quá tùy thuộc vào thị trường xuất khẩu và túi tiền tiết kiệm có thể bay hơi theo đồng dollar, thì kẻ cắp Trung Quốc lại trúng kế của bà già Mỹ. Thế gộng kềm tạo ra sự đổi ngôi liên tục giữa hai siêu quái này.

Chuyện chúng mình

Một doanh nhân trẻ kể với tôi những thành công và thất bại của anh ta trong 10 năm qua và xin ý kiến vì anh muốn tìm một định hướng mới cho sự nghiệp. Tôi khuyên anh nên đọc đi đọc lại binh pháp của Tôn Tử và chiến thuật của Machiavelli nếu muốn thắng trên thương trường.

Nếu anh chỉ muốn làm người tử tế và văn minh, thì nên đọc sách Lão Tử và Og Mandino. Vấn nạn lớn nhất của anh trong thời đại kim tiền và đám mây kiến thức (cloud computing) này là anh chưa định vị rõ ràng vai trò của mình trong màn kịch của thế giới. Anh sẽ thủ vai kẻ cắp hay bà già? Hay chỉ là một nạn nhân lương thiện và ngu dốt? Bi kịch sẽ xẩy ra khi người nham hiểm và mê tiền lại không biết làm kẻ cắp hay bà già.

TS. Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là aphan@asiamail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Trò nhào lộn của lạm phát (tiếp theo và hết)

Thứ Tư, 13 tháng 7 2011

Trò nhào lộn của lạm phát (tiếp theo và hết)

Trần Vinh Dự

Để lý giải lạm phát ở Việt Nam một cách đơn giản nhất, hãy bắt đầu từ chỗ nền kinh tế Việt Nam trong một giai đoạn dài luôn ở mức tới hạn khả năng sản xuất (tức là không còn các nguồn lực dư thừa). Trong điều kiện tới hạn khả năng sản xuất, để tăng GDP thì cần tập trung vào các yếu tố nền tảng để tăng năng suất lao động nhằm khai thác tốt hơn các nguồn lực hiện có.

Tuy nhiên cuộc chơi tăng năng suất lao động là cuộc chơi nan giải và chỉ thành công trong dài hạn. Việt Nam đã chọn cho mình một hướng đi dễ dàng hơn, nhưng cũng nguy hiểm hơn. Đó là cuộc chơi ngắn hạn thông qua việc bơm liên tục đầu tư (cả công và tư) và tăng chi tiêu của nhà nước để đẩy GDP trong ngắn hạn. Điều này cũng ví như thay vì nuôi con vịt cho nó lớn một cách bình thường (khá mất thời gian), thì chúng ta lại nhồi nhét thật nhiều bánh đúc vào họng con vịt này giống như các bà bán vịt sống ở ngoài chợ để nó tăng cân đột biến.

Vì năng lực sản xuất đã ở mức tới hạn, việc bơm tiền qua đầu tư và chi tiêu công không làm gia tăng sản lượng được bao nhiêu, ngược lại gây tăng giá vì lượng tiền trong nền kinh tế đột nhiên tăng lên mà lượng hàng hóa nó sản xuất ra không tăng tương ứng (học thuyết tiền tệ).

Hoặc nếu sản lượng có tăng trong ngắn hạn do nhà nước tăng tiêu dùng khiến cho tổng cầu tăng đẩy giá ngắn hạn tăng lên theo trong khi tiền lương chưa điều chỉnh kịp khiến các nhà sản xuất có lợi hơn khi sản xuất nhiều hơn, thì về dài hạn, tiền lương cũng sẽ được điều chỉnh tăng khiến sản lượng lại bị co về đúng bằng mức cân bằng dài hạn. Và như thế việc tăng chi tiêu công khi nền kinh tế đang ở mức tới hạn khả năng sản xuất chỉ khiến cho giá cả tăng mà thôi (học thuyết Keynesian).

Chính vì thế, để giảm lạm phát ở Việt Nam thì phải cắt giảm đầu tư và/hoặc chi tiêu công như là một mũi tên bắn trúng 3 mục tiêu:

1.Giảm đầu tư công cũng dẫn tới việc thu hẹp tài trợ ngân sách bằng cách tăng cung tiền;

2.Giảm đầu tư công bằng cách tăng các tiêu chí về hiệu quả đầu tư sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư công;

3.Giảm đầu tư công và chi tiêu công để chấm dứt hiệu ứng chèn lấn (crowd out), tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển;

Để tăng trưởng bền vững thì không thể dựa vào các biện pháp nhồi vịt như ở trên. Việt Nam phải tập trung cải cách thể chế kinh tế để tăng năng suất lao động, coi đây là động lực của phát triển lâu dài.

Chính phủ đã thể hiện rõ quyết tâm thắt chặt cả tín dụng lẫn tài khóa trong năm nay. Các động thái thắt chặt tiền tệ của Chính phủ rất rõ ràng và tới nay đã bắt đầu phát huy tác dụng. CPI đã giảm trong tháng 5 (2,21%) và tháng 6 (1,09%) từ mức đỉnh điểm trong tháng 4 (3,32%). Tuy nhiên giải pháp thắt chặt tài khóa hầu như vẫn chưa thực hiện được bao nhiêu.

Tại Hội nghị giữa kỳ 2011 Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG 2011) cho Việt Nam vào ngày 08-09/6/2011, Bộ Tài chính chưa đưa ra thống kê chính thức về tình hình thực hiện mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) xuống dưới mức 5% GDP. Tuy nhiên, số liệu thu chi ngân sách của 04 tháng đầu năm 2011 mà Bộ này đưa ra cho thấy trong 04 tháng đầu năm 2011, chi NSNN tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái và thu NSNN cũng tăng với tốc độ xấp xỉ (19.1%) so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, trong 04 tháng đầu năm này thì tình hình thâm hụt NSNN chưa có cải thiện đáng kể nào so với cùng kỳ 2010.

Cũng tại Hội nghị này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra con số tổng đầu tư của nhà nước (bao gồm cả đầu tư của DNNN) đã cắt giảm là 80.550 tỷ đồng (tương đương khoảng gần 4 tỷ USD). Tuy nhiên trong số này thì có tới 39.212 tỷ là do DNNN cắt và 15.000 tỷ là do không ứng trước vốn đầu tư cho năm 2012 và không kéo dài thời gian giải ngân vốn kế hoạch của năm 2010. Vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ kế hoạch năm 2011 thực sự bị cắt giảm chỉ có 8.333 tỷ đồng.

Việc hạ nhiệt của CPI có thể khiến cho Chính phủ có động cơ nới lỏng bớt chính sách tiền tệ. Điều này, nếu được thực hiện, sẽ khiến CPI tăng mạnh trở lại. Nếu nhìn vào thống kê tốc độ tăng CPI theo tháng của các năm từ 2007 tới 2011 (xem biểu đồ trong phần 1) thì một đặc điểm dễ nhận thấy là diễn biến CPI của các năm 2007, 2009, và 2010 rất giống nhau: tốc độ tăng CPI cao hồi đầu năm, giảm khá mạnh trong quý 2, ổn định ở quý 3, và tăng tốc trở lại vào quý 4. Riêng trong năm 2008, CPI tăng rất mạnh vào quý 1 và nửa quý 2, giảm rất mạnh từ giữa quý 2 cho tới tận cuối năm.

Diễn biến lạm phát của năm nay sẽ giống như kịch bản các năm 2007, 2009, và 2010 hay sẽ giống như kịch bản năm 2008 phụ thuộc vào các nỗ lực chính sách tiếp theo của chính phủ. Nếu việc thi hành Nghị quyết 11 bị lơ là, và chính sách tiền tệ bị nới lỏng sớm, thì chắc chắn lạm phát sẽ quay trở lại trong quý 4. Và nếu điều đó xảy ra, thì vẫn có lý do để lo ngại rằng kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm nay sẽ vỡ trận.

Tóm lại, lạm phát đang và sẽ tiếp tục là vấn đề vĩ mô lớn nhất của năm nay. Tốc độ tăng CPI có vẻ như đang giảm bớt vào tháng 5 và tháng 6, nhưng còn xa mới có thể nói rằng đã lập lại sự ổn định (dù là tạm thời) về mặt bằng giá cả. Việc tiếp tục triệt để thực hiện Nghị quyết 11 có ý nghĩa sống còn cho mục tiêu ổn định vĩ mô này. Vì lạm phát đang là yếu tố vĩ mô duy nhất đang từng ngày từng giờ bào mòn sức chịu đựng của đại bộ phận công chúng, Chính phủ cần hết sức thận trọng trong việc nới lỏng các công cụ tài khóa và tiền tệ, cương quyết tránh nới lỏng các công cụ này quá sớm.

Source : VOA
Tìm bài viết này tại:
http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/du/tro-nhao-lon-cua-lam-phat-2-07-13-2011-125508558.html

Trần Vinh Dự - Trò nhào lộn của lạm phát (1)

Trò nhào lộn của lạm phát

( Thứ Ba, 12 tháng 7 2011 )


Trần Vinh Dự


Báo cáo mới nhất của Chính phủ đã nới chỉ tiêu về lạm phát lên mức khoảng 15% tới 17%. Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cho rằng kiềm chế được lạm phát ở mức 17% là rất khó khăn và nếu giữ được ở 17% tới 18% cũng đã là một thành công.

Đây là lần thứ 3 liên tiếp trong năm nay Chính phủ nới chỉ tiêu về lạm phát. Trong lần điều chỉnh đầu tiên vào cuối quý một, chỉ tiêu về CPI được điều chỉnh từ 7% lên 11,75%. Lần thứ hai từ 11,75% lên 15% vào cuối tháng 5 và lần thứ 3 từ 15% lên 17% vào cuối tháng 6. Và theo cách nói của Bộ trưởng Phúc thì khả năng còn tiếp tục phải điều chỉnh lên nữa không phải là không có.

Nhìn từ một góc độ nào đó, việc phải liên tục nới chỉ tiêu lạm phát cho thấy sự bối rối của Chính phủ. Trên thực tế, ngay từ đầu năm đã có nhiều dự báo của giới chuyên gia về lạm phát của năm 2011 không dưới 15%, tuy nhiên việc đặt các mục tiêu 7%, rồi 11,75% cho thấy những người điều hành chính sách đã lạc quan hơn so với thực tế của nền kinh tế khá nhiều. Biến động giá cả của 6 tháng đầu năm nay đã khiến các phán đoán của đội ngũ làm chính sách liên tục bị “hớ”. Không còn nghi ngờ gì nữa, lạm phát là bài toán vĩ mô hóc búa nhất của năm nay.

Vậy thì lạm phát là gì, và tại sao nó lại là bài toán vĩ mô hóc búa nhất của năm nay?

Lạm phát, theo cách hiểu giản đơn nhất, là sự việc mặt bằng giá cả trong nền kinh tế tăng liên tục theo thời gian. Nó khác với việc giả cả tăng vọt lên trong một giai đoạn ngắn do một biến cố độc lập nào đó (như việc tăng lương tối thiểu) và sau đó không tăng lên nữa. Điểm khác biệt này là hết sức quan trọng vì nếu việc tăng giá (bao gồm cả giá nhân công) chỉ xảy ra một lần (và đồng bộ) rồi thôi, thì trên nguyên tắc nó không ảnh hưởng gì tới người dân. Lý do là thu nhập danh nghĩa (tính bằng tiền) của người dân tăng lên theo một tỷ lệ nhất định nhưng mặt bằng giá cả cũng tăng lên đúng như vậy và vì thế thu nhập thực tế (đo bằng khả năng mua hàng hóa và dịch vụ của thu nhập danh nghĩa) vẫn như cũ.

Thế nhưng, đúng như định nghĩa của lạm phát, nó không phải là việc tăng mặt bằng giá cả một lần duy nhất, mà nó là một quá trình liên tục và thông thường là bất đối xứng. Giá cả hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả giá nhân công, tăng trong một giai đoạn dài và mức độ tăng không giống nhau. Tính bất đối xứng của việc tăng giá khiến cho có một số doanh nghiệp hoặc một số người có thể hưởng lợi từ lạm phát khi giá cả của các sản phẩm của họ tăng nhanh hơn mặt bằng chung và đặc biệt là tăng nhanh hơn chi phí đầu vào. Ngược lại, cũng có nhiều doanh nghiệp hoặc cá nhân bị thiệt hại vì lạm phát khi giá bán sản phẩm của họ không tăng kịp với tốc độ tăng giá chung.

Đối với tuyệt đại bộ phận những người sống bằng lương, lạm phát là một tai họa vì tiền lương thường không được điều chỉnh nhanh như giá hàng hóa và dịch vụ. Thí dụ như lương tối thiểu ở Việt Nam thường chỉ được điều chỉnh một hoặc hai năm một lần. Sau khi được điều chỉnh, người lao động phải chờ một thời gian dài nữa thì tiền lương của họ mới có hi vọng tăng. Trong suốt quá trình đó, lạm phát sẽ bào mòn thu nhập thực tế của họ vì sức mua của thu nhập danh nghĩa giảm dần do giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Nếu tiền lương của họ từ đầu năm tới nay không tăng thì lạm phát ở Việt Nam đã khiến cho thu nhập thực tế của họ giảm đi tới 13,3%. Vì đây là một con số vô cùng lớn với giới trung lưu và người nghèo, Chính phủ có lý do để lo ngại sâu sắc về cuộc sống đang ngày càng khó khăn đối với người dân và kéo theo là nguy cơ bất ổn xã hội. Cũng vì lý do này, lạm phát vẫn được coi là thứ thuế ngầm (và cực kỳ nguy hiểm) đánh vào giới trung lưu và người nghèo.




Liệu CPI của Việt Nam năm 2011 có sẽ tiếp tục đi xuống vào sáu tháng cuối năm như hồi năm 2008 hay sẽ lại đi lên dần từ tháng 8 giống như hồi năm 2007, 2009, và 2010? Điều này phụ thuộc vào việc Chính phủ có tiếp tục thắt chặt tiền tệ hay không.

Thế nhưng thứ thuế ngầm này từ đâu mà có?

Nếu đặt ra câu hỏi về nguồn gốc của lạm phát, bạn sẽ nhận được cả nghìn câu trả lời khác nhau. Điều này khiến cho khái niệm lạm phát trở thành một điều rất khó hiểu đối với những người không chuyên. Có lẽ vì thế, nó được phủ lên một lớp màn bí ẩn và nhiều khi được diễn giải là một thứ từ trên trời rơi xuống mà chẳng có ai phải chịu trách nhiệm về nó.

Trên thực tế thì lạm phát là một hiện tượng kinh tế, và vì thế nó là sản phẩm của hành vi của con người, mà quan trọng nhất là các quyết định điều hành vĩ mô của nhà nước. (còn tiếp)

Source : VOA / blog TS Trần Vinh Dự

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Trần Hữu Dũng - Phỏng vấn thi sĩ Nguyễn Đức Sơn

Phỏng vấn thi sĩ Nguyễn Đức Sơn

Trần Hữu Dũng
27 January 2007


Câu hỏi của nhà thơ Trần Tiến Dũng:

1. Được biết lịch sử văn học của địa danh Phương Bối Am – Bảo Lộc gắn liền với người an trú trong quá khứ, thiền sư – nghệ sĩ Thích Nhất Hạnh và người an trú trong hiện tại, thi sĩ Nguyễn Đức Sơn. Vì ngày nay có nhiều kẻ hậu bối chưa từng biết qua, xin ông kể lại mối nhân duyên ấy cũng như mối liên hệ lúc này giữa ông và Sư Ông Làng Mai.
2. Sau khoảng thời gian dài 40 năm, hôm nay ông nhìn nhận gì về việc dư luận thế giới cho rằng: Thiền sư Thích Nhất Hạnh là nhân vật có ảnh hưởng về tư tưởng và tâm linh chỉ sau Đức Lạt Lai Đạt Ma. Với ông có gì khác biệt giữa thầy Nhất Hạnh một người anh văn nghệ, bạn tu hành và Sư Ông Làng Mai, một nhân vật có tầm ảnh hưởng quan trọng của thế giới đương đại.
3. Ý kiến cá nhân ông về Pháp Môn Thiền của thiền sư Nhất Hạnh? Ông có tin rằng một khi Pháp môn ấy được phép phổ biến rộng ở trong nước sẽ làm thay đổi tương lai của Phật Giáo Việt Nam không?
4. Thông tin gần đây cho biết Thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam lần thứ hai với Phật sự làm Đại Đàn Tràng Chẩn Tế Giải Oan ở tầm vóc quốc gia cho các nạn nhân chiến tranh. Chính kiến của ông về việc này ra sao?
5. Dư luận văn nghệ đồn rằng trong chuyến về Việt Nam lần trước Thiền sư Thích Nhất Hạnh có ghé thăm ông và Phương Bối Am, có đặt vấn đề với vợ ông chuyện trở về sở hữu lại Phương Bối Am – Nơi ngày xưa Thiền sư an trú. Lời đồn đó có đúng không và quyết định của cá nhân ông ra sao?
6. Bây giờ những người hâm mộ ông và dư luận báo chí đều gọi ông bằng biệt danh Sơn Núi. Con đường của một thi sĩ thường có khuynh hướng nhập với xa lộ của các đạo sư. Thưa thi sĩ Sơn Núi, bây giờ ông đang ở đâu, đi đâu, đến đâu thưa ông?

Trả lời của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn:

1. Khoan nói tới cái não trạng hồn nhiên vô số tội, ở đây tôi muốn nói với anh như là một kẻ săn tin cho đài nào cũng được, nhất là BBC. Rất bình dị và thú vị là mấy câu hỏi anh nêu. Vượt tầm mức quốc gia đáng có và phải có, chúng đụng tới cái gì lớn lao vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại. Ngoài tôi ra chắc chắn không có ai thay thế để trả lời đâu. Nhưng tránh những cái nhạy cảm quá dễ đưa tới ngộ nhận còn lâu mới đạt tới pháp đàm, tôi tạm không nói đến hai câu 1 và 5. Xin lần lượt trả lời những câu còn lại:
2. Vâng, đúng như anh nói “Dư luận thế giới cho rằng Thiền sư Nhất Hạnh là nhân vật có tầm ảnh hưởng về tư tưởng và tâm linh chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma.” Nhưng đó là thống kê với tinh thần top-ten xuất phát từ cả một nền văn hóa độc thần chịu hết xiết. À, xin lỗi nghe, “thầy Nhất Hạnh một người anh văn nghệ” hồi nào? Còn “Một nhân vật có tầm ảnh hưởng quan trọng của thế giới đương đại” thì đúng thôi, nhưng quá rõ ràng là cái thế giới đương đại đó là thế giới của bọn “sùng bái tiếng chó tru mèo mửa” (tác giả viết trên blog) cỡ Mai Cồ dơ dáy của Mỹ và mới đây Bi-Rên gớm ghiếc của Hàn mà tờ báo lớn nhất nước là Tuổi Trẻ đã kêu than không biết bao giờ Việt Nam mới có!!! Nhất là, nhất là, chẳng hạn bọn thơ ca Tân Hình Thức nhảm nhí trong và ngoài nước, nhảm nhí còn hơn bọn bám cứng truyền thống bằng cách chỉ ôm lựu đạn thúc thủ trong một hốc kẹt nào đó.
Còn “Giải Oan”? Ủa, từ Làng Mai – Pháp, qua Mỹ gần hơn mà! Hãy giải oan cho cả một dân tộc quá dư thừa vật chất nhưng hoàn toàn thiếu sót tâm linh. Nhé, Sư Ông! Rồi còn thừa đô la cứ đổ về Việt Nam, giải oan cho bao nhiêu người… Cứ xem đô la là tiềm năng của đất nước, chứ không phải cho bất cứ ai nửa sống nửa chết từ thuở mấy ông kẹ cứ nằng nặc đòi làm “bạn dân” cho đến “đầy tớ nhân dân.”
3. Không, tôi gần như không phân biệt Tịnh Độ, Thiền Tông và Mật Giáo gì cả. Tôi không thấy có gì khác nhau, chẳng hạn, giữa “tình yêu” và “tình dục,” “trong sáng” và “trong háng,” “ngoại tình” và “nội tình”… làm sao! Nhưng tôi biết chỉ có đứa ngu mới đòi bỏ hai thời công phu, làm cách mạng vụn vặt và xuẩn ngốc khi đổi từ “Phật” thành “Bụt” dù tôi vẫn không phân biệt nổi “Đạo Phật đi vào cuộc đời” khác với “Đạo Phật đi vào cặp đùi,” ví dụ, khác ở chỗ nào.
Ừ đúng. Nhưng đâu cần “pháp môn ấy được phổ biến sâu rộng trong nước sẽ làm thay đổi tương lai của Phật Giáo Việt Nam”! Hiện tất cả chủa chiền ở Việt Nam ít ra đều theo… độc thần giáo mà! Hỏi nhỏ với các thầy trụ trì thì rõ. Cao Điểm Thời Mạt Pháp! Thà cứ làm ra mặt như những anh em người Chăm ở Ninh Thuận và theo đạo Tin Lành thật… đông vui. Không sao đâu, cả hành tinh đều vậy, “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn” mà! Wait and see!
4. Ồ Chẩn tế! Tốt lắm chứ, dẫu sặc mùi biểu dương lực lượng mà Phương Đông nói chung và Phật Giáo nói riêng đã né từ trong ruột. Thế gian pháp đó. Đang đói gần chết thấy nửa củ khoai sùng, đớp liền, thoát nạn, từ từ tính sau. Có lựu đạn vớ vẩn chứ không có bom tấn uy nghi đâu mà sợ. Còn giải oan? Tốt lắm. Nhưng trước hết không phải giải oan cho Việt Nam mà phải giải oan cho Mỹ và Va Ti Can, hai tác nhân lớn nhất đầy đọa trái đất này dưới chiêu bài gì gì đó, mệt quá, vì ai cũng biết. Ông Nietzsche ơi, Cơ Đốc Giáo không phải nguy hại riêng cho thời đại ông đã sống mà cho mọi thời đại, vì nó là độc thần, là “duy ngã độc tôn” nằm sâu trong xương cốt của cả nhân loại bao gồm cả người Việt Nam và Phật tử Việt Nam! Đã tới lúc phải nói thẳng, nói thật, rằng hai hòn đá bọc nhung cạ nhau mãi chỉ tổ làm rách nhau chứ làm sao ra lửa được.
6. Tôi thích hỗn danh Sơn Núi mà kẻ tức khí đặt ra ngầm ý bảo đó là đồ… vô chính phủ, đồ… dơ dáy. Chứ hoàn toàn không phải tôi tự đặt như Nguyễn Đạt nào đó ẩn ức đã viết trên mạng một tờ báo hải ngoại dù biết rất rõ khoản đó.
Ừ đúng, “Con đường của một thi sĩ thường có khuynh hướng nhập với xa lộ của các đạo sư,” nhưng đó là những thi sĩ què đầy rẫy trong và ngoài nước. May mà trước đó quá lâu tôi đã từng biết:


Khi thơ ca

Đang ngáp

Thì đạo pháp

Không nên tiếp sức

Mọi ẩn ức

Đồ bỏ

Với chuông mõ

Các thứ
Mà có tờ báo nào trong ngoài chịu đăng đâu, dù tôi biết họ đang bế tắc quá nặng nề, thi sĩ lẫn tăng sĩ.
“Thưa thi sĩ Sơn Núi, bây giờ ông đang ở đâu, đi đâu, đến đâu thưa ông?”
Trịnh trọng quá nhưng được quá. Tôi đang ở đây, không phải Nga, Tàu, Mỹ, Pháp gì cả. Vui vẻ. Trong chảo lửa. Nhưng chưa ca… bài ca con cá nó sống vì nước. Tuy vậy, thỉnh thoảng… điên đầu nghe đài RFA hay BBC gì gì đó của ông giới thiệu cái bản gì gì đó “Đường tới vinh quang” với câu mở: “Cùng trèo lên đỉnh núi cao vời vợi… để ta khắc tên mình lên đó” của cái thằng xuẩn trí nào đó. Nhưng không sao, trước 75, tôi đã có một bài ngắn trong thi phẩm Tịnh Khẩu:


Tôi định có một ngày nào thật thảnh thơi

Leo lên trời

Ỉa
Mà lúc đó chưa có sợi nano, để NASA có thể làm thang vũ trụ, cho… khế cơ khế lý, đông tây kim cổ hòa điệu như global village. Và biết đâu sau này sẽ có vị dễ dàng đem xuống cuốn Tân Tân Ước thế cho Tân Ước… lão hóa! Như cái nền áo phông chính hiệu của một em mang từ Mỹ về đang đi đứng rất chảnh trong sân chùa. Vâng, “Relax XXX. Just believe me!” Vâng, còn chỗ nào mà Freud, Jung… và đủ kích cỡ giáo chủ không đáp ứng được thì đã có… súng! Tôi có súng nhiều nhất. Tin tôi đi. Bắt buộc phải tin. Không tin tôi bắn. Hơn hẳn mọi quốc gia, nhiều chính khách Mỹ nói thẳng thừng Mỹ không có bạn thâm niên mà chỉ có bạn chiến lược. Cho thật sự trọn vẹn, Mỹ hãy đẩy mạnh tư tưởng thực dụng đáng nể của mình bằng cách in lên áo phông bán nửa tiền hay cho không với hàng chữ ngắn gọn, HÃY TIN TAO ĐI, NẾU KHÔNG TAO BẮN.
(Trần Tiến Dũng ơi, “TAO” là Thượng Đế, là Mỹ Quốc, là Cái Ngã đều đúng. Tôi quá mệt, viết lếu láo, nhưng đừng thêm thắt, sửa đổi chút gì. Bằng không, nhất định đừng đăng. Rất cám ơn.)

Bảo Lộc, 20/03/2007

NGUYỄN ĐỨC SƠN

tức

SƠN NÚI


Source : DA MAU

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Juarroz, Roberto - Những mảnh đoạn thẳng đứng [Gần như thơ]

Juarroz, Roberto

Những mảnh đoạn thẳng đứng [Gần như thơ]

(Diễm Châu dịch)



GẦN NHƯ THƠ





4

Suy tưởng giữa hai người, như thể làm điều suy tưởng cũng như làm tình.



6

Một cách tìm thấy mình: ngã ngửa trên một người khác và, khi quay lại, nhận thấy rằng người khác kia là mình. Một cách lạc mất bản thân: lượm cây gậy lên, cây gậy không tựa vào đâu.



10

Cái hiển hiện là vật trang sức của cái không hiển hiện.



15

Đóng một chiếc đinh lên bức vách tâm hồn để máng lên đấy hình ảnh của tâm hồn.



21

Một cơn khát cảm thấy trong mơ đã khiến chúng ta uống ngoài giấc mơ.



24

Tắt một ngọn đèn khiến tôi bị chói lòa hơn là thắp nó lên.



29

Ánh sáng nháy mắt về phía tôi. Tôi đáp trả nó bằng cách nháy mắt về phía nó với chiếc bóng của tôi.



42

Suy tưởng của tôi là cái gì quá gần gũi khiến tôi không thể chạm tới nó.



43

Ở nơi ánh sáng không soi sáng, có lẽ bóng tối soi sáng.



50

Ta không thể chia sẻ mùi vị của chính mình. Thế nhưng, đôi khi ta tin rằng mình nhận ra cùng một mùi vị ấy ở những nơi khác.



55

Cả lời nói nữa cũng được phú cho một ánh mắt.



58

Những cái tên chiếm ngụ cuộc đời chúng ta chắc chắn là an ủi chúng ta về tất cả những gì không có tên.



68

Khi có ai đó chết thì còn lại một không gian sống động, từ đó tới với chúng ta cái nhìn được tháo gỡ từ sự vắng mặt của người ấy. Sự vắng mặt là một cái nhìn: cái nhìn khác.



73

Có những từ ngăn chận cái chết, dẫu như ta không biết, khi ta tìm thấy chúng, làm cách nào phòng ngừa chúng khỏi cái chết.



86

Âm nhạc làm đậm đặc thời gian một cách huyền bí.



91

Già hơn sự sống. Trẻ hơn cái chết. Tuổi của thơ đó chăng?



95

Đôi khi đêm tối biến thành đá và sụp xuống con người. Như thế nó trở thành nấm mộ hoàn hảo nhất.



106

Cái gì khiến chúng ta gần lại trung tâm hơn nữa, sự sống hay cái chết? Có những sự liên đới dị kỳ kêu đòi chúng ta và khiến chúng ta quay đầu lại như thể chúng ta cảm thấy trước, đối với con người, một sứ mệnh khác không được trần bày.


(trích Những mảnh đoạn thẳng đứng, 1994)





------------------------

Ghi chú của dịch giả:

ROBERTO JUARROZ (1925-1995) là một nhà thơ Á-căn-đình, được thế giới biết tới nhiều, có lẽ chỉ sau Jorge Luis Borges, một người đồng hương của ông. Roberto Juarroz là tác giả của mười lăm tập thơ mang cùng một tựa đề, chỉ khác số thứ tự: Thơ thẳng đứng. Các bài trong mỗi tập cũng không có tựa, chỉ được ghi số ả-rập. Ngoài ra, ông còn viết một vài cuốn sách bằng văn xuôi, trong số đó đáng kể là Thơ và sáng tạo (1980); Thơ và thực tại (1987); Những mảnh đoạn thẳng đứng (1994); Trung thành với ánh chớp,..

Những mảnh đoạn thẳng đứng (José Corti, Paris, 1994) là “những hạt nhân thiết yếu của suy tưởng và thơ”. Tác giả của chúng “khước từ việc khai triển” và chúng ta có ba phần: gần như thơ gồm 106 đoạn; gần như lý trí gồm 205 đoạn và gần như giả tưởng gồm 124 đoạn. Những mảnh đoạn này gợi nhớ tới Những tiếng nói của Antonio Porchia, một người bạn thân thiết của Roberto Juarroz.

Trên đây là những “trích đoạn” trong sách được dịch theo bản Pháp văn của Silvia Baron Supervielle, như một món quà dành cho bạn đọc Tiền Vệ, trước khi chúng ta đề cập tới Thơ thẳng đứng của Roberto Juarroz. Các số ghi ở mỗi phần là số ghi trong nguyên tác.