Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Chương 7: Các thẩm phán liên bang

Chương 7: Các thẩm phán liên bang

Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2004


Các nhân vật chính của hệ thống pháp lý liên bang là những người đảm nhiệm chức vụ thẩm phán và chánh án. Những người này có đặc điểm gì để phân biệt họ với toàn thể các công dân còn lại? Có những phẩm chất nào - cả chính thức và không chính thức - để những người này được bổ nhiệm vào đội ngũ đó? Các thẩm phán được lựa chọn như thế nào và ai là người tham gia trong quá trình này? Các thẩm phán phải học tập như thế nào để trở thành thẩm phán? Các thẩm phán được rèn luyện như thế nào và khi nào họ sẽ bị bãi miễn?
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ HOÀN CẢNH XUẤT THÂN CỦA CÁC THẨM PHÁN LIÊN BANG
Người dân Mỹ gắn bó với ý niệm rằng một người sinh ra trong hoàn cảnh tầm thường nhất (như Abraham Lincohn) một ngày nào đó cũng có thể trở thành tổng thống của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, hoặc ít nhất là thẩm phán của Tòa án tối cao. Cũng như hầu hết các truyền thuyết, truyền thuyết này cũng có một phần sự thật trong đó. Về nguyên tắc, mọi người đều có thể trở thành một quan chức chính phủ xuất chúng, và có một số ví dụ rất nổi tiếng về những người có xuất thân thấp kém song đã đạt tới đỉnh cao quyền lực. Tuy nhiên, các thẩm phán liên bang Mỹ, cũng giống như các quan chức chính phủ khác và những người đứng đầu các ngành thương mại và công nghiệp, thường xuất thân từ tầng lớp trung lưu và thượng lưu của đất nước này.
Các thẩm phán hạt
Dữ liệu về hoàn cảnh xuất thân của tất cả các thẩm phán hạt của liên bang trong 210 năm qua không được thu thập, song đã có một số lượng khá lớn dữ liệ u về các thẩm phán phục vụ trong những thập niên gần đây.
Trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ thẩm phán tòa án liên bang, đa số các thẩm phán đều đã là thẩm phán của các tòa án bang hoặc địa phương. Nhóm chiếm đa số tiếp sau đó là những người đã làm việc trong các lĩnh vực chính trị hoặc chính quyền hoặc - khiêm tốn hơn - trong các hãng luật có quy mô lớn. Những người làm việc trong các hãng luật nhỏ hoặc các giáo sư giảng dạy môn luật chỉ chiếm số lượng nhỏ.
Quá trình học tập của các thẩm phán cho chúng ta thấy đôi điều về phẩm chất ưu tú của họ. Tất cả đều tốt nghiệp đại học/cao đẳng; có khoảng một nửa trong số họ đã theo học tại các trường đại học nổi tiếng ở miền Đông Bắc nước Mỹ với học phí rất đắt đỏ hoặc các trường đại học tư khác để lấy bằng tốt nghiệp đại học hoặc bằng chuyên khoa luật. Các thẩm phán cũng khác với toàn bộ công chúng nói chung ở chỗ họ có một xu hướng mạnh mẽ về “tính kế nghiệp” - có nghĩa là các thẩm phán thường xuất thân từ những gia đình có truyền thống làm việc trong lĩnh vực tư pháp hoặc dịch vụ công.
Mặc dù 51% dân số Mỹ là phụ nữ, song các thẩm phán hầu như hoàn toàn là nam giới. Cho tới tận nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter (1977-1982), mới chỉ có chưa đầy 2% các thẩm phán hạt là phụ nữ, và ngay cả với những nỗ lực có chủ ý nhằm thay đổi tình trạng này, chỉ có 14,4% trong số những người được Jimmy Carter bổ nhiệm vào vị trí thẩm phán hạt là phụ nữ. Các nhóm chủng tộc thiểu số cũng chỉ chiếm một tỷ lệ đại diện rất ít ỏi trong số các thẩm phán, không chỉ về con số tuyệt đối mà còn cả tỷ lệ so sánh trên số dân. Cho tới tận thời điểm hiện nay, chỉ có Jimmy Carter đã bổ nhiệm một số lượng đáng kể những người không thuộc chủng tộc Anglo vào nhánh tư pháp - trên 21%. Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton (1993 - 2001), đã diễn ra một sự thay đổi lớn. Trong sáu năm đầu cầm quyền, 49% số người ông bổ nhiệm giữ các chức vụ trong ngành tư pháp là phụ nữ hoặc thuộc nhóm thiểu số.
Có khoảng chín phần mười các thẩm phán hạt thuộc cùng một đảng phái chính trị với tổng thống bổ nhiệm họ, và xét về mặt lịch sử thì có khoảng 60% trong số họ đã tham gia hoạt động đảng phái rất tích cực.
Trung bình, một thẩm phán thường ở vào độ tuổi 49 khi được bổ nhiệm. Sự khác biệt về độ tuổi bổ nhiệ m hầu như không đáng kể giữ a các nhiệm kỳ tổng thống khác nhau, và không có xu hướng sai lệch theo thời gian giữa các chính quyền khác nhau.
Các thẩm phán tòa phúc thẩm / thượng thẩm
Các thẩm phán tòa phúc thẩm/ thượng thẩm thường có nhiều kinh nghiệm hơn trong ngành tư pháp trước khi được bổ nhiệm so với các thẩm phán tại tòa sơ thẩm, và họ cũng thườ ng, nếu không nói là nhiều khả năng hơn, theo học tại những trường danh tiếng vùng Đông Bắc và các trường đại học tư nổi tiếng khác.
Xét về khía cạnh đảng phái chính trị, hầu như không có sự khác biệt giữa việc bổ nhiệm thẩm phán tại các tòa sơ thẩm với thẩm phán tòa phúc thẩm/thượng thẩm. Tuy nhiên, các thẩm phán tòa phúc thẩm/thượng thẩm thường có xu hướng hoạt động đảng phái tích cực hơn so với các đồng sự của họ tại tòa sơ thẩm.
Sáng kiến của Clinton nhằm làm cho ngành tư pháp phản ánh chính xác hơn thành phần chủng tộc và giới của nước Mỹ cũng được thể hiện rõ rệt trong việc bổ nhiệm các thẩm phán tòa phúc thẩm/thượng thẩm. Một phần ba trong số những người được ông bổ nhiệm giữ chức vụ này là phụ nữ, và Clinton đã bổ nhiệm nhiều người Mỹ gốc Phi, Á và Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha vào chức vụ này hơn bất cứ tổng thống nào khác.
Đến lượt mình, Tổng thống George W. Bush (con) cũng thể hiện sự cam kết đối với tính đa dạng về chủng tộc và giới của nước Mỹ. Một ví dụ là gần một phần ba số thẩm phán tòa án hạt do ông bổ nhiệm thuộc nhóm “phi truyền thống” - tức phụ nữ và nhóm thiểu số.
Các thẩm phán Tòa án tối cao
Từ năm 1789, đã có 106 nam giới và hai phụ nữ ngồi vào ghế thẩm phán tại tòa án tư pháp cấp cao nhất của Hoa Kỳ. Mặc dù có lẽ khoảng 10% trong số họ thực sự xuất thân từ tầng lớp dưới, song phần lớn các thẩm phán này đều xuất thân từ những gia đình có hoạt động đảng phái rất tích cực, và khoảng một phần ba trong số họ có quan hệ với các luật gia và có liên hệ chặt chẽ với các gia đình có truyền thống phục vụ trong ngành tư pháp.
Cho tới tận thập niên 1960, Tòa án tối cao vẫn chỉ bao gồm các thành viên nam giới và da trắng, nhưng vào năm 1967, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bổ nhiệm Thurgood Marshall làm thành viên người Mỹ gốc Phi đầu tiên của Tòa án. Khi Marshall nghỉ hưu vào năm 1991, Tổng thống George H. W. Bush (cha), cha của Tổng thống George W. Bush (con), đã thay thế ông bằng một người Mỹ gốc Phi khác, ông Clarence Thomas. Năm 1981, rào cản về giới đã bị phá vỡ khi Tổng thống Ronald Reagan bổ nhiệm Sandra Day O’ Connor vào một chức vụ tại Tòa, và 13 năm sau có thêm một phụ nữ nữ a được bổ nhiệm là Ruth Bader Ginsburg.
Về những nghề nghiệp phi chính trị của các thẩm phán Tòa án tối cao, tất cả 108 người này đều họ c luật và đã hành nghề luật ở một số giai đoạn trong sự nghiệp của họ. Chỉ có 22% đang làm việc tại các tòa án bang hoặc liên bang ngay trước khi được bổ nhiệm, mặc dù có hơn một nửa đã từng làm thẩm phán tại một thời điểm nào đó trước khi được bổ nhiệm vào Tòa án tối cao. Cũng giống như những đồng sự của mình tại các tòa án liên bang cấp thấp hơn, các thẩm phán Tòa án tối cao thường tham gia hoạt động chính trị tích cực hơn so với người dân Mỹ bình thường, và hầu hết trong số họ đều có cùng các định hướng về chính trị và lý tưởng với tổng thống bổ nhiệm họ.
PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA CÁC THẨM PHÁN LIÊN BANG
Mặc dù không có một tiêu chuẩn chính thức nào về phẩm chất và năng lực của vị trí thẩm phán liên bang, song có một số yêu cầu không chính thức được xác định rất rõ ràng.
Các tiêu chuẩn chính thức về phẩm chất và năng lực
Hiến pháp cũng như luật pháp không hề quy định về các phẩm chất và năng lực cần thiết để một người có thể làm việc tại Tòa án tối cao hoặc các tòa án liên bang cấp thấp hơn. Hiến pháp chỉ nêu rõ rằng “quyền lực về tư pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ cần phải được trao cho một Tòa án tối cao” cũng như các tòa án liên bang cấp thấp hơn khác mà Quốc hội có thể lập ra (Điều III, Mục 1) và rằng tổng thống, “do và cùng với sự tư vấn và đồng thuận của Thượng viện, sẽ bổ nhiệm… các thẩm phán của Tòa án tối cao” (Điều II, Mục 2). Quốc hội đã áp dụng quy trình lựa chọn tương tự đối với tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Không hề có một kỳ thi nào được đặt ra để người được bổ nhiệm phải vượt qua, không có quy định về độ tuổi tối thiểu, không có quy định về việc các thẩm phán phải là công dân bản xứ hoặc công dân thường trú hợp pháp, và cũng không có yêu cầu nào về việc các thẩm phán phải có một bằng tốt nghiệp ngành luật.
Các yêu cầu không chính thức
Có ít nhất bốn yếu tố không chính thức song hết sức thiết yếu để xác định ai sẽ có thể đảm nhiệm chức vụ thẩm phán tại các tòa án Mỹ: năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị, sự khẳng định mong muốn, và yếu tố may mắn.
Năng lực chuyên môn: Mặc dù ứng cử viên cho những chức vụ trong ngành tư pháp Hoa Kỳ không nhất thiết phải là các luật sư, song có một thông lệ về việc bổ nhiệm các luật sư - những người nổi bật về khả năng chuyên môn. Mặc dù các quy định chính trị có thể cho phép một tổng thống thưởng cho một đồng minh kỳ cựu của mình vị trí thẩm phán tại một tòa án, song theo truyền thống, người ta thường kỳ vọng rằng vị thẩm phán tương lai phải có danh tiếng nhất định về năng lực chuyên môn, và danh tiếng này càng phải cao đối với vị trí thẩm phán tại Tòa án tối cao và các tòa phúc thẩm so với tòa sơ thẩm.
Phẩm chất chính trị: Hầu hết những ứng cử viên cho vị trí thẩm phán đều phải có thành tích nhất định về hoạt động chính trị vì hai lý do. Thứ nhất, ở một mức độ nào đó, vị trí thẩm phán vẫn được coi là một phần của hệ thống chính trị bảo trợ; những người đã phục vụ trong đảng phái thường có nhiều khả năng được bổ nhiệm làm thẩm phán liên bang hơn so với những người không thuộc đảng phái. Thứ hai, một số hoạt động chính trị của vị thẩm phán tương lai thường là cần thiết, bởi vì nếu không như vậy thì ứng cử viên đơn giản là không được biết đến bởi tổng thống, các thượng nghị sĩ hoặc lãnh đạo đảng phái tại địa phương - những người sẽ gửi cho tổng thống tên của ứng cử viên vào vị trí thẩm phán.
Sự khẳng định mong muốn: Mặc dù rất nhiều người coi việc ai đó công khai bày tỏ mong muốn được trở thành thẩm phán liên bang là không đúng đắn và thiếu sự điềm đạm của một quan tòa, song một số thẩm phán tương lai đã tự mình tiến hành những chiến dịch vận động kín đáo hoặc ít nhất cũng phát tín hiệu rằng họ đã sẵn sàng để phục vụ tại tòa án. Sẽ chỉ có rất ít người thừa nhận đang tích cực tìm kiếm sự bổ nhiệm, nhưng các giai thoại cho thấy rằng các luật sư thường đặt mình vào những vị trí sao cho tên của họ sẽ được xem xét đến khi có một ghế trống cần bổ nhiệm.
Yếu tố may mắn: Một sự ngẫu nhiên may mắn luôn tồn tại trong hầu như tất cả các trường hợp bổ nhiệm thẩm phán. Là thành viên của một đảng thích hợp tại thời điểm phù hợp hoặc được những nhà môi giới quyền lực chú ý tới tại đúng thời điểm cần thiết thường góp phần đáng kể để giúp một người trở thành thẩm phán, cũng đáng kể như những yếu tố về năng lực chuyên môn của người đó.
QUY TRÌNH TUYỂN CHỌN CỦA LIÊN BANG VÀ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA
Khung tuyển chọn thẩm phán là như nhau đối với tất cả các thẩm phán liên bang, mặc dù vai trò của những người tham dự rất khác nhau tùy theo cấp độ của các tòa án Hoa Kỳ. Tất cả đều được bổ nhiệm bởi tổng thống sau khi tham khảo ý kiến theo đúng quy trình với đội ngũ nhân viên Nhà Trắng, văn phòng chưởng lý, một số thượng nghị sĩ và các nhà hoạt động chính trị khác. Cục điều tra liên bang (FBI), một bộ phận của Bộ Tư pháp, thường tiến hành một cuộc kiểm tra an ninh theo thủ tục. Sau khi việc bổ nhiệm được công bố công khai, các nhóm lợi ích khác nhau - những người tin rằng họ có lợi ích liên quan đối với sự bổ nhiệm này - có thể vận động để ủng hộ hoặc chống lại ứng cử viên. Tương tự, các phẩm chất và năng lực của ứng cử viên sẽ được một ủy ban của Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ đánh giá. Tên của ứng cử viên sẽ được gửi lên ủy ban tư pháp của Thượng viện, và ủy ban này sẽ tiến hành một cuộc điều tra để xem xét xem ứng cử viên có phù hợp với vị trí này hay không. Nếu kết quả của ứng cử viên là thuận lợi, việc bổ nhiệm sẽ được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Thượng viện; tại đó nó sẽ được thông qua hoặc phản đối bởi một đa số đơn thuần.
Tổng thống
Về mặt kỹ thuật, tổng thống đề cử tất cả các ứng cử viên vào chức vụ thẩm phán, tuy nhiên, về mặt lịch sử, người đứng đầu ngành hành pháp thường liên quan mật thiết tới việc bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án tối cao hơn là tại các tòa án cấp thấp hơn. Sở dĩ có tình trạng này là do hai nguyên nhân chủ yếu sau.
Thứ nhất, việc bổ nhiệm thẩm phán tại Tòa án tối cao được tổng thống - và công chúng nói chung - xem là quan trọng hơn và có ý nghĩa về mặt chính trị hơn so với việc bổ nhiệm thẩm phán tại các tòa án cấp thấp hơn. Các tổng thống thường nắm lấy những cơ hội ít ỏi của mình trong việc bổ nhiệm tại Tòa án tối cao để đưa ra một tuyên bố chính trị hoặc nêu lên tinh thần chung của chính quyền của mình. Ví dụ, trong thời kỳ nước Mỹ tập trung vào vấn đề tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, Tổng thống của Đảng Dân chủ Franklin D. Roosevelt đã bổ nhiệm Harlan Fiske Stone thuộc Đảng Cộng hòa làm Chánh án Tòa án tối cao - một biểu hiện của sự đoàn kết trong nước. Năm 1969, Tổng thống Richard Nixon đã bổ nhiệm Warren Burger, một người bảo thủ, để hoàn tất cam kết trong chiến dịch vận động tranh cử của ông về việc khôi phục “luật pháp và trật tự”. Và Tổng thống Ronald Reagan vào năm 1981 đã hy vọng giũ bỏ hình ảnh của mình như một người không đồng cảm với phong trào đòi quyền của phụ nữ bằng việc trở thành vị tổng thống đầu tiên bổ nhiệm một phụ nữ vào vị trí thẩm phán tại Tòa án tối cao.
Lý do thứ hai giải thích việc tại sao các tổng thống thường dành nhiều sự quan tâm hơn cho việc bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao và ít chú trọng hơn tới các tòa án cấp thấp chính là vì, theo truyền thống, cá nhân các thượng nghị sĩ và lãnh đạo đảng phái địa phương có thể ảnh hưởng, và thường là chi phối, việc bổ nhiệm thẩm phán tòa án cấp thấp hơn. Thông lệ được biết đến dưới cái tên “sự tham khảo ý kiến thượng nghị sĩ” là một phần của quy trình bổ nhiệm các thẩm phán hạt. Theo thông lệ này, các thượng nghị sĩ cùng thuộc một đảng chính trị với tổng thống đến từ bang của ứng cử viên sẽ được ủy ban tư pháp của Thượng viện hỏi ý kiến về ứng cử viên đó. Bằng việc trình bày quan điểm của mình về một ứng cử viên cụ thể, các thượng nghị sĩ này trên thực tế ở vào một vị trí có thể phủ quyết việc đề cử. Quy trình tham khảo ý kiến thượng nghị sĩ không được áp dụng cho việc bổ nhiệm thẩm phán tại các tòa phúc thẩm, mặc dù thông thường các tổ ng thống sẽ chiều theo ý kiến của thượng nghị sĩ đảng mình đến từ những bang có tòa phúc thẩm.
Bộ Tư pháp
Hỗ trợ cho tổng thống và đội ngũ nhân viên Nhà Trắng trong quy trình tuyển lựa thẩm phán là hai vị trí then chốt do tổng thống bổ nhiệm trong Bộ Tư pháp - chưởng lý của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và phó chưởng lý. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là tìm kiếm các ứng cử viên phù hợp với những tiêu chuẩn chung do tổng thống đặt ra để bổ nhiệm vào vị trí thẩm phán liên bang. Khi đã tìm được một số người, nhân viên của Bộ Tư pháp sẽ tiến hành thẩm tra kỹ lưỡng từng ứng cử viên một. Họ có thể đề nghị FBI tiến hành một cuộc điều tra về đặc điểm, tính cách và xuất thân của ứng cử viên; họ thường đọc các bản sao của mọi bài báo hoặc bài phát biểu mà ứng cử viên đã viết hoặc đánh giá về các ý kiến được nêu ra của một thẩm phán đương nhiệm; họ có thể kiểm tra với lãnh đạo đảng chính trị ở địa phương để xác định rằng ứng cử viên là một người trung thành với đảng và có xu hướng ủng hộ những quan điểm chính sách công chủ yếu của tổng thống.
Trong trường hợp bổ nhiệm các thẩm phán tòa án hạt, khi tên của các ứng cử viên thường được thượng nghị sĩ cùng bang đưa lên, chức năng của Bộ Tư pháp thường chỉ là thẩm tra lại chứ không phải là người đề xướng. Bất kể ai là người đưa danh sách đó ra, chức năng chủ yếu của Bộ Tư pháp chỉ là đánh giá ứng cử viên về mặt tư cách cá nhân, trình độ chuyên môn, và phẩm chất và năng lực chính trị. Trong khi thực thi vai trò này, Bộ Tư pháp có thể làm việc chặt chẽ cùng với nhân viên Nhà Trắng, với các thượng nghị sĩ tham gia đề cử, và với các lãnh đạo đảng muốn tham gia góp ý cho việc lựa chọn ứng cử viên.
Các lãnh đạo đảng cấp bang và địa phương
Các lãnh đạo đảng phái khu vực hầu như không có ảnh hưởng gì trong việc bổ nhiệm thẩm phán của Tòa án tối cao, quy trình mà trong đó tổng thống có quyền chi phối, và vai trò của họ trong việc lựa chọn các thẩm phán của tòa phúc thẩm cũng hết sức khiêm tốn. Tuy nhiên, trong việc lựa chọn các chánh án tòa sơ thẩm của Hoa Kỳ, ảnh hưởng của họ là rất lớn, đặc biệt khi việc bổ nhiệm được tiến hành tại các bang mà thượng nghị sĩ của bang không thuộc cùng một đảng chính trị với tổng thống. Trong những trường hợp như vậy, tổng thống thường có xu hướng tham khảo ý kiến các lãnh đạo của đảng mình tại bang đó, chứ không tham khảo ý kiến thượng nghị sĩ của bang.
Các nhóm lợi ích
Một số nhóm gây áp lực tại Hoa Kỳ, đại diện cho toàn bộ đời sống chính trị từ tả sang hữu, thường vận động để ủng hộ hoặc chống lại việc đề cử các thẩm phán. Những nhà lãnh đạo của các nhóm này - những nhóm đòi quyền tự do công dân, doanh nghiệp, các tổ chức lao động, các nhóm dân quyền - đều không ngần ngại thúc giục tổng thống rút lại việc đề cử một người mà các giá trị về mặt chính trị và xã hội của ông / bà ta khác với họ, hoặc vận động Thượng viện ủng hộ việc đề cử người mà họ ưa thích. Các nhóm lợi ích thường vận động hành lang để ủng hộ hoặc chống lại các ứng cử viên vào chức thẩm phán tại mọi cấp tòa án của liên bang.
Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ (ABA)
Trong hơn năm thập kỷ, ủy ban tư pháp liên bang thuộc Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc đánh giá năng lực chuyên môn của các ứng cử viên tương lai cho chức vụ thẩm phán liên bang. Ủy ban này, với 15 thành viên đại diện cho tất cả các hạt, đánh giá ứng cử viên dựa trên ba tiêu chuẩn: khí chất của một thẩm phán, năng lực chuyên môn và tính liêm chính. Một ứng cử viên được ủy ban phê chuẩn sẽ được xếp loại là “đủ điều kiện” hoặc “rất có khả năng”, trong khi những người không được chấp nhận sẽ được phê là “không đủ điều kiện”.
Ủy ban tư pháp của Thượng viện
Theo quy định của Thượng viện, ủy ban Tư pháp của Thượng viện phải xem xét tất cả những vị trí đề cử vào chức vụ thẩm phán liên bang và đưa ra khuyến nghị cuối cùng trước toàn thể Thượng viện. Như vậy, vai trò của ủy ban này là thẩm tra các cá nhân được đề cử vào chức vụ thẩm phán, chứ không phải là nêu tên của những ứng cử viên tiềm năng. Ủy ban tổ chức các buổi điều trần về tất cả những vị trí đề cử, trong đó việc nghe các nhân chứng trình bày và thảo luận đều được tiến hành không công khai. Các buổi điều trần về việc bổ nhiệm thẩm phán hạt thường chỉ mang tính hình thức, bởi vì với mọi ý định và mục đích, quy trình tham khảo ý kiến thượng nghị sĩ đã quyết định liệu ứng cử viên có được Thượng viện chấp nhận hay không. Tuy nhiên, đối với việc đề cử các thẩm phán tòa phúc thẩm - và tất nhiên cả việc bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao - việc điều trần của ủy ban thực sự là một quy trình nghiêm túc.
Thượng viện
Bước cuối cùng trong quy trình bổ nhiệm các thẩm phán liên bang là việc có được đa số phiếu của Thượng viện. Về mặt lịch sử, có hai quan điểm chung phổ biến về vai trò được quy định của Thượng viện. Các tổng thống từ thời George Washington và một số học giả kiên trì quan điểm cho rằng Thượng viện nên lặng lẽ tán thành những sự lựa chọn của tổng thống trừ phi có những lý do mạnh mẽ khiến đa số nhất trí phản đối lại quyết định đó. Các học giả khác và đa số thượng nghị sĩ thì cho rằng Thượng viện có quyền và nghĩa vụ phải đưa ra quyết định của riêng mình liên quan tới những người được bổ nhiệm. Trên thực tế, vai trò của Thượng viện trong quy trình chấp thuận việc bổ nhiệm thẩm phán là rất khác nhau, tùy thuộc vào việc thẩm phán liên bang đang được xem xét được bổ nhiệm vào cấp tòa án nào.
Đối với các thẩm phán tòa án hạt, tiêu chuẩn về việc tham khảo ý kiến thượng nghị sĩ có vai trò quyết định. Điều đó có nghĩa là nếu ứng cử viên mà tổng thống nêu ra được thượng nghị sĩ cùng đảng phái với tổng thống đến từ bang mà ứng cử viên sẽ được bổ nhiệm làm thẩm phán chấp nhận, thì Thượng viện thường đồng tình với việc bổ nhiệm ứng cử viên đó. Đối với việc bổ nhiệm các thẩm phán tòa phúc thẩm, quy trình tham khảo ý kiến thượng nghị sĩ không được áp dụng, bởi vì vị trí cần bổ nhiệm thường liên quan tới nhiều hơn một bang có một hoặc hai thượng nghị sĩ (và do đó cần nhiều hơn một hoặc thậm chí là hai thượng nghị sĩ). Nhưng các thượng nghị sĩ đến từ mỗi bang trong hạt cần đề cử thẩm phán thường đưa ra tên của những ứng cử viên có khả năng cho tổng thống. Có một quy tắc bất thành văn là mỗi bang trong hạt có thể có ít nhất một thẩm phán trong tòa phúc thẩm của hạt. Nếu quy tắc này được tuân thủ và ứng cử viên của tổng thống có đầy đủ phẩm chất và năng lực, Thượng viện nói chung thường nhất trí với những đề cử của người đứng đầu ngành hành pháp.
Thượng viện có xu hướng tranh chấp với tổng thống nếu bất đồng ý kiến về sự phù hợp của một ứng cử viên đối với chức vụ thẩm phán tại Tòa án tối cao. Từ năm 1789, các tổng thống đã gửi cho Thượng viện tên của 144 ứng cử viên đề cử vào Tòa án tối cao để Thượng viện xem xét và tán thành. Trong số này, có 30 người đã bị Thượng viện phản đối hoặc “trì hoãn vô thời hạn”, hoặc tên của họ đã bị tổng thống rút lại. Như vậy, các tổng thống chỉ thành công trong 79% các trường hợp, và tỷ lệ thành công của họ có vẻ tăng lên khi xem xét thực tế rằng đã có một phần ba số ứng cử viên bị Thượng viện phản đối trong thế kỷ XIX. Các tài liệu ghi chép cho thấy rằng tổng thống thường thành công nhất trong việc thuyết phục Thượng viện chấp thuận việc bổ nhiệm thẩm phán Tòa án tối cao khi các ứng cử viên có lai lịch, phẩm chất không gây tranh cãi và thiên hướng chính trị ôn hòa, và khi đảng của tổng thống đồng thời kiểm soát Thượng viện, hoặc ít nhất đa số trong Thượng viên có cùng những quan điểm và giá trị cơ bản với tổng thống.
QUÁ TRÌNH HÒA NHẬP VÀO BỘ MÁY TƯ PHÁP
Tại các trường cao đẳng và trường luật, các thẩm phán tương lai được học những kỹ năng phân tích và giao tiếp quan trọng, bên cạnh kiến thức cơ bản về luật pháp. Sau một hoặc hai chục năm hành nghề luật, vị thẩm phán tương lai đã có được một hiểu biết khá tốt về cách thức hoạt động trên thực tế của các tòa án và luật pháp, và có chuyên môn sâu về một vài lĩnh vực luật. Mặc dù có tất cả những sự chuẩn bị này, đôi khi được gọi là “quá trình hòa nhập trước”, phần lớn các thẩm phán mới của Mỹ vẫn có rất nhiều điều phải học để làm một thẩm phán.
Hoa Kỳ không chỉ thiếu những quy trình đào tạo chính thức đối với nghề thẩm phán, mà người Mỹ còn cho rằng việc hành nghề luật sư trong một thập kỷ hoặc hơn là tất cả những gì cần thiết để có thể trở thành một thẩm phán. Ngược lại, việc trở thành một thẩm phán ở Mỹ đòi hỏi phải có sự hòa nhập tương đối nhiều của người mới vào nghề (học tập ngắn hạn và điều chỉnh cho phù hợp với vai trò mới) và sự hòa nhập về mặt nghề nghiệp (đào tạo tại chức trong khoảng thời gian một vài năm).
Thông thường, những người mới được bổ nhiệm vào các tòa án sơ thẩm có thể là các luật sư hạng nhất và các chuyên gia trong một vài lĩnh vực luật mà họ có kiến thức chuyên ngành. Tuy nhiên, với vai trò là một thẩm phán, họ được yêu cầu phải là chuyên gia trong mọi lĩnh vực pháp lý, phải tham gia vào những nhiệm vụ tư pháp mà thường không có liên quan gì tới những công việc họ đã tiến hành khi làm luật sư (ví dụ như kết án), và được giao cho rất nhiều nhiệm vụ mà họ không có kinh nghiệm gì trước đó (ví dụ như học cách vào sổ ghi án một cách hiệu quả hàng trăm vụ án khác nhau).
Tại các tòa phúc phẩm, cũng có một quá trình hòa nhập những người mới được bổ nhiệm - mặc dù các thẩm phán hạt thường đã có kinh nghiệm làm thẩm phán từ trước - và các cựu thẩm phán tòa sơ thẩm dường như chuyển đổi dễ dàng hơn. Trong suốt thời gian chuyển đổi, các thẩm phán hạt có xu hướng phát biểu tại tòa ít hơn so với các đồng sự giàu kinh nghiệm hơn của mình. Họ thường mất nhiều thời gian hơn để ghi chép các ý kiến, tham khảo nhiều hơn các đồng nghiệp có thâm niên cao, hoặc trải qua một thời kỳ do dự và thiếu quyết đoán.
Quá trình học tập đối với các thẩm phán mới của Tòa án tối cao còn vất vả hơn nữa. Giống như các thẩm phán mới của tòa phúc thẩm, các thẩm phán mới được bổ nhiệm của Tòa án tối cao cũng có xu hướng tham khảo ý kiến các đồng sự nhiều kinh nghiệm, đưa ra ít hơn những ý kiến đa số hoặc quan điểm bất đồng, và thể hiện một mức độ không chắc chắn. Các thẩm phán mới của Tòa án tối cao có thể có nhiều kinh nghiệm thẩm phán hơn các đồng sự của họ tại những tòa án cấp thấp hơn, nhưng thực tế là Tòa án tối cao tham gia vào một phạm vi rộng các quyết sách tư pháp - trái ngược với việc sửa chữa những sai sót của các tòa phúc thẩm và việc thực thi luật pháp của tòa sơ thẩm - có thể giải thích cho sự thiếu quyết đoán ban đầu của họ.
Khi xem xét nhu cầu của tất cả các thẩm phán mới của liên bang đối với việc hòa nhập về mặt nghề nghiệp cũng như trên khía cạnh một người mới vào nghề, họ sẽ có được sự chỉ dẫn ở đâu? Đối với các thẩm phán tòa phúc thẩm và sơ thẩm, họ học được những điều này chủ yếu là từ các đồng sự có thâm niên cao hơn và giàu kinh nghiệm hơn - đặc biệt là chánh án của hạt hoặc của khu vực lưu động. Cũng tương tự ở Tòa án tối cao, các đồng sự lớn tuổi hơn, và đặc biệt là chánh án, đóng vai trò chủ yếu trong việc truyền lại cho các thẩm phán mới những phép tắc và giá trị thiết yếu của Tòa.
Các buổi hội thảo đào tạo do Trung tâm tư pháp liên bang tiến hành dành cho những thẩm phán mới được bổ nhiệm cũng có một vai trò quan trọng trong việc đào tạo và giúp các thẩm phán mới hòa nhập với công việc. Mặc dù một số buổi hội thảo được tiến hành bởi các chuyên gia ngoài ngành - các chuyên gia về từng lĩnh vực luật pháp trong trường luật - song các giảng viên chủ yếu thường là những thẩm phán giàu kinh nghiệm - những người mà kinh nghiệm thực tiễn của họ trên ghế thẩm phán thường khiến cho các thành viên mới của hệ thống tòa án liên bang phải kính phục.
Tầm quan trọng của quá trình hòa nhập này đối với hoạt động của hệ thống tòa án - luật pháp Hoa Kỳ là gì? Thứ nhất, những tác nhân giúp hòa nhập được chuẩn bị sẵn sàng cho các thẩm phán mới sẽ cho phép hệ thống vận hành trôi chảy hơn, với thời gian gián đoạn tối thiểu. Nếu các thẩm phán mới bị tách biệt khỏi các đồng sự lớn tuổi và giàu kinh nghiệm hơn của họ, về phương diện địa lý hoặc bởi các yếu tố khác, họ sẽ cần nhiều thời gian hơn để học được những điểm cần thiết trong nghề nghiệp của mình và có thể sẽ có nhiều sai sót hơn trong việc giải quyết các tranh chấp.
Thứ hai, thực tế rằng hệ thống này tự bản thân nó có thể giúp cho việc hòa nhập -có nghĩa là các thẩm phán lớn tuổi hơn và giàu kinh nghiệm hơn giúp đào tạo những người mới vào nghề - có tác dụng như một chất keo dính kết hệ thống với nhau. Nó cho phép các giá trị, những thông lệ và định hướng của tòa án được truyền từ thế hệ thẩm phán này sang thế hệ thẩm phán khác. Nó mang lại sự liên tục và cảm giác về sự vĩnh viễn cho một hệ thống vận hành trong một thế giới mà sự hỗn loạn và các hành vi tùy tiện luôn phổ biến.
VIỆC NGHỈ HƯU VÀ TỪ NHIỆM CỦA CÁC THẨM PHÁN
Các thẩm phán ngừng thực hiện những nhiệm vụ xét xử của mình khi nghỉ hưu theo nguyện vọng hoặc do tình trạng sức khỏe yếu kém hay qua đời, hoặc khi họ phải chịu sự kỷ luật của những người khác.
Hành động kỷ luật đối với các thẩm phán liên bang
Tất cả các thẩm phán liên bang được bổ nhiệm theo quy định trong Điều III của Hiến pháp đều được giữ chức vụ đó “trong thời gian có hành vi chính đáng”, có nghĩa là họ sẽ được giữ chức vụ đó suốt đời hoặc cho đến khi họ muốn ngừng lại. Cách thức duy nhất khiến họ phải từ nhiệm là thông qua việc luận tội (cáo buộc bởi Hạ viện) và kết tội bởi Thượng viện. Theo quy định của Hiến pháp (đối với các thẩm phán Tòa án tối cao) và các tiêu chuẩn lập pháp (đối với thẩm phán tòa phúc thẩm và sơ thẩm), việc luận tội có thể được tiến hành đối với những tội danh “phản quốc, nhận hối lộ hoặc những tội mức độ cao và nghiêm trọng khác”. Thẩm phán bị luận tội sẽ có thể bị xét xử tại Thượng viện, nơi sẽ kết án họ bằng hai phần ba số phiếu thuận của các thành viên có mặt.
Từ năm 1789, Hạ viện chỉ khởi xướng thủ tục luận tội đối với 13 thẩm phán - mặc dù có một số lượng tương tự các thẩm phán đã từ chức trước khi có hành động chính thức chống lại họ. Trong số 13 trường hợp này, chỉ có 7 trường hợp bị kết tội, và những người bị kết tội đã bị cách chức.
Mặc dù chỉ có rất ít các hành động phạm tội công khai của các thẩm phán, song có một “vùng đệm” các hành vi sai trái có thể đặt các thẩm phán vi phạm ở những mức độ nào đó giữa những hành vi có thể chấp nhận được và hành vi có thể bị luận tội. Cần phải làm gì với những thẩm phán liên bang xét xử một vụ kiện bất chấp sự xung đột rõ ràng về lợi ích, một thẩm phán thường thể hiện sự thiên vị trong phòng xử án, một thẩm phán mà những thói quen cá nhân thường gây tác động tiêu cực tới việc xét xử của ông / bà ta tại tòa án? Về mặt lịch sử, hầu như không có hành động nào khác được tiến hành đối với những trường hợp như vậy ngoài việc các đồng sự của họ đưa ra một lời khiển trách. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, đã có những biện pháp kỷ luật đối với các thẩm phán.
Vào ngày 1 tháng Mười 1980, một quy định mới của Quốc hội đã có hiệu lực. Với tên gọi “Đạo luật về cải cách các hội đồng thẩm phán và về hành vi và sự không đủ tư cách của thẩm phán”, luật này có hai phần riêng biệt. Phần thứ nhất ủy quyền cho Hội đồng thẩm phán tại mỗi hạt, bao gồm các thẩm phán của tòa phúc thẩm và sơ thẩm do chánh án của hạt đứng đầu, được “đưa ra những quy định phù hợp và cần thiết để bảo đảm việc thực thi luật pháp hiệu quả và nhanh chóng trong hạ t của mình”. Phần thứ hai của đạo luật quy định một trình tự khiếu kiện về mặt pháp lý chống lại các thẩm phán. Nói một cách ngắn gọn, nó cho phép một bên không đồng tình trong vụ kiện được đệ đơn khiếu nại lên viên lục sự của tòa phúc thẩm. Chánh án sau đó sẽ xem xét lời cáo buộc và có thể bác bỏ nếu nó tỏ ra không đúng đắn hoặc vì rất nhiều lý do khác. Nếu lời khiếu nại tỏ ra có cơ sở, chánh án sẽ phải chỉ định một ủy ban điều tra bao gồm bản thân ông / bà ta và một số lượng bằng nhau các thẩm phán tòa sơ thẩm và tòa phúc thẩm. Sau khi điều tra, ủy ban này sẽ báo cáo cho hội đồng, và hội đồng sẽ có một số lựa chọn: thẩm phán có thể được miễn tội; nếu người vi phạm là một thẩm phán hoặc chánh án của bang, ông / bà ta có thể bị cách chức; và một thẩm phán được bổ nhiệm theo Điều III của Hiến pháp có thể phải chịu sự khiển trách hoặc phê bình riêng tư hoặc công khai, tuyên bố không đủ tư cách, hoặc cấm xét xử trong các vụ việc khác. Tuy nhiên, không được phép cách chức thẩm phán được bổ nhiệm theo Điều III của Hiến pháp; việc luận tội vẫn là cách thức duy nhất. Nếu hội đồng quyết định rằng hành vi vi phạm có thể tạo ra cơ sở cho việc luận tội, hội đồng sẽ thông báo cho Hội nghị tư pháp, và Hội nghị này sẽ chuyển vụ việc cho Hạ viện Hoa Kỳ để xem xét.
Tình trạng không đủ tư cách pháp lý của các thẩm phán liên bang
Có lẽ việc thuyết phục những người đã quá già và không còn đủ sự quyết đoán để thực thi chức trách thẩm phán một cách hiệu quả rời bỏ chức vụ của họ còn phức tạp hơn cả việc cách chức các thẩm phán vì những hành vi sai phạm. Quốc hội đã cố gắng - với đôi chút thành công - khuyến khích nhiều thẩm phán cao tuổi nghỉ hưu bằng việc dành cho họ những lợi ích vật chất hấp dẫn khi nghỉ hưu. Từ năm 1984, các thẩm phán liên bang được phép nghỉ hưu mà vẫn được hưởng nguyên lương và phúc lợi theo cái gọi là quy tắc 80; có nghĩa là khi tổng số tuổi và số năm hành nghề thẩm phán của họ là 80. Quốc hội cũng cho phép các thẩm phán chuyển sang ngạch chuyên viên cao cấp thay vì nghỉ hưu hoàn toàn. Để đổi lấy việc giảm khối lượng các vụ xét xử, họ được phép giữ lại văn phòng và các nhân viên và - quan trọng không kém - duy trì uy tín và lòng tự hào về việc vẫn là một thẩm phán đương nhiệm.
Các thẩm phán thường chọn thời điểm để từ chức khi đảng của họ kiểm soát được tổng thống, và như vậy họ sẽ được thay thế bởi một thẩm phán có định hướng tương tự về pháp luật và chính trị. Một nghiên cứu tiến hành năm 1990 đã phát hiện thấy rằng, đặc biệt từ năm 1954, “tỷ lệ các thẩm phán nghỉ hưu / từ chức bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những cân nhắc về mặt chính trị / ý thức hệ, và liên hệ chặt chẽ với tính đảng phái”, và do vậy đã chỉ ra rằng rất nhiều thẩm phán coi bản thân họ như một phần của sự liên kết chính sách giữa nhân dân, quy trình bổ nhiệm thẩm phán, và các quyết định tiếp theo của các thẩm phán và chánh án.

PHẨM CHẤT VÀ NỀN TẢNG XUẤT THÂN CỦA CÁC THẨM PHÁN BANG

Phần lớn luật lệ và hiến pháp bang hầu như không quy định những điều kiện khắt khe đối với thẩm phán bang. Đa số các bang không quy định thẩm phán hòa giải hoặc tiểu hình của họ phải có bằng tốt nghiệp trường luật, nhưng những bằng cấp này hầu hết đều được yêu cầu (chính thức hoặc trên thực tế) đối với các thẩm phán tòa sơ thẩm và phúc thẩm.
Mặc dù phụ nữ chiếm một tỷ lệ lớn hơn trong dân số Mỹ và dù đã có sự tăng lên mạnh mẽ về số lượng phụ nữ làm việc trong ngành luật trong những thập kỷ gần đây, phụ nữ vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ đại diện ít ỏi và không tương xứng trong nghề thẩm phán. Những phụ nữ đã từng đảm nhiệm chức vụ thẩm phán bang thường có nhiều khả năng trở thành thẩm phán ở các tòa cấp thấp hơn so với khả năng được phục vụ tại các tòa án tối cao, mặc dù điều này là rất khác nhau giữa các bang. Cho tới giữa những năm 1990, chỉ có khoảng 14% các thẩm phán bang là phụ nữ và 6% thuộc nhóm người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha hoặc người Mỹ gốc Á.
Các thẩm phán bang, giống như những đồng sự cấp liên bang của mình, thường ở lại nơi mà họ đã trưởng thành và được học hành. Có khoảng ba phần tư số thẩm phán bang được sinh ra tại bang mà họ hiện đang công tác, và chỉ có chưa đầy một phần ba đi khỏi bang để theo học đại học hoặc lấy bằng luật. Thiên hướng đối với chủ nghĩa địa phương cũng được phản ánh trong mẫu hình kinh nghiệm công tác mà các thẩm phán bang mang theo tới chức vụ thẩm phán của mình. Ví dụ, trong số các thẩm phán của tòa án tối cao của bang, chỉ có 13% đã từng là các thẩm phán liên bang, trong khi 93% có ít nhiều kinh nghiệm với tư cách là thẩm phán bang.
Các thẩm phán thường ở vào độ tuổi trung niên khi họ đảm nhiệm chức vụ thẩm phán. Các thẩm phán tòa sơ thẩm của bang thường ở độ tuổi 46 khi họ trở thành thẩm phán, gần tương ứng với độ tuổi 49 của các thẩm phán sơ thẩm liên bang. Các thẩm phán tòa phúc thẩm của bang lớn tuổi hơn một chút so với các thẩm phán tòa sơ thẩm - thường ở độ tuổi 53 khi trở thành thẩm phán, cũng gần bằng với các thẩm phán tòa phúc thẩm của liên bang.
Có hơn một nửa các thẩm phán tòa sơ thẩm bang đảm nhiệm chức vụ thẩm phán khi đang hành nghề luật trong khu vực tư nhân, và khoảng một phần tư thăng tiến từ chức vụ thẩm phán cấp thấp hơn tại tòa, ví dụ như vị trí thẩm phán tiểu hình. Trong số những người hành nghề luật, hầu hết đều là về các vấn đề luật pháp chung chứ không chuyên sâu. Có khoảng một phần năm được tuyển chọn từ đội ngũ các luật sư của hạt, và chỉ 3% đếm từ lĩnh vực luật hình sự tư nhân. Trong số những người được bổ nhiệm làm thẩm phán tòa án tối cao của bang, gần hai phần ba đã đảm nhiệm chức vụ thẩm phán tòa phúc thẩm trung gian hoặc các tòa sơ thẩm của bang.
QUY TRÌNH TUYỂN CHỌN CÁC THẨM PHÁN BANG
Tại cấp bang, có rất nhiều phương pháp được sử dụng để lựa chọn thẩm phán, và mỗi phương pháp trong số này đều có rất nhiều sự hoán vị. Về cơ bản, có năm con đường đến với chức vụ thẩm phán tại bất kỳ bang nào trong số 50 bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ: tuyển cử theo đảng phái, tuyển cử không qua đảng phái, tuyển chọn theo công trạng, bổ nhiệm của thống đốc và bổ nhiệm bởi cơ quan lập pháp bang.
Việc tuyển cử các thẩm phán
Việc tuyển cử các thẩm phán, trên cơ sở bỏ phiếu theo đảng phái hoặc phi đảng phái, là một quy phạm của các bang. Phương pháp này trở nên phổ biến trong thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Andrew Jackson (1829-1837), một kỷ nguyên trong đó người Mỹ tìm cách dân chủ hóa quy trình chính trị. Tuy nhiên, trên thực tế, các lãnh đạo đảng phái chính trị thường coi việc tuyển cử các thẩm phán là một hình thức bảo trợ gián tiếp để thưởng công cho những người trung thành với đảng phái. Tương tự, những thẩm phán phải tham gia vận động cho cuộc tuyển cử thường buộc phải tìm kiếm những khoản quyên góp cho chiến dịch vận động của mình từ những luật sư và hãng luật mà sau đó sẽ xuất hiện trước mặt họ tại tòa án - nguồn gốc gây ra xung đột lợi ích tiềm tàng. Cuối cùng, số lượng người đi bầu trong các cuộc tuyển cử thẩm phán thường vô cùng thấp. Các cử tri có thể biết được ai là người họ ưa thích trong các cuộc bầu cử tổng thống, thành viên Quốc hội hoặc thượng nghị sĩ bang, nhưng họ thường không biết về những người ra ứng cử cho chức vụ thẩm phán bang.
Như là một phần của trào lưu Tiến bộ trong những năm đầu thế kỷ XX, các nhà cải cách đã cố gắng tách tính đảng phái ra khỏi các cuộc tuyển cử thẩm phán bằng việc cho phép các thẩm phán ra ứng cử trên cơ sở phi đảng phái. Về nguyên tắc, họ có thể ra tranh cử dựa trên cơ sở những tư tưởng và năng lực phẩm chất của mình, chứ không dựa trên việc họ là thành viên của đảng nào. Nhưng ngay cả ở những bang tiến hành tuyển cử trên cơ sở phi đảng phái này, các đảng chính trị cũng thường ủng hộ những ứng cử viên thẩm phán độc lập và đóng góp vào chiến dịch vận động của họ, bởi vậy các ứng cử viên cũng được nhận biết là gắn với một đảng chính trị này hoặc một đảng chính trị khác.
Tuyển lựa theo công trạng
Việc tuyển lựa theo công trạng được sử dụng từ đầu những năm 1900 như một biện pháp ưa thích để lựa chọn các thẩm phán. Bang đầu tiên áp dụng triệt để phương pháp này là Missouri vào năm 1940, và từ đó trở đi, các cơ chế tuyển lựa như vậy đã được biết đến như là những biến thể đồng biến của “Kế hoạch Missouri”.
Các bang áp dụng những cơ chế theo kiểu của Missouri sử dụng kết hợp các hình thức tuyển cử và bổ nhiệm. Thống đốc bổ nhiệm một thẩm phán từ rất nhiều ứng cử viên được khuyến nghị bởi một ủy ban đề cử gồm năm người hoặc hơn, thường bao gồm các luật sư (được lựa chọn bởi hiệp hội luật sư địa phương), những người không phải luật sư do thống đốc chỉ định, và đôi khi có cả một thẩm phán lâu năm ở địa phương. Theo luật hoặc theo thỏa thuận ngầm, thống đốc sẽ bổ nhiệm một người từ danh sách khuyến nghị. Sau khi phục vụ trong một thời gian ngắn, thường là một năm, vị thẩm phán mới được bổ nhiệm sẽ phải trải qua một cuộc tuyển cử đặc biệt, trên thực tế tại thời điểm đó ông / bà ta sẽ vận động tuyển cử dựa trên thành tích làm việc của mình. (Câu hỏi đưa ra cho các cử tri là: “Thẩm phán X có nên được duy trì chức trách của mình hay không?”) Nếu các cử tri ủng hộ việc thẩm phán tiếp tục đảm nhiệm chức trách của mình - một điều thường xảy ra trên thực tế - thì thẩm phán sẽ duy trì chức vụ của mình trong một nhiệm kỳ bình thường tương đối dài.
Bổ nhiệm bởi thống đốc và bởi cơ quan lập pháp
Ngày nay, chỉ còn một số bang áp dụng chế độ bổ nhiệm thẩm phán bởi thống đốc hoặc bởi cơ quan lập pháp bang. Khi các thẩm phán được bổ nhiệm bởi thống đốc, yếu tố chính trị thường đóng vai trò chủ đạo. Các thống đốc thường có xu hướng tuyển chọn những cá nhân tham gia tích cực vào đời sống chính trị của bang và hoạt động của họ mang lại lợi ích cho thống đốc hoặc cho đảng chính trị hay các đồng minh của thống đốc. Thông qua việc bổ nhiệm thẩm phán, thống đốc cũng thường mặc cả với các lãnh đạo đảng chính trị ở địa phương hoặc các nhà lập pháp mà ông ta cần sự ủng hộ. Thống đốc cũng có thể dùng chức vụ thẩm phán để thưởng công cho một nhà lập pháp hoặc nhà hoạt động chính trị địa phương đã ủng hộ ông một cách trung thành về mặt chính trị trong quá khứ.
Chỉ còn một số rất ít bang vẫn cho phép cơ quan lập pháp bổ nhiệm thẩm phán bang. Mặc dù có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau được sử dụng trong khi lựa chọn thành viên của tòa án tối cao của bang, nhưng đối với các thẩm phán tòa sơ thẩm của bang, các nhà lập pháp bang thường có xu hướng bổ nhiệm những cựu thành viên của cơ quan lập pháp bang.
VIỆC NGHỈ HƯU VÀ TỪ NHIỆM CỦA CÁC THẨM PHÁN
Các thẩm phán đã quá già hoặc không còn thích hợp để đảm nhiệm chức vụ thẩm phán của bang thường không tạo thành vấn đề phức tạp như các thẩm phán liên bang. Một số bang đã xây dựng các kế hoạch hưu trí bắt buộc. Độ tuổi tối đa để thẩm phán nghỉ hưu dao động từ 65 tới 75, và phổ biến nhất là ở tuổi 70. Một số bang có những kế hoạch giảm phúc lợi hưu trí đối với các thẩm phán đã phục vụ vượt quá nhiệm kỳ mong muốn; có nghĩa là các thẩm phán càng giữ chức vụ của mình lâu thì phúc lợi hưu trí của họ càng giảm.
Các kế hoạch hưu trí, cho dù có hiệu quả thế nào trong việc khuyến khích các thẩm phán cao tuổi từ nhiệm, hầu như không được sử dụng trong trường hợp các thẩm phán chưa đến tuổi song không đủ năng lực, có hành vi tham nhũng hoặc phi đạo đức. Trong suốt lịch sử nước Mỹ, các bang đã sử dụng những thủ tục như luận tội, bỏ phiếu bất tín nhiệm và các nghị quyết đồng thời của cơ quan lập pháp để bãi nhiệm thẩm phán. Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ có hiệu quả rất khiêm tốn, bởi vì việc áp dụng chúng trên thực tế là quá khó xét về mặt chính trị, hoặc bởi vì chúng tốn quá nhiều thời gian và rất phức tạp.
Gần đây, các bang đã bắt đầu thiết lập những ủy ban đặc biệt, thường bao gồm các thẩm phán, để giám sát và trừng phạt các thành viên của chúng. Tuy nhiên, những ủy ban này không phải lúc nào cũng hoạt động hiệu quả, bởi vì các thẩm phán thường rất miễn cưỡng trong việc khiển trách và kỷ luật công khai các đồng nghiệp của mình.


    Khái quát hệ thống pháp luật Hoa Kỳ - Chương 4: Các luật sư, nguyên đơn và nhóm lợi ích trong thủ tục tố tụng

    Chương 4: Các luật sư, nguyên đơn và nhóm lợi ích trong thủ tục tố tụng

    CÁC LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT CHUYÊN NGHIỆP
    Việc đào tạo các luật sư và hành nghề luật ở Mỹ đã có những bước phát triển theo thời gian. Ngày nay, các luật sư Mỹ hành nghề trong hàng loạt môi trường và hoàn cảnh khác nhau.
    Sự phát triển của nghề luật chuyên nghiệp
    Trong thời kỳ thuộc địa ở Mỹ (1607-1776), không có các trường luật để đào tạo những người quan tâm đến chuyên ngà nh luật. Một số người trẻ tuổi đã đến Anh để theo học luật và tham gia vào các hội quán của Hội luật gia Anh. Những hội quán này không phải là các trường luật chính thứ c, nhưng chúng là một phần của văn hóa pháp lý Anh quốc và giúp cho các sinh viên gần gũi hơn với luật pháp Anh. Những người mong muốn theo nghề luật trong thời kỳ này thường làm thư ký hoặc người học việc cho một luật sư danh tiếng.
    Sau cuộc Cách mạng Mỹ (1775- 1783), số luật sư tăng lên nhanh chóng do cả việc giáo dục pháp lý và quyền hành nghề luật sư không bị giới hạn chặt chẽ. Phương pháp học việc tiếp tục là cách thức phổ biến nhất để được đào tạo pháp luật nhưng các trường luật cũng đã bắt đầu xuất hiện. Những trường luật đầu tiên bắt nguồn từ những văn phòng luật chuyên về đào tạo thư ký và người học việc. Trường sớm nhất như vậy là Trường Litchfield ở Connecticut, được thành lập năm 1784. Trường này dạy theo phương pháp bài giảng chủ yếu tập trung vào luật thương mại. Cuối cùng, một số trường đại cương đã bắt đầu đưa môn luật thành một phần trong chương trình giảng dạy chung, và trong năm 1817 một trường luật độc lập đã được thành lập ở trong trường Đại học Harvard.
    Trong nửa cuối thế kỷ XIX, số trường luật tăng mạnh, từ 15 trường năm 1850 đến 102 trường năm 1900. Các trường luật vào thời gian đó và những trường luật ngày nay có hai điểm khác biệt quan trọng. Thứ nhất, các trường luật vào thời gian đó không thường xuyên yêu cầu phải học qua đại cương. Thứ hai, chương trình giảng dạy tiêu chuẩn của trường luật vào năm 1850 có thể được hoàn thành trong một năm. Vào thời gian sau này của những năm 1800, nhiều trường luật đã xây dựng các chương trình hai năm.
    Năm 1870 đã bắt đầu có những thay đổi quan trọng ở trường Đại học Harvard có tác động lâu dài đối với đào tạo pháp luậ t. Đại học Harvard đã xây dựng những yêu cầu đầu vào / tuyển chọn khắt khe hơn; các sinh viên không có bằng đại cương sẽ phải thi đầu vào. Khóa học của trường luật tăng lên thành hai năm vào năm 1871 và thành ba năm vào năm 1876. Tương tự như vậy, các sinh viên bắt buộc phải vượt qua những kỳ thi cuối của năm thứ nhất trước khi tiếp tục theo học các khóa học của năm thứ hai.
    Tuy nhiên, thay đổi lâu dài nhất là việ c bắt đầu áp dụng phương pháp giả ng dạy theo tình huống / vụ án. Phương pháp này thay thế các bài giảng và sách giáo khoa bằng các tuyển tập tình huống (tập hợp báo cáo các vụ án trên thực tế) được thiết kế để giải thích những nguyên tắc luật pháp, chúng có ý nghĩa gì, và chúng được phát triển như thế nào. Các giáo viên sử dụng phương pháp Xô-crát để hướng dẫn sinh viên khám phá những khá i niệm pháp luật trong các vụ án. Các trường khác cuối cùng cũng áp dụng phương pháp của Đại học Harvard, và phương pháp giảng dạy theo tình huống / vụ án vẫn là phương pháp giảng dạy được thừa nhận ở nhiều trường luật ngày nay.
    Do nhu cầu về các luật sư tăng lên trong những năm cuối thập niên 1800 nên số trường luật mới được thành lập cũng tăng lên tương ứng. Việc mở một trường luật cũng không quá tốn kém, và số trường học ban đêm sử dụng các luật sư và thẩm phán làm cán bộ giảng dạy bán thời gian bắt đầu xuất hiện. Các tiêu chuẩn khi đó thường lỏng lẻo và chương trình giảng dạy dường như chú trọng đến tập quán địa phương. Đóng góp quan trọng của những trường này là ở chỗ chúng giúp cho việc đào tạo trở nên dễ dàng hơn đối với các sinh viên nghèo, nhập cư và thuộc tầng lớp lao động.
    Trong thế kỷ XX, số người muốn nghiên cứu luật đã tăng lên mạnh mẽ. Cho đến những năm 1960, số người nộp đơn vào các trường luật đã tăng đến mức gần như tất cả các trường đều trở nên kén sinh viên hơn. Đồng thời, để thích ứng với sức ép và tranh chấp xã hội, nhiều trường luật đã bắt đầu tích cực tuyển dụng những người nộp đơn là phụ nữ và thuộc các nhóm thiểu số.
    Cũng đến những năm 1960, chương trình giảng dạy ở một số trường luật đã mở rộng sang những mối quan tâm xã hội như luật các quyền công dân và các vấn đề về “luật và sự nghèo khổ”. Các khóa học về luật quốc tế cũng được đưa vào chương trình giảng dạy.
    Một chiều hướng gần đây hơn ở các trường luật là chú trọng vào việc sử dụng máy tính cho mọi công việc từ chỉ dẫn đăng ký lớp học đến mẫu đăng ký tiếp xúc với tòa án và các dịch vụ dành cho sinh viên. Một điều đáng chú ý khác là ngày càng có nhiều trường luật đưa ra các khóa học hoặc chương trình đặc biệt về luật sở hữu trí tuệ, một lĩnh vực chuyên môn hóa đã phát triển đáng kể trong những năm gần đây. Cuối cùng, việc các luật sư sử dụng quảng cáo ngày càng nhiều đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với nghề luật. Giờ đây, trên các đài truyền hình ở khắp đất nước, mọi người có thể nhìn thấy các luật sư tiến hành kháng án để thu hút những khách hàng mới. Hơn nữa, các trung tâm tư vấn pháp luật, được thành lập do việc sử dụng quảng cáo ngày càng nhiều, đã phát triển nhanh chóng.
    Sự phát triển và phân tầng
    Số lượng luật sư ở nước Mỹ tăng đều trong nửa thế kỷ trước và hiện nay ước tính đạt khoảng hơn 950.000 người. Vậy tất cả những luật sư ở Mỹ tìm công việc ở đâu?
    Hội đồng thi tuyển vào các trường luật đưa ra một số câu trả lời trong cuốnHướng dẫn chính thức về các trường luật của Mỹ ấn bản năm 2001. Gần ba phần tư (72,9%) các luật sư của Mỹ hành nghề ở khu vực tư nhân, một số người làm việc tại các văn phòng một người và số khác làm trong các công ty luật lớn hơn nhiều. Khỏang 8,2% thành viên chuyên ngành luật làm việc cho các tổ chức chính phủ, gần 9,5% làm việc cho các ngành và hiệp hội tư nhân với tư cách là luật sư hoặc nhà quản lý, khoảng 1,1% làm việc cho các tổ chức hỗ trợ luật hoặc với tư cách là luật sư bào chữa đại diện cho những người không có khả năng trả tiền cho luật sư, và 1% làm việc trong hoạt động giáo dục pháp luật. Khoảng 5% số luật sư của đất nước đã nghỉ hưu hoặc không hoạt động nữa.
    Các luật sư của Mỹ nộp đơn xin đào tạo chuyên ngành trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau. Một số môi trường làm việc có lợi nhuận và uy thế cao hơn nhiều so với những nơi khác. Điều này đã dẫn đến cái gọi là sự phân tầng.
    Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ uy thế là loại chuyên ngành luật và loại khách hàng được phục vụ. Các luật sư với chuyên ngành riêng phục vụ cho các hãng kinh doanh và tổ chức lớn chiếm nửa trên; còn những người đại diện cho lợi ích của các cá nhân thuộc nửa dưới.
    Ở tầng trên của bậc thang danh vọng là các công ty luật lớn của quốc gia. Luật sư trong các hãng này từ trước đến nay được biết đến không phải nhờ xuất hiện ở tòa án, mà nhờ những tư vấn cho khách hàng. Khách hàng phải có khả năng chi trả cho những chuyên gia xuất sắc này, và do vậy họ thường là các doanh nghiệp lớn hơn là các cá nhân. Tuy nhiên, nhiều công ty luật lớn của quốc gia thường cung cấp các dịch vụ pháp luật “pro bono” (tiếng Latinh có nghĩa là “hàng hóa công cộng” hay miễn phí) cho các quyền công dân, tự do công dân, lợi ích người tiêu dùng, và các vấn đề về môi trường.
    Các công ty luật lớn của quốc gia có nhiều thành viên và người cộng tác. Các thành viên sở hữu công ty luật và được trả một phần trong lợi nhuận của công ty. Những người cộng tác được trả lương và thực chất là làm việc cho các thành viên. Những công ty lớn này cạnh tranh để có được những sinh viên xuất sắc nhất tốt nghiệp từ các trường luật quốc gia. Những công ty luật uy tín nhất có từ 250 luật sư trở lên và cũng tuyển dụng hàng trăm người khác làm công việc bán pháp lý (những người không phải là luật sư nhưng được đào tạo chuyên biệt để xử lý nhiều thủ tục thường nhật của công việc pháp lý), các nhà quản lý, quản thủ thư viện và thư ký.
    Ở một mức độ thấp hơn những người làm việc cho các công ty luật lớn của quốc gia là những người được các doanh nghiệp lớn tuyển dụng làm luật sư riêng. Nhiều doanh nghiệp sử dụng các công ty luật của quốc gia như nguồn cố vấn bên ngoài. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này ngày càng có xu hướng thuê nhiều luật sư được trả lương của riêng họ làm cố vấn nội bộ. Bộ phận pháp chế của một vài doanh nghiệp có quy mô lớn hơn so với của các hãng tư nhân. Hơn nữa, các doanh nghiệp này còn cạnh tranh với các công ty luật lớn để có được những sinh viên luật xuất sắc nhất.
    Thay vì đại diện cho doanh nghiệp tại tòa án (một nhiệm vụ thường được xử lý bởi nguồn cố vấn bên ngoài trong trường hợp cần thiết), bộ phận pháp chế xử lý hàng loạt những vấn đề pháp lý mà các doanh nghiệp hiện nay gặp phải. Chẳng hạn, bộ phận pháp chế giám sát hoạt động của nhân viên doanh nghiệp để bảo đảm những hoạt động này tuân thủ các quy định của liên bang và bang về thuê và thôi việc người lao động. Các luật sư của doanh nghiệp có thể cố vấn cho hội đồng quản trị về những vấn đề như thỏa ước hợp đồng, sáp nhập, bán cổ phần và những hoạt động kinh doanh khác. Các luật sư của công ty cũng có thể đào tạo các nhân viên khác về những quy định luật pháp áp dụng trong công việc cụ thể của họ và bảo đảm rằng họ tuân thủ những quy định đó. Bộ phận pháp chế của một công ty lớn cũng hoạt động như là cầu nối với nguồn cố vấn bên ngoài.
    Hầu hết các luật sư của Mỹ làm việc trong nửa dưới của nghề luật xét về danh vọng / uy tín và không đòi hỏi mức lương cao như trong các công ty luật lớn của quốc gia và các doanh nghiệp hàng đầu. Tuy nhiên, họ tham gia vào rất nhiều hoạt động và thường thấy họ trong và ngoài giờ làm việc tại các phòng xử án của nước Mỹ. Đó là những luật sư đại diện cho khách hàng trong các vụ kiện tai nạn cá nhân, khởi tố và bào chữa cho những người bị buộc tội hình sự, đại diện cho các ông chồng và bà vợ trong các vụ ly hôn, giúp mọi người tiến hành các giao dịch về bất động sản và giúp mọi người soạn di chúc - đó chỉ là một số ít trong các hoạt động của họ.
    Các luật sư làm việc cho chính phủ thường thuộc nửa dưới của nghề luật. Một vài người, chẳng hạn tổng chưởng lý Mỹ và tổng cố vấn pháp luật của Mỹ, chiếm những vị trí đầy quyền thế, nhưng đa phần những người khác làm việc cực nhọc ở những vị trí thấp kém và được trả lương ít ỏi. Rất nhiều luật sư lựa chọ n những nghề khác như thẩm phán ở tòa án cấp liên bang hoặc bang.
    Một khác biệt khác về sự chuyên môn hóa trong nghề luật là giữa các luật sư của bên nguyên và bên bị. Các luật sư của bên nguyên khởi xướng các vụ kiện, còn các luật sư của bên bị bào chữa cho những người bị buộc tội có hành động phạm pháp trong các vụ án dân sự và hình sự.
    Các luật sư của chính quyền trong thủ tục tố tụng
    Các luật sư của chính quyền làm việc tại mọi cấp độ của thủ tục tố tụng, từ những tòa án sơ thẩm đến những tòa án phúc thẩm cấp cao nhất của bang và liên bang.
    Công tố viên liên bang. Mỗi hạt tư pháp liên bang có một viên chưởng lý nhà nước và một hoặc nhiều phó chưởng lý. Những người này chịu trách nhiệm khởi tố các bị cáo trong các vụ án hình sự ở tòa án hạt liên bang và bào chữa cho nước Mỹ khi nước Mỹ bị kiện ở một tòa án sơ thẩm liên bang.
    Chưởng lý nhà nước được tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện phê chuẩn. Những người được chỉ định phải có quyền lực ở hạt mà họ được bổ nhiệm và phải là luật sư. Họ làm việc chính thức trong một nhiệm kỳ bốn năm nhưng có thể được tái bổ nhiệm không thời hạn hoặc bị bãi miễn tùy theo quyết định của tổng thống. Các phó chưởng lý được tổng chưởng lý Hoa Kỳ bổ nhiệm chính thức, mặc dù trên thực tế họ được chưởng lý nhà nước lựa chọn cho hạt của mình; người chưởng lý nhà nước này sẽ chuyển quyền lựa chọn cho tổng chưởng lý để phê chuẩn. Phó chưởng lý có thể bị tổng chưởng lý sa thải.
    Trong vai trò giữ quyền công tố, các chưởng lý nhà nước có quyền tự quyết đáng kể trong việc quyết định những vụ án hình sự nào để khởi tố. Họ cũng có thẩm quyền xác định những vụ án dân sự nào sẽ cố gắng giải quyết ngoài tòa án và những vụ án nào sẽ đưa ra xét xử. Do vậy, chưởng lý nhà nước ở vào vị trí rất thuận lợi để có thể tác động đến sổ ghi án của tòa án hạt liên bang. Tương tự như vậy, do tham gia vào kiện tụng ở các tòa án hạt nhiều hơn bất kỳ ai khác nên chưởng lý nhà nước và nhân viên của họ là những người tham gia cực kỳ quan trọng trong việc hoạch định chính sách ở các tòa án sơ thẩm liên bang.
    Các công tố viên cấp bang. Những người khởi tố những người bị buộc tội vi phạm các điều luật hình sự của bang thường được gọi là các chưởng lý hạt. Ở hầu hết các bang, các chưởng lý hạt do các quan chức của địa hạt bầu ra; tuy nhiên, ở một số ít bang họ được chỉ định. Văn phòng của chưởng lý hạt thường tuyển dụng rất nhiều phụ tá làm hầu hết công việc xét xử trên thực tế. Phần lớn những phó chưởng lý hạt là sinh viên mới tốt nghiệp trường luật, những người sẽ thu thập kinh nghiệm xét xử quý báu từ những vị trí đó. Nhiều người sau đó tham gia vào hoạt động tư nhân, thường với tư cách là luật sư bào chữa các vụ án hình sự. Những người khác sẽ tìm cách trở thành chưởng lý hay thẩm phán hạt sau một vài năm.
    Văn phòng của chưởng lý hạt có quyền tự quyết rất lớn trong việc xét xử các vụ án. Với những hạn chế về ngân sách và nhân lực, không phải tất cả các vụ án đều có thể được dành một lượng thời gian và nghiên cứu như nhau. Do vậy, một số vụ án bị bãi bỏ, một số vụ không được khởi tố và những vụ khác được khởi tố quyết liệt tại tòa án. Tuy nhiên, hầu hết các vụ án đều phụ thuộc vào sự thương lượng lời khai với bị cáo. Điều này có nghĩa là văn phòng chưởng lý hạt đồng ý chấp nhận lời biện hộ có tội của bên bị ở mức độ giảm cáo buộc hoặc bác bỏ một số cáo buộc đối với bên bị để đổi lấy cơ sở buộc tội những người khác.
    Bào chữa viên nhà nước. Thông thường người bị buộc tội vi phạm một đạo luật hình sự của bang hay liên bang không có khả năng trả tiền để được một luật sư bào chữa. Trong một số lĩnh vực, một quan chức chính phủ, được gọi là bào chữa viên nhà nước, sẽ nhận trách nhiệm đại diện cho những bị đơn nghèo khổ. Do vậy, bào chữa viên nhà nước là một đối trọng của công tố viên. Tuy nhiên, không giống như chưởng lý, bào chữa viên nhà nước thường được chỉ định chứ không phải bầu chọn. Ở một số vùng của đất nước, có những hệ thống bào chữa viên nhà nước trên toàn bang; ở các vùng khác, bào chữa viên nhà nước là một quan chức địa phương, thường liên kết với một chính quyền địa hạt. Giống như chưởng lý hạt, bào chữa viên nhà nước tuyển dụng các nhân viên phụ thẩm và điều tra cho mình.
    Các luật sư khác của chính quyền. Ở cả cấp độ bang và liên bang, một số luật sư của chính quyền được biết đến vì công việc ở tòa phúc thẩm nhiều hơn ở tòa án sơ thẩm. Chẳng hạn, mỗi bang có một tổng chưởng lý giám sát một nhóm các chưởng lý, những người bị ràng buộc với trách nhiệm xử lý những công việc pháp lý của bang. Ở cấp độ liên bang, Bộ Tư pháp có những trách nhiệ m tương tự thay mặt cho nước Mỹ.
    Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Mặc dù Bộ Tư pháp là một cơ quan của bộ máy hành pháp của chính phủ nhưng nó có sự liên kết tự nhiên với ngành tư pháp. Nhiều vụ án xét xử ở các tòa án liên bang liên quan đến chính quyền quốc gia ở vai trò này hay vai trò khác. Đôi khi chính quyền bị kiện; trong những trường hợp khác, chính quyền khởi xướng vụ kiện. Trong cả hai trường hợp này, một chưởng lý phải đại diện cho chính quyền. Phần lớn các vụ kiện tụng liên quan đến chính quyền liên bang đều do Bộ Tư pháp xử lý mặc dù nhiều cơ quan chính phủ khác cũng có luật sư riêng.
    Văn phòng Tổng cố vấn pháp luật của Bộ Tư pháp có vai trò cực kỳ quan trọng đối với những vụ án được tranh tụng trước Tòa án tối cao. Bộ cũng có một vài ban pháp lý, mỗi ban có các luật sư chuyên biệt do một phó tổng chưởng lý đứng đầu. Các ban pháp lý giám sát việc xử lý kiện tụng của chưởng lý nhà nước, đưa các vụ án ra tòa phúc thẩm và hỗ trợ văn phòng Tổng cố vấn pháp luật trong các vụ án tranh cãi trước Tòa án tối cao.
    Tổng Cố vấn pháp luật Hoa Kỳ. Tổng cố vấn pháp luật Hoa Kỳ, quan chức cao cấp thứ ba trong Bộ Tư pháp, được hỗ trợ bởi năm phó tổng cố vấn và khoảng hai mươi trợ lý tổng cố vấn. Chức năng chủ yếu của tổng cố vấn pháp luật là đại diện cho nước Mỹ quyết định những vụ án nào sẽ được hay không được đưa ra Tòa án tối cao để xem xét lại. Bất cứ khi nào một cơ quan hay tổ chức thuộc bộ máy hành pháp bị thua trong một vụ kiện ở một trong những tòa phúc thẩm và muốn Tòa án tối cao xem xét lại thì cơ quan hay tổ chức đó sẽ yêu cầu Bộ Tư pháp có được một lệnh lấy lên xem xét lại (certiorari). Tổng cố vấn pháp luật sẽ xác định có kháng nghị phán quyết của tòa án thấp hơn hay không.
    Nhiều yếu tố phải tính đến khi đưa ra một quyết định như vậy. Có lẽ cân nhắc quan trọng nhất là Tòa án tối cao bị giới hạn về số vụ án mà nó có thể xét xử trong một nhiệm kỳ nhất định. Do vậy, tổng cố vấn pháp luật phải xác định liệu một vụ án cụ thể có nên đưa ra xem xét đặc biệt tại Tòa án tối cao hay không. Ngoài việc quyết định có nên đưa ra Tòa án tối cao để xem xét lại, tổng cố vấn pháp luật còn biện hộ cho hầu hết các vụ án của chính phủ do Tòa Tối cao xét xử.
    Các tổng chưởng lý của bang. Mỗi bang có một tổng chưởng lý phục vụ với tư cách là quan chức pháp lý hàng đầu của bang đó. Ở hầu hết các bang, quan chức này được bầu trên cơ sở một cuộc bỏ phiếu kín của đảng trên toàn bang. Tổng chưởng lý giám sát một nhóm chưởng lý, những người mà công việc chủ yếu là giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến bang. Mặc dù việc khởi tố những bị cáo hình sự nhìn chung do các chưởng lý hạt địa phương giải quyết, nhưng văn phòng của tổng chưởng lý vẫn thường đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tra những hoạt động phạm tội trên toàn bang. Do đó, tổng chưởng lý và nhân viên của mình có thể phối hợp chặt chẽ với các chưởng lý hạt địa phương trong việc chuẩn bị cho một vụ án khởi kiện một bị cáo cụ thể.
    Các tổng chưởng lý của bang cũng đưa ra những ý kiến cố vấn cho các cơ quan của bang và địa phương. Thông thường, những ý kiến này diễn giải một khía cạnh của luật bang mà chưa được các tòa án xét xử. Mặc dù một ý kiến cố vấn cuối cùng có thể bị bãi bỏ trong một vụ án đưa ra trước tòa, nhưng ý kiến của tổng chưởng lý vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lối hành xử của các cơ quan của bang và địa phương.
    Các luật sư tư trong thủ tục tố tụng
    Trong các vụ án hình sự ở Mỹ, bị cáo có một quyền hiến định là được đại diện bởi một luật sư. Một số khu vực tài phán đã thiết lập các văn phòng bào chữa viên nhà nước để đại diện cho những bị cáo nghèo khổ. Trong những khu vực khác, có một số phương pháp là bổ nhiệm một luật sư tư để đại diện cho một bị cáo không có khả năng thuê luật sư bào chữa. Những bị cáo không có khả năng thuê luật sư cho mình cũng làm theo cách này.
    Trong các vụ án dân sự, cả bên nguyên và bên bị đều không có quyền hiến định được luật sư bào chữa. Tuy nhiên, trong phạm vi dân sự thì các vấn đề pháp lý thường phức tạp đến mức phải có luật sư bào chữa. Những hình thức hỗ trợ pháp lý khác nhau thường sẵn có cho những người cần được giúp đỡ.
    Luật sư bào chữa được chỉ định / bổ nhiệm. Khi một luật sư tư phải được bổ nhiệm để bào chữa cho một bị cáo nghèo khổ thì việc bổ nhiệm này thường do một thẩm phán độc lập thực hiện trên cơ sở từng trường hợp. Các hiệp hội luật sư địa phương hay bản thân các luật sư thường cung cấp cho tòa án một danh sách những luật sư sẵn sàng cho việc bào chữa như vậy.
    Luật sư bào chữa tư. Một số luật sư trong hoạt động cá nhân của họ thường chuyên tâm vào công việc bào chữa cho tội phạm hình sự. Mặc dù cuộc sống của những luật sư bào chữa cho tội phạm hình sự có thể được mô tả rất hào nhoáng trên truyền hình hay phim ảnh, song trên thực tế những luật sư này phải làm việc nhiều giờ với đồng lương và thanh thế rất thấp.
    Nhóm làm việc tại phòng xử án
    Không chỉ đơn thuần hoạt động theo kiểu thỉnh thoảng tập hợp những người lạ để giải quyết một xung đột nào đó rồi ai đi đường nấy, các luật sư và thẩm phán, những người cùng làm việ c trong một phòng xử án hình sự, trở thành một phần của nhóm làm việc.
    Những thành viên hiện hữu nhất của nhóm làm việc – thẩm phán, công tố và luật sư bào chữa – được gắn với những chức năng cụ thể: Bên công tố thúc ép để có lời buộc tội những người bị kết tội vi phạm hình sự đối với chính quyền, luật sư bào chữa tìm mọi cách để khách hàng của mình được trắng án, và thẩm phán đóng vai trò người phân xử trung gian để bảo đảm có mức án công bằng. Mặc dù có những vai trò khác nhau nhưng các thành viên của nhóm làm việc tại phòng xử án có cùng một số giá trị và mục đích và không phải là những kẻ thù ghê gớm của nhau như nhiều người thường nghĩ. Sự hợp tác giữa các thẩm phán, bên công tố và luật sư bào chữa là quy phạm của nhóm làm việc tại phòng xử án.
    Mục đích quan trọng nhất của nhóm làm việc tại phòng xử án là giải quyết các vụ án một cách mau chóng. Các thẩm phán và bên công tố quan tâm đến việc giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng để thể hiện một hình ảnh hoàn thiện và hiệu quả. Do những luật sư bào chữa tư cần giải quyết rất nhiều vụ án để bảo đảm về vấn đề tài chính nên việc giải quyết các vụ án một cách nhanh chóng là lợi thế của họ. Và những bào chữa viên nhà nước thường tìm cách nhanh chóng giải quyết vấn đề một cách đơn giản vì họ thiếu những nguồn lực cần thiết để giải quyết khối lượng công việc của mình.
    Một mục tiêu quan trọng khác của nhóm làm việc tại phòng xử án là duy trì sự gắn kết trong nhóm. Xung đột giữa các thành viên làm cho công việc trở nên khó khăn hơn và cản trở việc giải quyết nhanh chóng các vụ án.
    Cuối cùng, nhóm làm việc tại phòng xử án quan tâm đến việc giảm bớt và kiểm soát sự bất ổn. Trên thực tế, điều này có nghĩa là tất cả thành viên của nhóm làm việc đều nỗ lực tránh các vụ xử án. Các vụ xử án, đặc biệt là các vụ xử án có bồi thẩm đoàn, gây ra rất nhiều bất ổn khi chúng đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức mà không thể bảo đảm chắc chắn sẽ có được kết quả mong muốn.
    Để duy trì những mục tiêu này, các thành viên của nhóm làm việc phải có một số kỹ năng. Mặc dù có những quyết định đơn phương và thủ tục đối lập nhưng đàm phán là kỹ năng được sử dụng phổ biến nhất tại các phòng xử án hình sự. Các thành viên đàm phán về hàng loạt vấn đề - chẳng hạn sự đình lại (trì hoãn trong thủ tục tại tòa án), các ngày xét xử và trao đổi thông tin. Tuy nhiên, thương lượng lời khai là cách thức quyết định nhất trong việc đàm phán.
    Các dịch vụ pháp lý cho người nghèo
    Mặc dù các bị đơn hình sự có quyền hiến định được đại diện bởi một luật sư, nhưng những người là bị đơn trong một vụ án dân sự hoặc muốn bắt đầu một vụ án dân sự không có quyền được có đại diện. Do vậy, những người không có tiền để thuê luật sư có thể gặp khó khăn trong việc xét xử.
    Để giải quyết vấn đề này, những dịch vụ hỗ trợ pháp lý hiện nay đã xuất hiện trong nhiều lĩnh vực. Các hiệp hội hỗ trợ pháp lý được thành lập rất sớm ở New York và Chicago, ngay từ cuối những năm 1880, và nhiều thành phố lớn khác đã làm như vậy trong thế kỷ XX. Mặc dù một số hiệp hội hỗ trợ pháp lý được các tổ chức luật tài trợ, hầu hết những hiệp hội này đều được hỗ trợ bở i những đóng góp cá nhân. Các văn phòng hỗ trợ pháp lý cũng liên kết với các tổ chức từ thiện trong một số lĩnh vực, và nhiều trường luật đưa vào hoạt động các khoa hỗ trợ pháp lý để mang đến sự trợ giúp về pháp luật cho người nghèo và cho các sinh viên luật thực tập. Ngoài ra nhiều luật sư còn cung cấp những dịch vụ pháp lý “pro bono publico” (tiếng Latinh có nghĩa là “vì lợi ích chung”) vì họ coi đó là một trách nhiệm nghề nghiệp.
    NGUYÊN ĐƠN
    Trong một số vụ án diễn ra trước tòa, nguyên đơn là những cá nhân, trong khi ở những vụ án khác thì một hay nhiều nguyên đơn có thể là một cơ quan chính phủ, một doanh nghiệp, một liên đoàn, một nhóm lợi ích hay một trường đại học.
    Điều gì thúc đẩy một người hoặc một nhóm đưa sự bất bình ra toà? Trong các vụ án hình sự, câu trả lời cho vấn đề này là tương đối đơn giản. Một điều luật hình sự của bang hoặc liên bang được coi là bị vi phạm, và chính phủ cáo trạng bên bị buộc tội vi phạm điều luật đó. Trong các vụ án dân sự thì câu trả lời hoàn toàn không dễ dàng. Mặc dù một số người sẵn sàng đưa sự bất bình của họ ra tòa, nhưng nhiều người khác lại tránh thủ tục này do thời gian và chi phí có thể phát sinh.
    Nhà khoa học chính trị Phillip Cooper chỉ ra rằng các thẩm phán được triệu tập để giải quyết hai loại tranh chấp: các vụ án tư pháp và những tranh cãi công pháp. Các vụ án tư pháp là những vụ án mà trong đó một công dân hay tổ chức riêng lẻ kiện một công dân hay tổ chức khác. Còn trong những tranh cãi công pháp, một công dân hoặc tổ chức chắc chắn rằng một cơ quan hay quan chức chính phủ đã vi phạm một quyền hiến định hoặc luật định. Trong cuốn Những lựa chọn tư pháp khó khăn (Hard Judicial Choices), Cooper đã viết rằng “những hành động pháp luật, dù là tranh cãi công pháp hay tư pháp, đều nhằm hướng đến một chính sách nào đó hoặc hy vọng được bù đắp”.
    Một ví dụ kinh điển về kiện tụng cá nhân, hay kiện tụng thông thường, theo hướng mong được đền bù là khi một người bị thương trong một tai nạn ô tô kiện người lái của chiếc ôtô khác để cố gắng đòi được bồi thường thiệt hại bằng tiền cho những chi phí thuốc men phải chịu. Loại kiện tụng này mang tính chất cá nhân và không nhằm mục đích thay đổi các chính sách của chính phủ hay doanh nghiệp.
    Tuy nhiên, một số vụ án tư pháp là có định hướng chính sách hoặc có bản chất chính trị. Kiện tụng về thương tích cá nhân hay trách nhiệm đối với sản phẩm bề ngoài có vẻ đơn thuần chỉ mang bản chất đòi bồi thường, song nó cũng có thể được sử dụng để thay đổi công việ c sản xuất hay hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp tư nhân bị kiện.
    Một vụ kiện ở bang Bắc Carolina cho chúng ta một ví dụ rõ nét. Vụ án bắt đầu năm 1993 sau khi một bé gái năm tuổi bị kẹt trong cống của một bể nước sau khi một đứa bé khác đã bỏ nắp cống đó đi. Lực hút quá mạnh đã khiến cho bé gái bị hút gần hết ruột già và ruột non trước khi được cứu ra. Hậu quả là trong suốt phần đời còn lại cô bé phải dành 11 giờ mỗi ngày gắn chặt ống dẫn thức ăn trong tĩnh mạch. Năm 1997, một ban hội thẩm đã xử cho gia đình cô bé được bồi thường 25 triệu USD và trước khi ban hội thẩm phải cân nhắc những bồi thường mang tính trừng phạt thì nhà sản xuất cống nước trên và hai bị đơn khác đã phải giải quyết vụ án với cái giá 30,9 triệu USD. Luật sư của bên nguyên nói rằng vụ kiện này đã tiết lộ những rắc rối tương tự trong các lĩnh vực khác của đất nước và cho thấy một ví dụ đích thực về những gì người trong ngành biết nhưng những người khác thì không. Không chỉ gia đình cô bé chiến thắng vụ kiện mà cơ quan lập pháp bang Bắc Carolina cũng đã thông qua một đạ o luật yêu cầu những ống nước nhằng nhịt đều phải có biện pháp ngăn chặn những chấn thương như vậy trong tương lai.
    Tuy nhiên, hầu hết những vụ kiện mang tính chính trị hay có định hướng chính sách là những tranh cãi công pháp, tức chúng là những vụ được đưa ra tòa kiện chính phủ chủ yếu để ngăn chặn những chính sách hay hoạt động bị coi là bất hợp phá p. Chúng cũng có thể tìm kiếm tiền bồi thường hay một số hình thức giảm nhẹ thiệt hại cụ thể khác. Một vụ án do Tòa án tối cao Mỹ xét xử, vụ Lucas kiện Hội đồng bờ biển Nam Carolina, cho thấy một ví dụ rõ nét. Đạo luật bảo vệ đường bờ biển của bang Nam Carolina cấm David H. Lucas xây dựng những ngôi nhà cho một gia đình trên hai lô đất mà ông sở hữu. Một tòa sơ thẩm của bang Nam Carolina phán quyết Lucas có quyền được bồi thường cho tổ n thất nói trên. Tuy nhiên, Tòa án tối cao bang Nam Carolina đã đảo ngược quyết định của tòa sơ thẩm và Lucas kiện lên Tòa án tối cao Mỹ. Tòa án tối cao phán quyết có lợi cho Lucas, tuyên bố rằng nếu một chủ sở hữu tài sản bị từ chối tất cả những hình thức sử dụng có lợi ích hữu hình về mặt kinh tế trên tài sản của mình thì có nghĩa là đã có sự chiếm đoạt và Hiến pháp yêu cầu người chủ sở hữu được quyền bồi thường.
    Việc kiện tụng mang tính chính trị hay theo định hướng chính sách phổ biến hơn ở các tòa phúc thẩm so với các tòa sơ thẩm, và xuất hiện nhiều nhất ở Tòa án tối cao Mỹ. Việc kiện tụng đòi bồi thường thông thường thường được kết thúc sớm ở thủ tục tố tụng vì những người đi kiện thấy việc hòa giải tranh chấp của họ hoặc chấp nhận phán quyết của tòa sơ thẩm là có lợi hơn. Tuy nhiên, nguyên đơn trong các vụ kiện chính trị nhìn chung ít dành công sức thúc đẩy những lợi ích chính sách của họ bằng việc giành thắng lợi ở những cấp độ tòa án thấp hơn. Thay vào đó, họ thích sự công khai rộng rãi hơn gắn liền với một quyết định của tòa phúc thẩm. Việc theo đuổi kiện tụng tại các tòa phúc thẩm là rất tốn kém. Do vậy, nhiều vụ kiện đạt đến cấp độ tòa án này thường được các nhóm lợi ích hỗ trợ bằng cách này hay cách khác.
    CÁC NHÓM LỢI ÍCH TRONG THỦ TỤC TỐ TỤNG
    Mặc dù các nhóm lợi ích có thể được biết đến nhiều hơn vì những nỗ lực của họ nhằ m gây ảnh hưởng đến các quyết định của bộ máy lập pháp và hành pháp, nhưng họ cũng theo đuổi các mục tiêu chính sách của họ ở tòa án. Một số nhóm nhận thấy hệ thống tòa án dễ lĩnh hội những nỗ lực của họ hơn so với bộ máy lập pháp và hành pháp của chính phủ. Các nhóm lợi ích không có những nguồn lực kinh tế để chuẩn bị cho một nỗ lực vận động hành lang mạnh mẽ ở Quốc hội hay một cơ quan lập pháp bang có thể dễ dàng thuê luật sư và tìm kiếm một số điều khoản theo Hiến pháp hay theo luật định làm cơ sở cho một vụ kiện tại tòa án. Tương tự như vậy, một nhóm nhỏ với ít cử tri đã đăng ký trong số các thành viên của nhóm có thể thiếu sức mạnh chính trị để gây ảnh hưởng lên các nhà lập pháp và quan chức hệ thống hành pháp. Tuy nhiên, có nhiều thành viên và có sức mạnh chính trị không phải là những điều kiện tiên quyết để đưa các vụ kiện ra tòa.
    Các nhóm lợi ích cũng có thể hướng sang các tòa án vì họ thấy rằng hệ thống tòa án đồng cảm hơn với những mục tiêu chính sách của họ so với hệ thống lập pháp và hành pháp. Trong suốt những năm 1960, các nhóm lợi ích với những mục tiêu chính sách tự do đã gặp rất nhiều thuận lợi với các tòa án liên bang. Ngoài ra, khái niệm công ty luật vì lợi ích chung cực kỳ phổ biến trong thời kỳ này. Các công ty luật vì lợi ích chung theo đuổi những vụ án nhìn chung phục vụ cho lợi ích của công chúng – bao gồm những vụ án trong các lĩnh vực quyền lợi người tiêu dùng, phân biệt đối xử trong tuyển dụng, an toàn nghề nghiệp, quyền tự do dân sự và các vấn đề về môi trường.
    Trong những thập niên 1970 và 1980, các nhóm lợi ích bảo thủ hướng sang các tòa án liên bang với mức độ thường xuyên hơn trước kia. Điều này một phần là sự phản ứng đối với những thành công của các nhóm lợi ích tự do. Điều này cũng chính là do các tòa án liên bang dành diễn đàn xét xử thuận lợi hơn cho những quan điểm bảo thủ.
    Sự tham gia của nhóm lợi ích vào thủ tục tố tụng có thể dưới một số hình thức khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu của từng nhóm. Tuy nhiên, có hai sách lược chính: tham gia vào những vụ án kiểm tra tính hợp hiến và trình bày thông tin trước tòa án thông qua những “amicus curiae” (tiếng Latinh có nghĩa là “người bạn của tòa án”).
    Những vụ án kiểm tra tính hợp hiến (Test Cases)
    Do bộ máy tư pháp chỉ tham gia vào việc lập chính sách bằng cách đưa ra những quyết định trong các vụ án cụ thể nên một sách lược của nhóm lợi ích là bảo đảm rằng một vụ án phù hợp với việc đạt được những mục tiêu chính sách của nhóm sẽ được đưa ra trước tòa. Trong một số trường hợp, điều này có nghĩa là nhóm lợi ích sẽ khởi xướng và bảo trợ vụ án bằng việc cung cấp tất cả những nguồn lực cần thiết. Ví dụ được biết đến nhiều nhất về loại hình bảo trợ này là vụ Brown kiện Hội đồng giáo dục năm 1954. Trong vụ án này, mặc dù việc kiện Hội đồng giáo dục Topeka, Kansas được cha mẹ Linda Brown tiến hành nhưng Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP) mới là người hỗ trợ pháp lý và tiền bạc để theo suốt vụ kiện này tại Tòa án tối cao. Thurgood Marshall, người sau này trở thành thẩm phán của Tòa án tối cao Mỹ, đã biện hộ vụ kiện thay mặt cho bên nguyên và NAACP. Nhờ đó mà NAACP đã giành được thắng lợi thông qua phán quyết của Tòa án tối cao rằng sự phân biệt chủng tộc ở các trường công vi phạm điều khoản bảo vệ công bằng của Tu chính án Hiến pháp thứ mười lăm.
    Các nhóm lợi ích cũng có thể hỗ trợ cho một vụ án do một người nào đó khởi xướng nhưng lại đặt ra những vấn đề quan trọ ng cho nhóm. Một ví dụ rõ nét cho trường hợp này có thể tìm thấy trong một vụ kiện về quyền tự do tín ngưỡng, vụ Wisconsin kiện Yoder. Vụ án này do bang Wisconsin khởi kiện khi đưa ra những lời buộc tội Jonas Yoder và những người khác đã không chịu gửi con em mình đến trường ở tuổi 16 theo quy định của luật bang. Yoder và những người khác, là hội viên của tín ngưỡng Amish, tin rằng giáo dục sau lớp 8 dẫn đến việc phá vỡ những giá trị mà họ tôn thờ và “gây ảnh hưởng trần tục lên con em họ”.
    Một tổ chức được biết đến với tên gọi ủy ban quốc gia về tự do tín ngưỡng Amish (NCARF) đã đi đến quyết định bào chữa cho Yoder và những người khác. Tiếp theo phán quyết của tòa sơ thẩm bất lợi cho Amish, NCARF kháng cáo lên một tòa phúc thẩm lưu động ở Wisconsin, song tòa này đã bảo lưu phán quyết của tòa sơ thẩm. NCARF tiếp tục kháng cáo lên Tòa án tối cao ở Wisconsin, và tòa này phán quyết theo hướng có lợi cho Amish, tuyên bố rằng luật giáo dục bắt buộc đã vi phạm điều khoản tự do thực hiện tín ngưỡng của Tu chính án Hiến pháp thứ nhất. Khi đó bang Wisconsin kháng cáo lên Tòa án tối cao Mỹ và, vào ngày 15 tháng Năm 1972, Tòa án tối cao Mỹ đã chấp nhận sự phản đối về mặt tín ngưỡng mà NCARF đã đưa ra đối với các đạo luật giáo dục bắt buộc.
    Như những ví dụ trên cho thấy, sự tham gia của nhóm lợi ích vào việc kiện tụng đã tập trung vào những vụ án liên quan đến những vấn đề Hiến pháp trọng yếu được ra Tòa án tối cao. Tuy nhiên, do chỉ một phần nhỏ các vụ án đến được cấp tòa án cao nhất của đất nước này nên phần lớn công việc của các luật sư nhóm lợi ích là dành cho những việc mang tính thủ tục hơn ở các cấp độ thấp hơn của bộ máy tư pháp. Thay vì tạo những vụ án kiểm tra tính hợp hiến quan trọng cho các tòa phúc thẩm, những luật sư này có thể đơn giản được yêu cầu giải quyết các vấn đề pháp lý cho khách hàng thuộc nhóm lợi ích của họ.
    Chẳng hạn, trong phong trào đòi quyền dân sự vào những thập niên 1950 và 1960, các luật sư vì lợi ích chung không chỉ khiếu kiện những vấn đề quan trọng về quyền dân sự, mà họ còn bào chữa cho những người Mỹ gốc Phi và những người lao động đòi quyền dân sự gặp rắc rối với các cơ quan chức năng địa phương. Khi đó, những luật sư nhóm lợi ích này thực hiện nhiều chức năng của một hiệp hội hỗ trợ pháp lý chuyên biệt: Họ mang đến sự đại diện pháp lý cho những người tham gia vào một phong trào quan trọng đòi thay đổi xã hội. Hơn nữa, họ còn thực hiện chức năng quan trọng là thu hút sự quan tâm đến hoàn cảnh khó khăn của những người Mỹ gốc Phi bằng việc kiên trì theo đuổi các vụ án trước tòa.
    Thông điệp của “những người bạn của tòa án” (Amicus Curiae)
    Việc đệ trình thông điệp của “những người bạn của tòa án” là phương pháp dễ dàng nhất mà nhóm lợi ích có thể tham gia vào các vụ kiệ n. Phương pháp này cho phép một nhóm có được thông điệp của mình trước tòa án kể cả khi nhóm đó không kiể m soát vụ án. Trong trường hợp được sự cho phép của các bên của vụ án hay sự cho phép của tòa án, một nhóm lợi ích có thể đệ trình thông điệp của “những người bạn của tòa án” để bổ sung cho lời biện hộ của các bên. Việc lập hồ sơ của “những người bạn tòa án” là một sách lược được sử dụng nhiều tại tòa phúc thẩm hơn là tòa sơ thẩm, ở cả cấp độ liên bang và bang.
    Đôi khi những thông điệp này là nhằm mục đích đẩy mạnh vị thế của một trong các bên của vụ án. Khi vụ Wisconsin kiện Yoder được biện hộ trước Tòa án tối cao Mỹ, tín ngưỡng Amish được ủng hộ bởi các thông điệp của “những người bạn của tòa án” do Hội thảo chung của những tín đồ theo tín ngưỡng ngày Sabbath, Hội đồng quốc gia về các nhà thờ Cơ đốc giáo ở Mỹ, Hội đồng giáo đường Do thái của Mỹ, Quốc hội Do thái Mỹ, Ủy ban Do thái quốc gia về luật pháp và các vấn đề chung, và Ủy ban trung ương dòng Menno trình ra.
    Đôi khi những thông điệp của “những người bạn của tòa án” được sử dụng không chỉ để đẩy mạnh lời biện hộ của một trong các bên, mà còn để chỉ cho tòa án thấy quan điểm riêng của nhóm về việc vụ án nên được giải quyết như thế nào. Những thông điệp của “những người bạn của tòa án” thường được trình lên trong nỗ lực thuyết phục tòa phúc thẩm chấp thuận hoặc từ chối việc xem xét phán quyết của tòa án thấp hơn. Một nghiên cứu của Tòa án tối cao Mỹ cho thấy việ c trình bày những thông điệp của “những người bạn của tòa án” làm tăng đáng kể cơ hội mà Tòa có thể xem xét vụ án một cách toàn diện.
    Không giống các nhóm lợi ích riêng, tất cả các cấp độ chính quyền có thể đệ trình những thông điệp của “những người bạn của tòa án” mà không cần phải đợi sự cho phé p. Tổng cố vấn pháp luật của Mỹ có vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này, và trong một số trường hợp Tòa án tối cao có thể mời Tổng cố vấn pháp luật trình bày một thông điệp của “những người bạn của tòa án”.

    SOURCE  :  Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2004