Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Hoàng Cầm (1922-2010)- Một Vị Thuốc Ðắng, Một Vị Thơ....

Hoàng Cầm (1922-2010)- Một Vị Thuốc Ðắng, Một Vị Thơ....

NAM DAO
Ngày 10 tháng 5-2010

Trong giòng thơ Việt Nam ở thiên niên kỷ 20, thơ Hoàng Cầm là những giọt nước trong veo nhưng mặn chát vị đắng, vị của thuốc mang tên Hoàng Cầm. Gặp anh đầu thập niên 80 kỷ trước, liên hệ trân quí này hẳn đã ảnh hưởng đến nghiệp viết của tôi, và hàng năm, cứ dịp Tết tôi lại điện thoại thăm hỏi chúc tụng anh. Mỗi lần, anh lặp đi lặp lại ‘’ cố về, để anh em còn gặp nhau…’’. Tết năm nay, đứa cháu anh trả lời : ‘’ ông cháu nay chẳng còn nhớ gì nữa rồi! ‘’ Cho nên, tuy tin anh về một cõi khác không đột ngột, nhưng sao vẫn rất đỗi đau lòng. Thơ Việt Nam lại vắng thêm một cái bóng khổng lồ, bóng anh.
Xin chép dăm câu thơ anh làm trên gường bệnh gửi tôi :


Thì em cứ đi
đã quá vòng định mệnh
Sao còn loanh quanh bên số phận của rừng
Tưởng đã đến một tầng sâu giun bướm
Hóa ra còn con dế vẫn dưng dưng

Và, thay nén nhang thắp lên tiễn biệt anh, tôi xin đưa lên trang mạng này bài tôi viết về anh, thấm thoát thế mà đã quá mười năm.

MỘT VỊ THUỐC ÐẮNG, MỘT VỊ THƠ....

1
Thế đấy. Anh chép miệng cười. Nụ cười rất tươi, rực lên cùng ánh mắt. Anh bảo : «...nó vận vào người», lại rót rượu.
Ðó là một loại rượu ngâm với mơ, màu vàng óng, vị hơi ngọt, uống khá đầm. «Rượu làng Vân, ngâm mơ thế này là đã cả năm rồi», anh lại cười, tay với điếu cày. Tiếng nước reo sòng sọc. Mùi thuốc lào hăng hắc xông lên. Anh ngả đầu ra sau, mắt lim dim. Tôi ngắm anh. Những nét hào hoa nay hằn xuống, nhưng vẫn là những nét hào hoa.
Anh quả là một người hào hoa.
Chị đi đâu về. Tôi đứng dậy. Chị bảo «...à, chú đấy à !». Rồi chị ra ngồi, tay rót nước. Tôi nhìn chị. Chị quả là một người đàn bà đẹp. So với người Hà Nội những năm đó, chị đỏm dáng. Có lẽ chị biết là mình đẹp.
Tôi đưa ly rượu lên môi, bâng khuâng nhớ người con gái trùng tên chị đã hẹn tôi rồi không đến một năm xưa. Tôi nhìn anh, vẩn vơ hồi tưởng lần đầu đến quán rượu này. Tai tôi lại văng vẳng tiếng cười ròn rã của họa sĩ Hoàng lập Ngôn «... muốn thì đi với tớ, không đi lại chê Hà Nội không có !» Ngồi trên chiếc ghế đẩu chông chênh chỉ chực đổ soài ra, tôi nghe tiếng ngâm thơ. Anh ngâm một cách ngâm lạ lùng. Ngâm như than, như khóc, như rên rỉ, như van vỉ. Như hát chầu văn. Như rủ người nghe nhập đồng.
Quái lạ. Lời thơ lại vượt khỏi tầm trí tuệ. Nó lơ lửng ở chốn nửa nhân gian nửa thần thánh. Nó chém xuống tâm linh, để lại vết cắt, thứ vết cắt hằn sâu xuống ở lớp thứ tám. Vâng, hiểu thì chỉ cần lớp một cho đến lớp ba, bốn. Sau đến lớp năm, lớp bảy là cảm. Khi đó chữ nghĩa hết là chữ nghĩa. Nó thành những tác động tâm - sinh lý. Nhịp tim không còn đều đặn đẩy máu đi như làm thứ nghiệp vụ buồn tẻ trong một cơ thể bình thường. Nhịp thở không còn đều đặn như khi người ta ngủ say đến mất hết khả năng tiếp nhận bất cứ gì. Còn lớp tám ? Tôi phải nói thế nào ? Tôi biết như kẻ có lòng tin vào Thượng Ðế, nhưng làm sao nói đây ?
Tôi lẩm nhẩm «... Ta soi. Chỉ còn ta đạp lùi tinh tú. Ngủ say rồi đôi cá đòng đong». Ở tầng thứ tám, một bàn chân người nhỏ bé đạp vào không gian mênh mang bí ẩn đẩy lùi lại những vì sao long lanh trên dải ngân hà trong suốt. Cúi xuống, cũng ở tầng thứ tám đó, con người nhỏ bé soi mình trong lạch nước, và an bình thay, đôi cá đòng đong còn nhỏ bé hơn nữa đã ngủ say rồi. Từ vô cùng lớn, chỉ vài chữ là đến li ti nhỏ. Ở giữa, con người kia cô đơn làm cái ảo tác đạp lùi tinh tú. Hình ảnh đó còn bi tráng hơn huyền thoại Sisyphe lăn đá lên cao. Hòn đá tới đỉnh lại lăn xuống như một thứ định nghiệp vô căn do, lăn xuống để rồi lại phải đẩy lên, theo cách diễn tả sự phi lý kiếp người của Camus. Lăn đá là hình phạt của Zeus, thứ thần linh hóa ra đại bàng đi đánh cắp một cô con gái nhưng bị Sisyphe - kẻ được bàn dân coi như một vì vua mong xây dựng một vương quốc có văn minh - nhận diện và tố cáo. Văn minh nằm ép dưới quyền lực. Còn luân lý, luân lý đã nhiều lần chùn bước trước sức mạnh trong lịch sử nhân loại.
Hình ảnh lăn đá của Sisyphe khắc nghiệt hơn đôi cá đòng đong ngủ say. Con người cô đơn nổi loạn đạp lùi tinh tú, nhưng hiểu ra sự bất lực của ảo tác đó nên vội quay về tìm an nhiên bằng giấc ngủ của đòng đong. May thay, đòng đong vẫn có đôi. Ðó là một cách an ủi. Dĩ nhiên kém triệt để, nhưng bao dung hơn. Phải chăng Ðông khác Tây là vậy ? Nhưng thế thì sao «nó vận vào người» được nhỉ ?
2
Buổi sáng hôm ấy lành lạnh gió. Hai mươi năm sau, cứ mỗi lần gió như thế, tôi lại nhớ, lại mang mấy tấm ảnh cũ ra nhìn. Ảnh có cụ Sìn, có Văn Cao, có Thái bá Vân, những người đã khuất. Có anh. Có Duy. Có tôi. Những người vẫn còn. Có chị Băng, dĩ nhiên. Còn có T và L, hai cô gái nuôi của cụ Sìn, một họa sĩ đầu đàn của Hà Nội vào những năm ba mươi. T kéo violon cho dàn nhạc giao hưởng. Duy làm bài thơ khá đẹp về bàn tay và chiếc vĩ cầm. Còn L, cô dạy học ở Hải Phòng, nhưng nay đã lưu lạc đâu đâu bên Hòa Lan rồi. Duy đèo tôi bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng cứ dăm trăm thước lại tuột xích. Chúng tôi đi dọc đại lộ Lê Duẩn về hướng Nghi Tàm. Tôi bảo «Chẳng biết các ông ấy gặp nhau thì thế nào nhỉ ?». Khi mời anh, Duy chỉ nói «...anh lên xem bức tranh cụ Sìn vẽ anh năm tiếp thu thủ đô !». Khi mời Văn Cao, tôi chỉ nói «...cụ Sìn nhắn anh lên, lại khà khà bảo không có anh thì thôi không đình đám nữa. Cụ yếu lắm rồi...». Chúng tôi đều biết là từ cái thuở Nhân Văn gần ba mươi năm xa lơ xa lắc, anh và Văn Cao không gặp nhau nữa. Lý do ? Tôi kêu lên «...miễn bàn !». Cả nước hòa hợp hòa giải. Văn hóa thì thế. Một dúm tác phẩm. Dăm ba ông đứng đầu, ông nọ tránh không nhìn mặt ông kia. Con cháu sau này trông vào thì sẽ nghĩ gì ? Thái bá Vân gật gù, nhỏ nhẻ «Cho tôi đi với !» rồi hồn nhiên tiếp «...cũng đến lúc các ông ấy nên gặp nhau rồi !»
Tôi không hề hỏi đến lúc là đến lúc nào. Tôi cũng vô tâm, chẳng thắc mắc thế nào là nên , thế nào là không nên . Bữa ăn nhà cụ Sìn khá vui vẻ. T và L chạy lên chạy xuống. Cụ bà đi vào đi ra. Tôi vui trong bụng, chỉ cảm thấy một thoáng sượng sùng khi hai anh bắt tay nhau, để ý các anh tránh nói với nhau, nhưng cả hai đều góp chuyện. Văn Cao thích làm dáng, đôi khi hơi gượng trong dăm ba hoạt cảnh đầy tính kịch. Còn anh, anh hồn nhiên. Cụ Sìn mang bức tranh cũ ra. Bức tranh không có khung, vải bố nhem nhuốc, nhưng anh, anh cười trong bộ quân phục màu vàng, đọâi mũ có đính sao. Cụ Sìn lại khà khà móm mém bảo «...lính Vệ quốc đẹp thế đấy !». Anh mơ màng «...đẹp và trẻ. Có lẽ đẹp vì trẻ...», mắt nhìn T và L đang cúi xuống thẹn thùng. Quả thế. Tôi cũng nhìn. Cô giáo ở Hải Phòng đằm thắm hơn. Cô nhìn lại rồi chạy vụt đi. Cô nhạc sĩ vĩ cầm dáng dấp có nét bốc lửa, nhưng mắt lại mơ màng chút u uẩn than tro. Cô làm vẻ thản nhiên, nhìn về phía sân, nơi nước ao đã tràn lên mấp mé ven bờ.
Buổi trưa hôm đó qua đi, rất nhẹ, không khác cơn gió lành lạnh chớm đông. Cõi nhân duyên chập chờn oái oăm. Hai anh lại chia chung cái chiếu rượu này. Và chia với chúng tôi. Mỗi kẻ một vẻ đời. Làm lính. Làm thơ. Kéo đàn. Dạy học. Ðến từ một bờ Ðại Dương xa lắc bên kia. Lên từ Cảng, quê hương của người tài tình thõng một câu thơ nhập « Sinh ra tôi đã có Hải Phòng...» cho bản trường ca Những người trên cửa biển dính dấp đến vụ quyền lực hãm và hiếp văn học vào năm 1956. Ðè xuống rồi nằm lên dăm ba tờ báo để che bớt đi cái ê chề có tên là cải cách ruộng đất, quyền lực thở phì phò, xong việc kéo quần lên, tay chùi mép dính nước bọt phán lửng một lời «...có phải con gái nhà lành đâu, quí báu đéo gì !». Chữ đéo không thừa. Nó vạch ra tính chất của hệ tương quan giữa chính trị và văn hóa. Con gái nhà lành thì dĩ nhiên không phải là con gái tạch tạch sè thành thị. Họ dẫu còn trinh nhưng điều đó không thể bảo đảm rằng họ thuộc thành phần cốt cán của dân tộc. Nước ta vốn là một nước nông nghiệp và sẽ còn lâu vẫn là một nước có rất nhiều nông nô. Nhưng chuyện đã xưa rồi. Bây giờ khác, người cày có ruộng và công bằng ra thì người viết có giấy có bút để góp phần xây dựng một xã hội tươi đẹp. Có lẽ chính vì vậy là đã đến lúc các ông ấy nên gặp nhau ? Tôi ngây thơ nghĩ thế. Còn anh, hồn nhiên như anh, chắc anh cũng nghĩ thế. Cụ Sìn, cụ chỉ cười khà khà. Cụ không nhầm, mặc dù tuổi đã cao.
Tối ăn cơm, không biết là chân ai khều nhè nhẹ vào chân tôi. Hẳn vô tình. Giá mà cố ý nhỉ. Ai biết được, lại chuyện nhân duyên. Ðêm hôm đó, tôi ngủ lại nhà cụ Sìn với Duy. Hai đưa lau sàn xi măng đã lên dầu mồ hôi sáng bóng rồi mắc màn. T và L cũng thế, hai cô nằm chiếu bên cạnh.
Tiếng ễnh ương bờ ao. Vẫn gió. Gió xào xạc. Ngọn đèn hoa kỳ vặn xuống li ti sáng một màu xanh biếc. Tiếng cụ Sìn ho. Tiếng đập muỗi. Tiếng thở dài nhè nhẹ chiếu bên. Duy bắt đầu ngáy. Tôi thiếp dần đi trong mùi đàn bà bay thoang thoảng. Tôi mơ bay lên thật cao, cao đến độ trái đất ở dưới chỉ còn là một hòn bi ve óng ánh màu hy vọng một hạnh phúc trong tầm với của cả dân tộc tôi. Thú thật, tôi đã là một kẻ có niềm tin như vậy. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn cố gắng tin và còn hy vọng nên mới viết được những giòng chữ này, dẫu rằng đôi khi bóng tối có lúc đã bao trùm cả đời tôi lẫn đời những người tôi yêu.
Hình như ai thò tay sang nắm lấy tay tôi. Tôi để yên, lòng ngậm ngùi, vờ ngủ. Cho đến nay tôi vẫn chưa biết bàn tay đó là tay L hay tay T. Tôi chỉ biết tờ mờ sáng L đã đi ra bến xe về Hải Phòng. Và sau đó tôi rồi cũng phải bay sang bờ Ðại Dương bên kia. Nỗi ngậm ngùi sau này đọng lại được đúng hai câu : Em đi rón rén trời chưa sáng. Bước động ao bèo bỗng hóa sông.
3
Thuở đó anh biết tôi yêu thơ. Thật ra, tôi yêu tất cả những cái đẹp. Và yêu, dĩ nhiên là mù quáng. Là như bị thôi miên. Là buông hết, và thả luôn đời mình vào cái mình yêu, hệt như những kẻ tử vì đạo. Cái đẹp, gộp luôn cả chân - thiện, trở thành tất yếu cho sự tồn sinh, và mặc dầu tôi là người ngoại đạo, thỉnh thoảng lại mập mờ mang hình tượng Ðức Chúa đóng đinh trên thánh giá cứu rỗi, sườn loang lổ máu một vết dao đâm vì lòng tham tàn cộng thêm sự ngu muội.
Tôi đến chơi với anh như đến với cái đẹp. Người ta chặc lưỡi «...giao du phải cẩn thận.» Tôi bảo «Nếu phải xin phép thì cho tôi một cái danh sách, những ai là người không nên giao du !». Người ta trừng mắt. Tôi quay lưng đi. Người ta cho là tôi thách thức quyền lực. Tôi thì không. Vì tôi nghĩ, rất ngây thơ, là đã «đến lúc» vì bây giờ chỉ có ta, và ta phải «cùng nhau» góp tay vào xây lại một mảnh đất đã quá đọa đầy. Ðòi hỏi của hai từ ghép «cùng nhau» là phải xóa đi lằn ranh dĩ vãng đã chia nhau ra thành đôi, thành ba, thành năm thành bảy mảng. Những mảng băng rời trôi mỗi mảng một hướng. Nước ơi, chỉ có tình của nước mới làm tan những mảng băng chia cắt lạnh lẽo kia. Người ta lắc đầu nghi ngại. Tôi đến chơi với anh. Với Trần Dần, Lê Ðạt. Với Ðặng Ðình Hưng. Người ta nhăn mặt «Trải chiếu hoa cho mà không biết lên ngồi à ? ». Tôi giật mình. Thì ra phải chọn giữa mảnh chiếu hoa đã trải và cái đẹp ! Nhưng tôi đã thưa, cái đẹp là tất yếu cho sự tồn sinh, và tôi xin trả lại một góc chiếu vẽ hoa đỏ không hợp tạng.
Anh biết tạng tôi, cái tạng con trẻ không làm sao cho khôn ngoan thích ứng hơn được với cuộc đời. Tôi không kể cho anh cái đêm có một bàn tay đàn bà thò qua màn nắm lấy tay tôi ở chiếu bên. Anh tặng tôi một chai rượu mơ anh ngâm, dán thêm hai chữ Men Quê và Bốn câu thơ. Anh kể :
«... Tên nàng cũng là Yến. Chúng mình lên đồi, mặt đất xanh rì, nhấp nhô mềm dịu như mông như vú đàn bà. Nắng đã bắt màu vàng tươi trên mái chùa Phật Tích ngói đỏ xa xa. Ngả mình nằm xuống thảm cỏ, nàng nhìn, cái nhìn như bảo ban. Bỗng nàng chồm dậy, hai tay bíu lấy đầu mình kéo xuống, rồi áp môi hôn những nụ hôn cuồng nhiệt. Khi buông nàng ra, mình đọc «Một con bướm lửa đậu môi». Nàng nắm hai tay mình kéo ra, miệng thầm thì «Hai nhành hoa lửa chia đôi tay cầm». Nhìn lên trời, những ráng mây xa óng ánh như sắp cháy bùng lên, mình tiếp «Ba làn mây lửa về thăm». Nàng như say sóng, ôm choàng lấy mình để giữ thăng bằng trong một cơn bão biển bất ngờ ào vào thân thể, mắt nửa khép nửa mở, tay quơ lên, miệng thở dốc. Mình lao vào nàng, vào cơ thể nàng, vào tâm hồn nàng bằng tất cả sinh lực đàn ông, cứ thế cho đến khi cùng kiệt. Nàng ngước mắt, vừa cười dịu dàng, vừa đếm «... Bốn lần chim lửa đến nằm rậm hoang».
Hai mươi năm sau, tôi vẫn nghĩ cho đến nay câu chuyện anh kể không chỉ là một câu chuyện thật. Nó có chất cốt tủy như khi anh bảo với tôi rằng nàng Thơ vốn dĩ lẳng lơ, gặp ai cũng quyến rũ, nhưng chung chạ gối chăn với nàng lại là chuyện khác... Tôi tin lời anh. Anh hồn nhiên nhận mình là người may mắn. Như vậy cái gì có thể lại «vận vào người» anh ?
4
Mẹ, Chị, rồi Vợ anh và những người đàn bà yêu anh đều là cốt đồng cho anh nhập vào tâm giới của nàng Thơ. Hiện tượng này nằm dưới tầng ý thức của chính anh. Thậm chí, nó nằm ngoài anh, và chính vì thế mà anh kể là thơ anh «... vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải là tôi nghĩ ra, mà đúng thật là những lời văng vẳng bên tai như có một giọng nữ đang hát, hay đang đọc... mà tôi xin gọi là lời của thần linh đọc cho mình chép lại được.».
Vâng, nghe đâu anh chép được nguyên bài Lá Diêu Bông. Lần cuối gặp anh năm ngoái, anh hỏi «Thơ mình được mấy bài ?». Tôi tần ngần, đếm có Về với Ta, Ðợi mùa, Cây tam cúc, Quả vườn ổi. Ðó là những bài thơ lạ, ngôn ngữ thơ biết thở, biết hát và biết im lặng. Tôi đáp «năm, sáu bài...». Anh cười «...thế là lấy của thiên hạ quá nhiều rồi !» và hồn nhiên nói tiếp «... à, em mới kể có năm thôi !». Thật ra còn bài U gì anh làm gửi cho Ðặng Ðình Hưng. Bài Ðợi mùa, ít người nhắc. Thú vị nhất là tiếng chim tu hú, thứ chim lớn hơn sáo, lông đen nhạt điểm trắng, đẻ trứng thì đẻ vào tổ sáo hay tổ chim ác là, và cuối Xuân là kêu để gọi Hè về :
Mùa chưa về
Tu hú gọi Em đi tìm Mẹ

Dãy tre xa giấu biệt giải khăn điều
Khi gậy nắng ăn mày đã quăng sau núi
Hàng tre nhà
yếm trả
Mẹ về
lều dột đón mưa đêm
Thì chị đi
mấy lối chân chim
Ðể Mẹ về bao phương bèo nổi
Riêng Em nằm trơ đợi giờ tu hú gọi


Câu bốn và năm trong đoạn này rủ người đọc thở một nhịp thở gấp gáp, tiếp đó, nhịp thở lại chậm đi, rồi nức nở nghẹn lại. Tôi xin trích thêm một đoạn :


Em bước vào đình
ôm cột bốn người ôm
Em rẽ sang chùa
lay chân hộ pháp
Sau chùa tát đêm một, chạp
Gầu giai ai vớt Chị ơi lòa lõa thân trăng
Chị lỡ xe hồng
Mẹ đi lấy chồng
Cỗ cưới chênh vênh khoai luộc
Mật vàng mọng rách vỏ nâu non


Giữa câu bốn và năm trong đoạn này, thơ chuyển mạch bằng cách im lặng ( đọc ở giữa hai câu, nghĩa là không có chữ nào ). Và đây là đoạn cuối :


Có hôm Em lần xuống bếp
Cậy cháy sành vỡ toác chôn niêu
Một con mèo mướp ruỗi chân chiều
Lưỡi gió liếm gio vờn tóc rụng
Tưởng như Mẹ về
Vai áo toạc ba vá chằng tơ dứa
Tưởng như Chị về
Tơ tóc đêm xưa giờ rễ tre
Bao giờ Chị về
tóc phủ vai Em chiều hương nhu
Bao giờ Mẹ về
Buộc yếm đào phai vỗ hát ru

Khấn thầm như gặp Chị
Mắt nứa cứa tay Em
vẫy đón đầu làng
Khấn thầm
như mẹ lỡ đò ngang
Miệng hé hạt na nhòa bến vắng
Cổ tay tròn đẫn mía gie
Không
Bầu mẹ không tròn
Bưởi Chị không hoa
Ðã hết năm tu hú gọi rừng già
Ðã sang mùa
tu hú ngủ rừng xa


Hai câu cuối cùng, thơ là thơ biết hát. Trong đoạn vừa trích, thơ biết im lặng sáu lần và hát lên hai lần. Còn thở, thơ thở hắt ra ba lần, thở kiểu máu nhồi cơ tim một lần. Mời bạn tìm, xem sao.
Ðiều tôi thực sự muốn nói bằng cách nói trên : Thơ hay là Thơ có tác động sinh lý lên người đọc qua nhịp thở và nhịp tim. Chính tác động đó ảnh hưởng đến tâm lý, tạo ra cái đa dạng của thất tình : buồn, vui, bâng khuâng, bực dọc, phẫn nộ... Ðã nói đến nhịp, là nói về nhạc. Thơ hay không phải chỉ một câu hay. Thơ hay, không phải một chữ hay. Trò kén chữ cho khéo là trò kén chồng, kén để làm lễ cưới cho có pháo nổ và họ hàng hai bên cười cợt, xong lễ thì ém nhẹm đi cuộc sống lứa đôi dẫu ổn thỏa hay không ổn thỏa. Thơ hay là thơ nhìn dưới góc độ một tổng thể. Tác động câu chữ là tác động trên trí tuệ. Thêm một mức, một mức cao hơn mới tới tâm cảm, hệ quả của tác động trên nhịp thở - nhịp tim, yếu tố sinh lý gây lên thất tình. Thơ hay chính nó là Nhạc. Và thường thường, chúng ta đơn giản hóa Nhạc vào vần, vào điệu. Nhưng vần thì thật ra thừa, và điệu, rất sáo mòn, nhất là vần điệu của lục bát, tứ tuyệt hay thất ngôn ( nhưng nói thế, không phải bảo rằng Thơ hay không có thơ lục bát, tứ tuyệt hay thất ngôn ). Thơ anh ra ngoài thể loại vần điệu đó. Thơ anh mang âm vận của Từ đời Tống và những bài Phú thời Nguyên - Minh, tự do hơn, phóng khoáng hơn, nhưng là thơ Việt Nam vì mang mang tính cách Quan họ đặc biệt đất Bắc Ninh. Thơ anh có Mẹ, có Chị. Những «Bầu Mẹ không tròn, bưởi Chị không hoa». Cũng vì vậy nên thơ anh là thơ của Lỡ làng. «Chị lỡ xe hồng. Mẹ đi lấy chồng, cỗ cưới chênh vênh khoai luộc...». Sự lỡ làng chỉ đổi lại bằng khoai, «mật vàng mọng rách vỏ nâu non». Vỏ khoai có khác ai hơn là Em, tâm hồn tả tơi làm thơ khóc những lỡ làng ?
5
Năm 1982 là một năm đầy oan trái nghiệp nghiệt. Ngẫm lại, hình như những vết chém phi lý và vô nghĩa, những vết chém không làm sao tìm được căn do, đều chọn được loại nạn nhân riêng của nó. Cả anh lẫn tôi đều nằm ọp bốn năm liền nhấm nháp cái vị tanh của máu ứa ra từ những vết chém đó. Anh chịu cả phần xác lẫn phần hồn trong lao ngục. Phần tôi, tôi chịu phần hồn trong một nhà tù không cần cửa sắt chấn song.
Sau Tết năm Nhâm Tuất, tôi rời Sài Gòn sang Paris, ở nhà Tạ Trọng Hiệp vùng Gentilly. Nhà bị kẻ gian cậy cửa. Xe để dưới đường bị đánh cắp. Ngày đêm, tôi cứ phải trông chừng Hiệp đang bị đại nạn tình với T, nói đến cái chết rồi khóc, và dự trữ rất nhiều thuốc ngủ. Ðến tháng sáu, tôi lại về Hà Nội sau khi dặn dò Hiệp là chớ chết dại. Chết dại là chết vì tình, chết khôn là chết với tình. Lời dặn đó ngây ngô : làm gì có chết khôn hay chết dại. Chết là hết, thế thôi.
Lần về này, tôi gần như tuyệt vọng : thế quyền đã «co cụm» lại sau Ðại Hội IV, vẫn khăng khăng một thứ giáo điều lưỡi gỗ, ngược hẳn lại với những điều tôi đã trình bày về phương thức dùng qui luật thị trường nhằm ổn định kinh tế Việt Nam trong một đề nghị chuyên ngành với cấp cao nhất có thẩm quyền. Chống lại niềm tuyệt vọng, thấy ánh đèn là tôi lao vào, cứ như loài thiêu thân. Dễ nhất lại là lao vào tình yêu. Hay bất cứ gì đồng dạng với tình yêu. Anh cho tôi một món quà mừng cái tình yêu đó : tập thơ Về Kinh Bắc anh hì hục chép tay trên một quyển vở học trò. Tôi vào Sài Gòn trước khi bay sang Pháp. Một người bạn vào báo anh vừa bị công an giữ để điều tra. Tập thơ Về Kinh Bắc tôi trao cho những người trong nước giữ lại, không mang theo khi đi, tránh không để ai kết tội anh chuyển thơ «chống đối» ra nước ngoài. Thật ra, Về Kinh Bắc chẳng chống đối gì cả : nhà xuất bản Văn Học đã in nó năm 1994. Còn bắt anh, họ bắt vì lý do gì rồi giam cầm anh một thời gian khá dài ? Bán rượu ? Hút thuốc phiện ? «Hủ hóa» Việt Kiều ? Trên Métro từ Luxembourg đến Place Italie, tôi giở tờ Le Monde đọc. Báo loan tin anh bị tù. Hôm ấy, tôi đọc rồi nước mắt ứa ra. Cứ thế, tôi khóc. Kẻ đi qua thản nhiên hay chỉ khẽ nhăn mặt. Duy có một người da đen đến chìa cho tôi mẩu thuốc lá hút dở, và nói «Bonne chance !»
Bonne chance. Năm ấy, tôi chẳng có một thứ may mắn nào cả. Về đến chốn ngụ cư, tôi tất bật lo việc «bảo lãnh gia đình». Tôi xin giấy nhập cảnh Việt Nam. Lần này là cấm. Lý do ? Không ai cho tôi biết. Ðơn xin, không bao giờ có phép. Cấm như thế sáu năm liền. Gia đình tôi qua. Thế là đi vay, làm một quán ăn. Tất cả mười hai nhân mạng, lấy gì mà sống. Thực tế sống ở nước ngoài khác hẳn với sự mơ mộng của thành phần tương đối «dư dả» thời xưa ở Sài Gòn. Các cô em nhăn mặt, qua đây mà phải đi hầu người ta trong quán ăn thì thà ở Việt Nam còn hơn. Vài năm sau, các cô ấy đều ăn nên làm ra với dịch vụ quán ăn. Nhưng lúc đó, các cô em tôi thì thào cho tôi nghe thấy «...qua đây bị tư bản bóc lột lao động ...» và gọi tôi là ông giám đốc. Giám đốc đấy, nhưng lắm bữa trưa, tôi không có tiền ăn đến độ phải nhịn đói. Rồi sau đó, tôi phải ra tòa vì đã ký giấy bảo lãnh mà không cung ứng tiền chi tiêu cho đủ. Người trưởng thượng đâm đơn kiện lại là người ruột thịt: «Anh mang gia đình qua là cứu (sic) cả gia đình. Nhưng tôi, tôi bây giờ phải bảo vệ (sic) nó». Bảo vệ thế nào ? Cô em dâu đến đề nghị cho một món tiền cỡ ba chục ngàn đô thì xí xóa giấy bảo lãnh. Cậu em thì bảo cứ đưa cho cậu ấy quản lý toàn bộ quán ăn, tôi không được can dự, nhưng dĩ nhiên nợ nần vốn liếng thì cứ vẫn tôi thôi (!). A, thì ra thế! Tôi ở vào thế kẹt. Kẹt đủ điều: tôi không thời gian vì còn nghiệp vụ chuyên môn, chẳng một ai để tin tưởng phó thác, đầu óc căng cứng khủng hoảng. Kẹt cho nên phải chẹt. Chẹt mọi mặt, mang ra tòa gây áp lực chỉ là một phương án. Nhưng ông tòa xét thấy tôi nợ đầy đầu, đến điện thoại cũng bị cúp vì không có tiền trả, nên tha cho. Ngoài ra, nghiệp vụ chuyên môn bị xao lãng vì nào là chuyện quán ăn, nào là chuyện kiện tụng tòa án, đồng nghiệp tôi «điều đình» để tôi tự ý xin thôi việc. Lại nữa, người vợ mới cưới qua Paris, kẹt lại vì lao phổi. Thế là phải gửi gấm. Rồi bạn phản. Tình phụ. Chỉ một năm, bằng ấy cái họa. Mất nhà, mất nước, mất tình, nghề nghiệp bị đe dọa. Quán ăn phải thuê người làm, bị ăn cắp hết vì không lấy ai ra để trông coi. Lại nợ. Nợ chồng nợ chất. Nhưng ghê rợn hơn hết là sự trống rỗng.
Chính sự trống rỗng đó đã đưa tôi đến cạnh cái chết lúc ấy tôi đồng hóa với giải thoát. Tôi thức hàng đêm, nhìn ra ngoài trời tuyết trắng mênh mông, đầu óc tê điếng, vô cảm, và chỉ thấy trùng trùng băng giá, không yêu không ghét không hờn không giận. Chỉ trống rỗng. Cái trống tếch trống toác của thế gian không có một chút tình người. Tôi là tên tù nhân của cái ngục trống khủng khiếp không có cửa sắt chấn song. Lẽ sống lúc đó nhẹ tênh tênh, vậy thì tự do mà làm gì. Tôi nhịn đói hàng tuần, không thấy cần ăn, uống nước lạnh thôi là đủ. Sống chết lúc đó ở ngoài tôi. Soi gương, «kìa ai đó - tôi lạnh nhạt- chớ có phải tôi đâu». Cho đến một hôm. Vâng, hôm đó người bạn gái gốc Chilê, kẻ đã dịch một đoạn thơ tôi ra tiếng Tây Ban Nha gửi đăng trong một tờ báo phe tả ở Salvador, đến nhà tôi với một bông hồng. Nhìn tôi, nàng nói «Không nhà thơ nào có thể chết được !» và cười rất tươi.
Nghe nàng nói, không hiểu sao tôi lại nghĩ ngay đến anh. Lúc đó, anh vẫn còn nằm trong tù ngục. Anh là nhà thơ. Anh không thể chết được. Còn tôi, câu nói của Cecilia đẩy tôi ra khỏi một cuộc tuần du đầy ác mộng. Tôi phải sống.
6
Có sống mới về thăm anh được. Năm 1988, giải tỏa lệnh cấm. Dĩ nhiên, Ðại Hội VI đã Ðổi Mới Tư Duy, và thấp thoáng một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy thì những đề nghị ngày xưa của tôi đâu là tội. Tôi, con gà gáy trước khi trời sáng, chỉ là thứ gà non, gà ngoại, gà lai giống, gà vừa đạp vỡ vỏ trứng đã vội khập khiễng đi tìm rạng đông.
Tôi men ngách vào nhà anh, số 43 Lý Quốc Sư. Nhà vẫn vậy, nhưng quán rượu thì dẹp rồi. Cháu nội gọi ông, anh từ gác xép leo xuống. Anh đây. Anh gày gò, tóc bạc gần hết đầu, mắt trũng sâu, răng cửa đã khuyết một cái. Anh ngẩn ngơ nhìn. Tôi ôm lấy anh. Chúng tôi ngồi nhìn nhau. Giữa chúng tôi là bốn năm tù của anh. Tôi nói «... có điều gì khúc mắc anh cứ hỏi». Anh bảo «... giá em về trước hai năm thì anh em mình chẳng được thế này đâu». Tôi im lặng. Trong tù đầy, hỏi cung, quay quắt ra biết bao nhiêu thêu dệt thực hư. Tôi hỏi «Tập thơ anh chép cho em, anh đã lấy lại rồi chứ ?». Anh cười, cái cười đau xót. Ðó là cái lấy lại được, nhưng vừa ra khỏi tù thì anh mất ngay chị, rồi liền sau đó anh mất con gái anh, cũng tên là Yến. Nước mắt ứa ra, anh kể :
«... đêm hôm đó, anh đang chập chờn ngủ, sao lại ở đâu có một con bướm vàng bay vào lảng vảng quanh màn. Mở cửa màn, con bướm chui vào. Anh linh cảm, anh biết, anh khấn. Bướm bay rồi đậu lên bàn thờ. Anh lại khấn «Yến ơi, con ơi, con về đấy à, khổ thân con». Bướm từ bàn thờ bay xuống quấn quít bên anh như không nỡ rời dẫu âm dương cách trở».
Nắm tay anh, tôi không muốn để anh mất mát thêm bất cứ gì. Sau, tặng tôi tập thơ Men Ðá Vàng, anh viết «...để cùng nhớ những năm tháng đầy oan nghiệp nhưng cũng đầy hạnh phúc». Ðấy, cặp bài trùng oan nghiệp - hạnh phúc. Và hạnh phúc của nhà thơ lúc nào cũng là một điều thật bí ẩn. Bí ẩn như ngôi sao trên kia long lanh sáng, nhưng xa lơ xa lắc, kẻ bình thường như tôi có giơ tay lên với cũng không nắm bắt được.
Có một người Anh như anh, là một niềm hạnh phúc. Anh nghiêm mặt bảo «...cái vốn từ của cậu chưa đủ. Phải đọc đi đọc lại truyện Kiều. Rồi đọc cô tổ Xuân Hương...» Tôi cãi, chữ cho đơn giản chứ bí hiểm quá, sang quá, hay điển tích quá thì đều là «quá tải». Hôm ấy có cả Trần Dần và Lê Ðạt. Anh Ðạt khéo kết chữ cũ cho ra mới. Còn anh Dần, anh đi tìm chữ mới, đang thử nghiệm loại thơ cực ngắn, đôi khi chỉ đúng hai chữ. Anh quay hỏi «...nó nói thế, chúng mày nghĩ thế nào ?» Anh Ðạt lý giải. Còn anh Dần, anh nhìn tôi chằm chằm, buông gọn, cũng cực ngắn, «cứ làm !».
Cãi thế, nhưng tôi về tôi nghĩ. Tôi đọc đi đọc lại Truyện Kiều. Tôi đọc đi đọc lại thơ Xuân Hương. Tôi học chữ Hán để đọc cả Bắc Hành Thi Tập. Rồi tôi dịch lại hai trăm bài thơ Ðường mà khi chuyển sang tiếng Việt, những người đi trước tôi lại dùng thể lục bát. Rồi tôi dịch lại cả Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn cho sát lối Tập Cổ, tránh kiểu song thất lục bát của bà Ðiểm. Ðấy, chỉ một câu anh nó thôi mà khi hiểu ra tôi đã đổ mồ hôi như vậy. Chuyện này, tôi chỉ mới nói thoáng cho anh nghe. Nay nói lại, một cách gửi lời cảm tạ anh. Quả là vốn từ của tôi nay có hơn xưa. Song có ân ái được với nàng Thơ hay không lại là một chuyện khác.
Hợp rồi tan. Tôi lại phải ra đi. Cứ mỗi lần như thế, anh nhắn nhe «...lại anh thêm dăm phút». Lúc tôi về, anh lại đạp xe đạp theo đến khách sạn. Và khi chia tay, anh ôm tôi, anh hôn, anh khóc. Tôi nhìn theo anh trong bóng đêm. Mái tóc anh trắng bồng bềnh lồng lộng gió ven hồ Hoàn Kiếm. Bóng anh mãi cũng xa dần rồi mất tăm. Lúc ấy tôi cũng khóc.
Chúng tôi là những kẻ mau nước mắt.
7
Nhưng cũng có một thời những giọt nước mắt chảy vào trong. Và rồi một thời khóc - cười là một. Hè năm 1990, bước vào Nội Bài thì người ta đã hờm sẵn. «Xin mời ông qua bên này !». Vâng. Cuối cùng, «Ông hiểu cho. Ông không có phép nhập cảnh !». Tôi hỏi «... thị thực nhập cảnh đây. Giấy mời đây. Chắc là lầm lẫn gì đó...». «Vậy ông đợi, chúng tôi điện vào Hà Nội». Trưa hừng hực nắng. Chiếc quạt máy vừa quay vù vù, vừa lắc đầu qua lắc đầu lại. Nhìn ra sân phi trường, chiếc máy bay Air-Thai vẫn nằm lì ở đó. Một tiếng đồng hồ qua. Rồi hai tiếng. Hai vị công an cấp tá lại ra. Các vị bắt chiếc cái quạt máy lắc đầu «... Lệnh trên không cho phép. Ông thông cảm...». Tôi nói «...cứ để tôi ở khách sạn của phi trường. Hôm nay là ngày nghỉ. Ðợi đến thứ hai, ngày làm việc, tôi xin điện vào hỏi kỹ...». Lại tiếp «... vậy, ông đợi...». Một lát sau «... Lệnh trên không cho !». Chiếc máy bay Air-Thai không được phép cất cánh vẫn đó. Tôi hỏi «Lệnh trên là trên thế nào ?». Ðáp «...trên là cao lắm, chúng tôi chỉ thừa hành». Tôi cũng biết vậy, lắc đầu.
Tôi bước lên máy bay, được hai vị cấp tá xách hộ va-li đi hai bên. Cô chiêu đãi viên hàng không Thái hai tay chắp, cúi đầu reo như thông lệ «Welcome to Air -Thai !», rồi đưa lên ghim một bông lan vào áo tôi. Cô kịp nhìn ra bông lan cô gài cho tôi khi tôi sáng nay rời Bangkok bay đi Hà Nội vẫn còn đó. Cô ngại ngần, ánh mắt tối đi một thoáng, nói nhỏ «I am sorry !»
Ðến Bangkok, tôi phải đợi máy bay. Tôi quyết định ra bãi biển nằm, tránh cái hừng hực hè và mùi xăng dầu sùng sục xông vào mũi. Lúc đó, tôi thừa thời giờ để tìm nguyên do cái việc thô bạo kia ở Nội Bài. Phải, thời gian đó là chưa chẵn một năm từ khi bức tường Bá Linh xụp đổ. Và chỉ vài tháng sau những tiếng hò trên quảng trường Thiên An Môn. Rồi đám Việt Kiều ngây thơ chúng tôi lại ký Tâm Thư này nọ ( mặïc dầu riêng tôi, tôi không ký vì lý do Tâm Thư chưa đủ tính triệt để đáp ứng với thời cuộc lúc bấy giờ). Rõ ghét. Và tôi, cái con gà non ngông nghênh chưa sáng đã gáy, cho vào là lại tổ bực mình rách việc !
Vâng, tôi nghĩ là chỉ có thế. Lúc ấy, khóc - cười thành một. Tôi không còn hờn oán gì nữa, chỉ thấy tội nghiệp cho quyền lực.
Những cánh phượng vĩ vẫn đỏ rực dưới nắng vàng óng ánh mật ong. Ðỏ như phượng vĩ Hà Nội. Biển vẫn xanh và sóng vẫn rì rào. Xanh như biển Việt Nam, quê hương tôi. Và rì rào như đòi quyền sống. Tôi thanh thản nhìn trời, nhìn nước. Bấy giờ, rõ ràng quê hương đích thực chính là lương tâm. Và mảnh đất lưu đày nào cũng là những mảnh đất không tôn trọng nhân phẩm và quyền con người. Thôi, từ biệt nhé, ảo vọng về trí tuệ và lòng thành tín trong guồng quay của thế quyền. Từ biệt nhé, giấc mơ nóng vội đổi đời. Tôi viết một bức thư dài gửi cho cái trục chính của guồng quay gọi là bộ Chính Trị, khẳng định tôi tin rằng dân chủ là tất yếu, và làn gió ấy sẽ rồi thổi đến quê hương tôi như điều không khiên cưỡng được.
Ngửng mặt nhìn những cụm mây trắng thong dong, tôi biết tôi là một người có tự do. Vấn đề đặt ra : tôi làm gì với sự tự do đó. Tôi, một người may mắn, không thể vô trách nhiệm.
8
Là một người có tự do, tôi lại càng hiểu thế nào là tù ngục. Những năm anh tù tội nằêm trong trại giam lại ám ảnh tôi. Anh tội gì ? Ai có quyền cướp sống dăm ba năm một đời người ? Nhân danh ai, nhân danh gì ? Và hẳn anh rồi không có tội nên anh mới được phục hồi «hội tịch» vào năm 89 !
Phục hồi, chắc cũng trả cho tí tiền. Liệu tiền đó có đổi được những đêm dài lắng nghe muỗi vo ve, tiếng chuyện trò duy nhất với những tội nhân. Riêng anh, loại tội nhân có cái tội là chót làm nhà thơ. Và tội to hơn, thơ lại là thơ hay. Nhưng hình như có ai nói dân tộc ta toàn là những nhà thơ. Ðó là một điều đáng hãnh diện. Ðồng thời đó cũng là một điều bất hạnh trong cái cặp biện chứng oan nghiệt - hạnh phúc.
Thôi im đi, tiếng hát ngọng nghịu của thứ gió định mệnh khắc nghiệt sụp về đánh úp hạnh phúc. Thôi im đi, những lạc quan đen, những cú phất cờ hô khẩu hiệu, hoan hô và đả đảo. Hãy trả cho chúng tôi những cái tay bắt chân thành, những cốc rượu của tình bạn, những cuộc đoàn viên có tiếng cười, những phi vụ vui chơi lương thiện... Tôi bị cấm về, chỉ thỉnh thoảng nghe tin anh qua bè bạn, là ông ấy năm nọ ốm đã tưởng đi, ông ấy khỏe lại yêu, yêu PQ, yêu B.Ng, Yêu ÐÐ..., yêu vân vân và vân vân. Tôi mừng, ông ấy vẫn đó. Cho đến 1998 tôi mới lại đặt chân trở lại Hà Nội. Lần này về, về cho bè bạn. Và đi kèm có cháu Việt, con trai lớn của tôi.
Lại men cái ngách 43 Lý Quốc Sư. Ngách vẫn thế nhưng nhà anh nay khác, lên ba tầng, trước nhà vẫn còn một đống cát, xi-măng, và dăm ba chiếc xẻng. Bây giờ, không ai réo tên nhau. Phải bấm chuông. Tôi hồi hộp. Cửa mở. Anh thò đầu nhìn, mắt nhắm mắt mở. Tóc anh xù ra bạc trắng màu mây. Anh còm xuống. Răng thật rụng hết, nay chỉ có răng giả. Anh cười. Ở một cái tuổi nào đấy, cười làm sao thì cũng như hơi mếu máo. Anh ngồi xuống ghế salon bọc simili-cuir. Bàn kính. Nhà lát gạch hoa. Thế thì đâu rồi những chiếc ghế đẩu nằm soài ra trên nền đất nện ? Thế thì đâu rồi cái điếu cày, dăm chiếc đóm, chai rượu mơ và ngọn đèn hoa kỳ bâác vặn thật thấp li ti đốm cháy ? Tôi xin anh, thôi lên chỗ anh ở, chứ ngồi salon làm gì. Leo gác hai, anh đẩy cửa. Một cái giường đơn. Trên sàn, trải chiếu, khay nước nằm tênh cạnh ngọn đèn hoa kỳ. Và chiếc điếu với dăm vê thuốc lào. Rồi dăm chiếc đóm. Tôi ngồi sụp xuống đất. Tôi bắt đầu nhận ra anh. Anh cười. Bấy giờ, cái cười mới hết mếu máo.
Lần sau đến, tôi kể cho anh nghe ý định viết một vở kịch về quan họ. Lần ấy, có TK, rất duyên và cực xông xáo vui chơi. TK hẹn sẽ cùng nhau đi Bắc Ninh làm một chầu quan họ, dọa là «các em» bên đó «tình» lắm. Còn phần tổ chức «hành quân», TK la «...cứ để tôi». Về, tôi hẹn đến đưa anh đi ăn cơm trưa với Việt ngày mai. Khi bố con tôi đến thì người nhà anh bảo anh ốm lắm. Chúng tôi lại leo gác hai. Trong phòng, anh co quắp trên chiếc chiếu giải trên sàn, mình đắp chăn. Tôi cúi xuống nhìn. Mắt anh nửa khép nửa mở, trắng đục, vô hồn. Anh không nhận ra tôi.
Anh phải vào viện. Năm ngày sau, bố con tôi đến thăm anh trong nhà thương. Anh bị xưng phổi sau cái chuyến đi «trình diễn» thơ ở Thái Bình thì phải. Mỗi chuyến đi thế, cũng được thù lao một hai triệu, nghĩa là một, hai trăm đô Mỹ. Lộc thơ chỉ có thế, và phải chờ những ngày cuối năm. Chúng tôi đến thì đã có dăm ba phóng viên những tờ nhật báo của Hà Nội. Anh lại khều tôi, miệng cười rất tươi, chỉ một chị phóng viên ước độ trên dưới ba mươi, và hỏi «...trông được chứ nhỉ !». Rồi anh víu vai cháu Việt, nói bằng tiếng Pháp, «Bác về là sẽ hỏi cô ta làm vợ». Ngớ ra, Việt không hiểu nhìn tôi dò hỏi. Anh tiếp tục, rất chân thành, «Mais oui, je vais lui demander sa main... c ’est sur». Sau, con tôi cứ cười, bảo «...quả bác ấy là nhà thơ. Un poète-fou !»
Ðúng đấy Việt ạ. Có nhà thơ nào không điên ? Tôi lại nhớ lời ra tiếng vào của một người bạn, bàn «Ông ấy nỡm lắm. Già thế mà lên tivi cứ nói tình yêu này, tình yêu kia... Nghe ngượng đỏ cả mặt !». Thưa anh bạn đứng đắn, anh Cầm thế, vì anh ấy sống phút nào là chong mắt tìm một cốt đồng để nhập vào, hy vọng thêm một lần ân ái với nàng Thơ. Nỡm ư ? Nhưng ngẫm kỹ mà xem, cứ giả thử như chúng ta có tất cả nhưng không còn yêu thương được nữa, giả thử như trái đất này đánh rơi vào cái rọ đen - black hole - tất cả tình yêu và đam mê. Chúng ta có tất cả đấy, nhưng lại không còn gì ngoài cái hành trình của những người không tim trong thiên hà mênh mang kia. Anh bạn đứng đắn ơi, trong hành trình đó anh cứ đi một mình. Chúng tôi xin ở lại.
Tôi đến chào anh một lần cuối trước khi bay vào Ðà Nẵng. Lần ấy, chúng tôi tẩn mẩn đếm sổ văn hóa xem có ai và đã làm được những gì suốt ba mươi năm qua trong nền Thơ - Văn của chúng ta. Lần ấy là lần anh kêu «... thế là lấy của thiên hạ quá nhiều rồi !». Có lẽ. Huy Cận của Lửa Thiêng, trước khi làm quan thì cũng chỉ được dăm ba bài. Làm thơ, không thể làm quan. Không thể làm giàu. Làm quan làm giàu rồi, thơ chết. Nàng Thơ không ưa công đường. Không thích nhà cao cửa rộng, ngươì hầu kẻ hạ. Và nàng chúa ghét những kẻ nói khéo, nói láo, nói dai, nói ngoa, nói nhiều và nhất là loại nói-không-ai-nghe. Nàng hay ghen. Yêu, thì Nàng phải là Cứu Cánh, là vợ cả. Không bao giờ Nàng chịu làm lẽ cho phương tiện danh lợi và quyền lực. Và ân ái với Nàng, bạn chớ chơi trò chơi «kiểu». Kiểu hiện sinh, hiện thực, hiện đại hay thậm chí hậu hiện đại theo chữ nghĩa thời thượng. Trong 36 kiểu, xin hãy làm tình theo cách tự nhiên phát sinh từ bản năng mình. Với Nàng là chỉ có Thơ. Thế thôi.
Ðếm, đếm đi đếm lại. Cuốn sổ văn hóa mỏng dần. Mỏng làm cho bật máu và chảy nước mắt. Tôi thấy dẫu anh bảo anh có lấy quá nhiều của thiên hạ, anh còn phải lấy nữa. Ngoài dăm ba vì sao lấp lánh, văn hóa của chúng ta mươi năm trở lại đây lại hụt hẫng vào cái rọ đen - cái black hole - ghê rợn kia trong một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu phải hô khẩu hiệu, tôi đả đảo cả hai, chỉ hoan hô một mình nàng Thơ.
9
Bây giờ, trên đầu hai thứ tóc nên tôi rất sợ hô khẩu hiệu. Chẳng hạn loại khẩu hiệu như «... tất cả cho mai sau», hoặc «Tự do hay là chết». Bây giờ, trên đầu hai thứ tóc, tôi rất do dự khi đụng vào cái chết. Tôi linh cảm rằng sự sống quí hơn tất cả. Nó đèo bồng trên lưng tự do. Và càng tự do thì gánh nặng càng nhiều. Cái gánh nặng đó nằm trong câu hỏi là ta làm gì và sống ra sao với cái tự do đó. Cho những người theo đòi nghiên bút, làm gì là viết gì. Sống ra sao đồng nghĩa với ý thức trách nhiệm thế nào với người và với mình.
Ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, có người bạn gửi cho tôi một cục đá nhỏ. Anh viết kèm «... kể từ nay, tự do không còn là một cụm từ trong thứ ngôn ngữ chết. Con người biết tự mình cởi ra những sợi dây trói buộc, kể cả đám lính kín, công an. Chúng ta có quyền hy vọng...». Anh ta kể ra hoài bão thực hiện một bộ tiểu thuyết về bức tường mà không còn sợ hãi gì nữa. Mươi năm qua, anh vẫn chưa viết gì được. Tôi hỏi, anh đáp hai trăm trang đã viết là viết trước ngày bức tường sụp đổ. Từ đó, anh chịu. Tự do đấy, nhưng anh chỉ thêm được vài trang. Còn hai trăm trang kia, anh đã lặng lẽ viết trong nỗi lo âu. Lo và sợ. Ðến độ vợ con anh cũng không hay biết. Tôi lại hỏi, tại sao, tại sao thế. Anh buồn bã trả lời «...ngày trước, tôi viết chống một cái gì để cho một cái gì khác chưa có. Nó thật rõ ràng. Bây giờ ư ? Cái gì đó chưa có đã thành ra có, nhưng có đấy mà lại mù mờ nên tôi không còn định hướng viết cho cái gì được nữa. Có nhà xuất bản bảo tôi, hãy viết để giải trí cho công chúng người đọc thôi, vừa dễ viết, vừa dễ bán. Viết hay sẽ dịch ra tiếng Anh, có cả thị trường toàn thế giới. Tôi đã thử, nhưng rồi xấu hổ đem đốt cả đi. Tôi không muốn là một nhà văn vô trách nhiệm...».
Nhưng trách nhiệm đó là gì ? Có lẽ với anh là ca ngợi Tình Yêu chăng ? Chỉ năm ngoái tôi mới được anh cho tập thơ Về Kinh Bắc, tập cuối cùng anh giữ lại. Sách in lem nhem, bìa photocopy đen trắng trên nền xanh lơ, mặc dầu để là nhà xuất bản Văn học in năm 1994. Tôi cầm cuốn sách, lòng ngậm ngùi. Những vần thơ mượt mà nhất trong thơ Việt Nam thế kỷ hai mươi bị tình phụ trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Nhưng đó là những vần thơ tình rất đẹp. Tình yêu Kinh Bắc. Bắt đầu bằng năm đêm, trong ngũ hành. Rồi anh đi liền bảy nhịp, trong một cuộc tuần du có Mẹ, có Chị và Lỡ Làng. Lỡ làng, bến tình không người đợi. Lỡ làng, mắt mỹ nhân khép đến thiên thu. Lỡ làng, những mảng hoa bèo ao cá quẫy. Lỡ làng, xin Chị một quả ương, Chị lại dối quả ương chim khoét thủng dẫu chẳng con chim nào lại chọn quả ương. Lỡ làng, cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng... Lỡ làng, quan đốc đồng áo đen nẹp đỏ, thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi. Lỡ làng, em đứng nhìn theo em gọi đôi. Lỡ làng, đứa con anh thai nghén sau những đêm ân ái với nàng Thơ. Lỡ làng, cơn đau của con tằm rút ruột nhả tơ. Lỡ làng, là đời anh. Bởi anh biết yêu. Biết yêu là yêu đến cuồng dại, tôi viết tặng anh :
«Hờ hững buốt căm, bờ sóng lụy
cuồng si thiêu rụi bến đa tình,
Ba ngả sông về người bơi đứng
Cợt đám hoa bèo dạt đến quanh..»
Ðể kết một cuốn sách đọc lâu rồi nên tôi đã quên tên, Albert Breton - một cột sống trong phái siêu thực - viết «Je vous souhaite d’ être follement aimée.» ( Xin chúc bạn được yêu đến cuồng dại ). Ðược yêu thôi ư ? Cũng tạm. Nhưng tôi, tôi chúc anh khác, chúc anh hơn vậy nhiều. Tôi chúc anh yêu đến cuồng dại. Tôi cũng chúc tôi yêu, với chữ Yêu cùng một lúc hiểu như danh từ, trạng từ và nhất là như động từ. Vâng, yêu có bao giờ lại là tĩnh từ. Nhất quyết là phải thế chứ. Vì Yêu là trách nhiệm cứu rỗi của những con chữ có nghĩa. Những con chữ đẹp. Những con chữ có đời sống. Muốn đẻ ra chúng, thì có hề chi những cơn đau trở dạ. Thì có hề chi những lỡ làng.
Tôi nhớ đã hỏi anh Hoàng Cầm, tại sao là Hoàng Cầm, và Hoàng Cầm có nghĩa gì ? Anh cười, có chút gì như là chua xót, «Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng... Tên nó vận vào người».
Hoàng cầm còn vận vào thành một vị thơ. Vị của những vần thơ sang nhất, đẹp nhất, nhưng cũng xót xa nhất của dòng thơ Việt Nam ở thế kỷ 20. Cơn mây mưa giữa nàng Thơ và Anh đã sinh hạ ra Lỡ Làng, dấu vết cặp oan nghiệp -hạnh phúc như vết chân con rắn và trái táo cắn dở của Eva. Nhưng hề chi, có hề chi.
Viết đến dòng này, đếm ra còn đúng bốn ngày nữa là chúng ta cùng bước qua ngưỡng cửa thế kỷ 21. Tôi lại chúc, anh Cầm, chúc anh yêu đến cuồng dại cả thiên niên thứ ba này, anh nhé.

NAM DAO
27-12-1999


Source : www.hopluu.net.

TRẦM HƯƠNG- Mưa Qua Sân Thượng

Mưa Qua Sân Thượng

TRẦM HƯƠNG



Sáu tấu khúc của một tuổi hoa niên đến khi chấm dứt vẫn là đột ngột. Tôi từng tự hỏi nén được không những thứ như tình yêu, quá khứ, kỷ niệm và cả mặt đại dương đã tràn vào phố? Tôi tự trả lời là một giọt nước mắt cắt làm sáu khúc vẫn giữ nguyên những óng ánh trong suốt của tuổi thơ và niềm chua xót. Viết là một hành động thao thức. Viết thành truyện là mang trả cho đời sống những gì đời sống đem đến: sự khắc khoải của chính mình. (Trầm Hương)

Hồ nước



Căn nhà của tôi cao ốm, bốn tầng lầu đứng chen chân trong khu phố sầm uất mà sân thượng trơ trọi giữa trời với tầm nhìn quanh vun vút xa. Sân thượng im lìm tựa đám mây treo trên cao ngắm nhìn những hình ảnh bận rộn không âm thanh của nhịp đời dưới phố. Đôi khi sân thượng thở nhẹ bằng những hơi gió đứt đoạn làm nhiễu mặt nước của chiếc hồ to nằm lặng lẽ chờ những trận mưa qua.



Trong ký ức sớm nhất, tôi đã rất thích tắm mưa. Khi mưa đổ xuống gợn sóng mặt hồ, mấy chị em tôi thích thú leo vào tạt nước cho sóng cao hơn. Chúng tôi nhảy nhót trên đầu ngón chân, nước ngập khoảng vai và mưa trút trên đầu. Chúng tôi cười nghiêng ngả như những lần bị sóng Vũng Tàu đánh bật. Trong chơi vơi, tôi rơi vào vùng biển thâm sâu, nơi ánh sáng xuyên qua khó khăn mà sự sinh dưỡng vẫn không ngừng phát triển. Nền biển nhấp nháy màu sắc của vô số đàn cá rực rỡ lượn quanh những cụm lá thuôn dài. Lá không ngừng uốn mình theo dòng nước đùa vui chung với bầy cá. Tôi làm công chúa nhỏ được cha Long Vương cưng chiều, đưa đi nhặt những cánh sao rơi cất vào bảo tàng của mình. Mỗi cánh sao rơi là tặng phẩm của trời đem chút ánh sáng đến lòng biển tăm tối. Sóng xô đẩy tôi ra rồi tấp vào lại giấc mơ. Đến khi người lớn lôi chúng tôi ra khỏi hồ, đứa nào cũng đã thâm đen nhăn nhúm như quả táo tàu.



Mùi thuốc phiện len qua khe cửa của một căn phòng nhỏ ở lầu ba. Mùi thơm ngọt ngầy ngậy quyện vào không gian muốn biến những nơi mình qua thành cõi u mê. Những buổi sáng trễ học, tôi ôm cặp thấp thỏm trước cửa phòng, muốn gõ cửa, muốn nhắc bố chở đi học mà không dám. Tôi dán mắt vào khung kính mờ nhưng không lần nào tìm thấy gì hơn một ngọn lửa nhỏ leo lét. Bố rất thương tôi, khi trở ra sẽ chở tôi đi học. Mẹ kể khi tôi mới chào đời, buổi chiều mát, bố thường ẵm tôi trên tay ngồi xích lô dạo quanh phố phường. Tôi được vài ba tuổi, bố bắt đầu cho đứng phía trước xe vespa chở đi hóng gió. Sau này tôi có nhiều em, bố vẫn thương nhất đứa con gái đầu lòng. Nhưng khi bố vào căn phòng đó, dù trời sập bên ngoài, tôi cũng không được phép gõ cửa.



Bà nội cho tôi niềm tin vào cuộc sống. Những buổi sớm khi cả nhà còn yên giấc, tôi dậy theo bà hái hoa cúng Phật. Gốc hoa sứ trồng trong chậu nên không được cao, nhưng nhánh xòe ngang đến mấy thước ra vô số hoa trắng nõn nhụy vàng. Tôi đi trên cạnh hồ nước với tay bẻ nhẹ cuống hoa đặt vào chiếc rổ trong tay bà. Cánh sứ màu sữa nhã nhặn thoảng hương tinh khiết, đẹp như một điều thiện. Hai bà cháu đem hoa vào phòng thờ xếp lên những đĩa tráng men, thay đi hoa cũ. Bà thắp ba nén nhang vào chiếc lư trên mỗi bàn thờ rồi quỳ trước Phật Như Lai gõ mõ tụng kinh. Bà thuộc nằm lòng những lời kinh tiếng Phạn, dù bà không hiểu gì song vẫn đọc rất thành tâm, mong đức Phật độ cho con cháu bình an. Bà còn dạy tôi hứa ngoan ngoãn, học hành chăm chỉ và không được nói dối rồi Phật sẽ độ cho những điều tốt đẹp trong cuộc sống mai này. Tôi quỳ cạnh bà, đã quen quỳ ngay ngắn với hai tay chắp lại, khấn nguyện nhiều lần lời hứa. Tôi thấy đức Phật trên cao mỉm cười hiền lành, như ngài bằng lòng ban phát cho tôi một sự che chở bao la. Đợi bà tụng kinh xong, hai bà cháu tiếp tục sang khấn vái trước bàn thờ Quán Thế Âm, bàn thờ Quan Công rồi bàn thờ tổ tiên. Như thể bà quyết tâm xin cả đất trời trông chừng chúng tôi, cho tôi niềm tin rằng cả đất trời trông chừng mình.



Bà nội mất năm tôi mười một tuổi. Ngày ấy, nhiều cơn giông không ngừng đi qua sân thượng, nước dâng đầy hồ rồi tràn ra ngoài, trôi đi hết bảo tàng của công chúa nhỏ. Tôi cầm giải khăn sô trắng buộc lên cây sứ rồi ngồi lặng lẽ trên cạnh hồ. Mưa rơi trên cây sứ khiến hoa lá tang thương, tôi cũng không phân biệt được nữa đâu là nước mưa đâu là nước mắt của mình. Trong hồ, chiếc bóng công chúa nhỏ nhìn vô cùng ủ rũ. Chắc cô buồn vì bảo tàng đã trôi xa, mà cô lo cha Long Vương sẽ không đưa cô đi nhặt sao rơi nữa. Cô khóc nức nở không ngừng, nước mắt lênh láng làm nhòa mặt hồ và bóng cô tan mất. Tôi đoán cô sẽ không quay về, mặc tôi và cây sứ nhớ thương bà. Buổi chiều hôm ấy, bà than không khỏe bảo tôi gọi bố. Tôi đứng chần chừ mãi trước ngọn lửa leo lét, ngón tay gắng gượng gõ trên mặt kính không gây nổi mấy tiếng vang. Trả lời tôi là sự im lìm vô vọng của mùi hương ngầy ngật mê man. Trên đường mẹ đưa bà đi nhà thương, bà thấy mệt dựa vào mẹ ngủ êm đềm không dậy nữa. Mẹ nói bà có tâm nguyện về nương tựa tại chùa Hương Tự ở miền Bắc. Quê bà xa vời như trong chuyện cổ tích, nên bà cần bỏ thân xác nặng nề để linh hồn nhẹ nhàng bay về. Nơi bà muốn đi, bà sắp đến. Niềm tin bà muốn thấy trong lòng tôi ở mãi với tôi.



Căn phòng nhỏ ở lầu ba nuốt dần bố. Mẹ một mình quán xuyến việc buôn bán cùng những việc trong gia đình không còn thì giờ dạy học và kể chuyện cho chúng tôi nghe. Tôi đã biết tự đi bộ đến trường, mà tôi không ngại đi bộ, nhưng tôi nhớ những hôm hai bố con ghé qua quán ăn sáng. Bố luôn gọi hai tô phở và hai ly cà phê, một ly nhiều sữa ít cà phê. Tôi nghiện sự quan tâm của bố khi dặn dò đến mấy lần rằng một ly chỉ lấy tí cà phê, nghiện một sở thích duy nhất mà bố đã chia xẻ với mình. Tôi đã từng mong được hơn. Bố cũng vậy, cũng từng mong tham dự hơn vào đời sống của gia đình. Bố đã tự giam mình trong phòng ba ngày để cai thuốc, chịu trải qua những dằn vặt thân xác. Khi trở ra dù còn yếu mệt, bố bảo tôi đi mua mấy xe đồ chơi con về để dạy tôi luật đi đường. Những bánh xe con lăn trên mặt bàn đem về làn gió mát rượi của những buổi chiều tôi đứng trên xe vespa, cho tôi niềm hy vọng được bố tiếp tục chở đi vào những ngõ ngách mới. Nhưng tôi còn chưa hiểu luật thì ánh lửa leo lét lại soi qua tấm kính mờ, thiêu tàn rụi những ý chí cuối cùng của bố. Bị bỏ rơi, mấy chiếc xe con nằm vô tri vô giác tựa như lòng đứa trẻ không còn biết trông mong. Dù vậy, tôi vẫn tin rằng bố rất thương mình. Chỉ là cơn nghiện, giống sự khao khát một ly cà phê, thật khó từ bỏ.



Trong nắng gắt mưa giông, thân hoa sứ cùng với tôi tiếp tục trưởng thành. Gốc cây to ra nhờ những luồng nước đổ xuống từ trời hòa với đất đem dinh dưỡng thấm vào cây. Vài chiếc rễ vỏ sần sùi đủ tự bảo vệ, bật khỏi mặt đất vươn về hướng nguồn nước. Những chùm hoa đua nhau trổ rộ trong nắng. Không có bà và tôi thường xuyên hái, những cánh hoa mơn mởn đành héo úa lìa cành, xác mục rã lại thành đất nuôi cây, và sự sống luân chuyển tiếp tục như chưa từng mất mát. Tôi cũng không còn là đứa trẻ cần nhón chân lên để tránh nước ngập miệng. Mực nước hồ thấp dần xuống ngực, thân thể nhú lên dưới làn vải ướt khiến mấy chị em chúng tôi ngượng ngùng thôi dầm mưa chung. Vắng tiếng cười đùa, sân thượng ngập một nỗi buồn cô quạnh, và lòng tôi hứng giá lạnh của mưa. Giữa tầng mây xám dầy che tối bầu trời và nền xi măng xám đen là không gian mù của vùng trí tưởng. Một mình tôi buông thả thân thể nổi trôi trong thênh thang, tâm hồn mong manh như hạt nước rơi sắp vỡ trên thành hồ. Mưa không ngừng tuôn tràn, nước không ngừng rơi vỡ. Những hạt nước rào rạt trên da tôi để lại những vết kim xâm âm âm vô hình. Tôi ngắm chúng, cảm giác lạ lẫm như đang có những mầm non bé tí trồi từ da thịt mình, mọc lên và hoá thành những suy nghĩ lãng mạn nhẹ nhàng bay theo trận mưa.



Đến cuối mùa, trời gom những đám mây đen còn lại đổ hết một trận mưa sau cùng. Mưa từ rất cao, rất xa, giăng xuống tựa một tấm màn khổng lồ với nhiều lớp mỏng lung linh như kết bằng thủy tinh. Những lớp màn tung trong gió uốn lượn quanh tôi, rồi vỡ ra thành trăm nghìn viên nước đá nhỏ li ti. Những viên đá thủy tinh phản chiếu ánh sáng long lanh, khi va chạm vào nhau gây ra âm thanh rổn rảng, mà rơi xuống mặt hồ nhẹ nhàng như bụi rồi tan thành dòng nước lũ ấm như hơi thở. Dòng nước ấm áp tuôn tràn bao ngộp lấy tôi, khiến làn da tôi trở nên trong suốt như đang hòa vào nước. Nhịp mưa có khi dồn dập từng lúc, nặng nề trên nền xi măng rồi lại mềm mại khi chạm vào nước hồ, hòa với tiếng phong linh ngân của gió tạo nên một bản đàn kỳ bí.



Tiếng phong linh vẫn ngân, nhưng tôi vừa bắt đầu nghe thấy.




 

Tháng Tư



Một buổi sáng tháng Tư, nắng còn mới trên sân sỏi, những tiếng nổ ầm vang từ xa làm náo động toàn trường. Thầy giáo và chúng tôi kinh hãi chui xuống gầm bàn. Đợi một lúc không còn nghe nổ, thầy cô triệu tập các học sinh trước phòng giám thị rồi vội vã ra về. Chúng tôi đứng hoang mang không bao lâu thì phụ huynh lần lượt đến. Họ có vẻ lo lắng vì thấu rõ việc gì sắp xảy ra, nên hấp tấp. Chỉ hơn một giờ sau sân trường vắng tênh, còn lại mình tôi với một con bé cùng lớp. Con bé cao khoảng tôi, mái tóc đen mượt dài đến ngang lưng khác với mái tóc nâu ngắn của tôi. Chúng tôi nhìn quanh rồi xích lại gần nhau để giảm bớt sự trống trải. Mấy năm chung lớp, hai đứa ít khi trò chuyện nhưng lúc ấy lại có chung sự lo lắng. Chờ thêm một hồi, cô giám thị bảo chúng tôi tự về vì cô phải đóng cửa trường. Cánh cổng nặng nề đóng sập lại sau lưng khiến chúng tôi giật mình nắm chặt tay nhau. Các ngón tay của con bé giúp tôi cảm thấy bớt bơ vơ. Phố xá vắng vẻ đến lạ lùng. Sự nguy hiểm nào đó đang rình rập, có thể sau những tàng cây xao xác hoặc từ những trực thăng sẽ vụt ra từ trời cao. Khi chúng tôi thả tay, những ngón tay vô hình của con bé vẫn còn nằm yên trong lòng tay tôi và mãi mãi, dù chưa ý thức, chúng tôi đã thành đôi bạn thân. Chúng tôi về đến nhà bình yên, nhưng sự hỗn loạn trong thành phố chỉ mới bắt đầu.



Hỗn loạn lên cao ngày những bánh xe tăng khổng lồ cán trên mặt đường. Mẹ tập họp gia đình và những người giúp việc vào một phòng giữa tầng trệt, tránh pháo kích, bom đạn từ máy bay trên trời và từ ngoài đường bắn vào nhà. Mẹ đã có chuẩn bị sẵn, trữ thêm gạo và mua một số bao cát chất chung quanh phòng. Mẹ còn cột vào người mỗi đứa một bao nhỏ đựng ít tiền, lương khô và giấy ghi rõ tên tuổi cha mẹ đề phòng chạy loạn bị thất lạc, và giao mỗi đứa cho một người giúp việc. Chúng tôi ngồi bệt trên nền nhà, trong tầm che chở của những bao cát, chuẩn bị chịu đựng một tai biến khủng khiếp. Mẹ dặn dò xong, căn phòng chỉ còn tiếng máy phát thanh. Những người lớn chăm chú nghe, thỉnh thoảng một người chạy ra cửa trước nhìn qua kẻ hở xem động tịnh ngoài đường. Tôi cố gắng chú tâm đọc thầm những lời cầu nguyện bà đã dạy để xua đuổi những hình ảnh đói khát và đổ máu cứ hiện ra trước mắt. Bỗng có tiếng đập rầm rầm lên cửa khiến chúng tôi giật thót người. Bố đưa tay ra dấu cho mọi người ngồi yên, một mình bước ra phía trước và trở lại mau với sáu người lính Cộng Hòa. Họ mặc quân phục tay cầm súng ống, yêu cầu cho lên sân thượng để nhìn xuống đường cho rõ. Có lẽ họ chọn nhà tôi vì căn nhà cao nhất khu phố. Mẹ lo căn nhà sẽ biến thành một bãi chiến trường, năn nỉ họ rời khỏi với lý do nhà rất đông con nít. Những người lính ngồi trên những chiếc nón sắt úp xuống nền, băn khoăn nhìn về phía chúng tôi như không biết phải tính sao. Mỗi thời khắc trôi qua nặng nề trong lòng chúng tôi, và có lẽ, cũng không yên lành trong lòng họ. Một lúc sau, họ đứng dậy bỏ đi. Chúng tôi lại quay về với sự chờ đợi hồi hộp trong bất an, cho đến khi đài phát thanh loan tin bàn giao và bố kết luận không cần chạy nạn nữa. Tôi thấy bố mẹ chỉ ứa nước mắt được một thoáng rồi lại lo lắng bàn về những bất định sắp tới. Thỉnh thoảng hai tiếng "hòa bình" vang lên rồi lại lấp đi bằng các chữ "di cư", "quân quản"… Tôi linh cảm ngày cuối cùng của tháng Tư đã xóa đi thành phố tuổi thơ của mình và cuộc sống trước mặt sẽ đếm từng ngày một.



Bàn giao xong, hỗn loạn không chấm dứt mà tràn từ ngoài phố vào trong nhà. Trong hẻm phía sau nhà có nhiều súng đạn, lưỡi lê và một số quân phục rằn ri bị vứt bỏ. Em trai tôi lén nhặt một cây súng đem về rồi mang lên sân thượng tập bắn, khiến bố mẹ hốt hoảng, sẵn bố mẹ đang lo lắng đến mất bình tĩnh vì sợ bị tịch biên tài sản như năm 54 ở ngoài miền Bắc. Tôi biết tình trạng rất nghiêm trọng vì thấy bố không nằm lâu trong căn phòng nhỏ ở lầu ba mà bỏ nhiều thì giờ xếp đặt với mẹ. Thỉnh thoảng, mấy chị em tôi núp ở lan can lầu hai nhìn xuống, hễ thấy có nhiều xe quân đội đi ngang là chạy báo tin cho bố mẹ biết. Mẹ để ý "họ" ăn mặc thô sơ nên dặn tất cả mọi người phải ăn mặc thật giản dị, đàn bà phải chùi hết sơn móng tay và không trang điểm, và con nít không được ra đường. Mẹ còn dặn người làm chỉ nấu những món thanh đạm lỡ "họ" vào xét nhà. Người lớn lục lọi khắp nhà tìm một số sách báo tranh ảnh đem đi đốt. Mấy ngày không có một tiếng cười, tôi thấy nhà như cảnh chùa có nhiều người mặc áo xám hoặc nâu trầm tư đốt nhang đèn, khấn vái xin tai qua nạn khỏi. Thêm một nhóm lính khác mặc quân phục và đội nón cối xanh vào nhà chúng tôi đòi đặt súng chống máy bay trên nóc sân thượng. Họ cho biết muốn đề phòng máy bay Mỹ trở lại quan sát thành phố. Cũng may, một phần sân thượng được che bằng mái tôn không đủ sức chịu đựng súng phòng không cỡ lớn nên cuối cùng họ bỏ đi. Sự xáo trộn và bấp bênh không biết đến bao giờ mới hết. Mẹ lắc đầu chép miệng bảo người ta sao thì mình vậy, miễn cả nhà được bình yên. Con đường phía trước dù sao chúng tôi vẫn phải tiếp tục đi.



Tôi đã dọn vào một căn phòng ở lầu ba, bên cạnh gian thờ. Mẹ sợ sau này đồ dùng bị quản thúc như gạo nên mua lắm bàn ghế, giường tủ chất vào mỗi phòng trống trong nhà. Mẹ nói sau này mấy chị em tôi lớn lên lập gia đình sẽ có đồ dùng. Tôi thay tấm màn trên cánh cửa phòng bằng một loại vải dịu mềm in hình những hoa hồng li ti. Màu hồng phấn nhạt e dè tựa nụ hoa vừa hé mở, tựa một niềm hạnh phúc sắp sửa thành hình. Đối diện cửa phòng, khung cửa sổ lớn chắn song sắt mở ra một vòm trời xanh rộng. Buổi trưa, làn gió nóng bức len vào ru tôi ngủ. Giấc ngủ trưa nhiều mộng mị để khi thức giấc đầu tôi thấy nặng và dòng máu trong thân như đã ngừng lưu chuyển. Đây là những thời khắc mà tâm trí tôi không xác định được mốc thời gian, cứ chập chờn giữa quá khứ và hiện tại. Những mơ ước của đứa con gái vừa kịp lớn lên trong năm cuối cùng của Sài Gòn phồn vinh và lãng mạn xa vời hơn với mỗi ngày mới. Cũng như cuộc sống đang mất dần với những sổ gạo, đổi tiền, đánh tư sản và những vụ xét nhà bất chợt. Trong một hộc tủ của chiếc bàn học, tôi dấu những tập thơ, băng nhạc và tiểu thuyết mà lũ con gái trong lớp lén truyền tay nhau. Chúng tôi cùng gìn giữ những mơ ước của riêng mình dù vài ba năm nữa thành phố sẽ chẳng còn lại mấy cho chúng tôi. Trên kệ tủ quần áo, con búp bê mắt xanh tóc vàng chực chớp đôi mi cong vút; những món hàng xa xỉ phẩm như vậy sẽ không bao giờ được bày bán nữa.



Mỗi mùa mưa trở về trên sân thượng gây thêm chút chao động trong tâm hồn tôi. Tôi dệt mộng như tương lai vẫn có thể đem đến những gì đẹp nhất mà tôi đã biết từ tuổi mười hai. Con bé ngồi cạnh tôi trong lớp bảy ở trường Saint Exupéry thường kể cho tôi nghe những cuộc hẹn hò của anh chị nó lúc ấy đang học ở Marie Curie. Chuyện tình của họ đẹp như những chuyện tình của công chúa và hoàng tử trong thần thoại. Tôi mê man đến quên mất trường Pháp đã đóng cửa và cả thành phố cũng đã đổi thay. Cho đến một ngày tôi bất chợt chồm qua lan can nhìn xuống phố. Sắc màu đỏ ối của những lá cờ và biểu ngữ giăng khắp nơi đánh thức tôi từ một giấc mộng dài. Tôi đã quá xa với thực tế mà chỉ những ước mơ vừa vặn với hiện thực mới có thể thành hình. Những gì tôi mong không phải ở trên mây mà ở dưới phố. Có thể trong cuộc sống khắt khe, những ước mơ cần thu nhỏ lại.



Nhưng trước tiên, tôi cần phải xuống phố.




Sinh nhật



Mẹ mua cho một chiếc xe gắn máy vừa lúc tôi muốn tìm những cảm giác mới. Bước tập xe đầu tiên thật bỡ ngỡ vụng về. Nhưng ý chí muốn tập làm người lớn cho tôi can đảm, thêm một chút liều lĩnh, và tôi đã làm quen mau. Tôi thấy mình chững chạc hẳn khi ngồi vững vàng trên xe máy.



Sinh nhật của người bạn vào một ngày cuối tháng Ba. Bức thiệp mời được viết với tất cả sự trân trọng của một thiếu nữ sắp tròn mười sáu tuổi. Mấy năm nay chúng tôi không hề tổ chức tiệc sinh nhật; mỗi năm một lần là xa xỉ trong hoàn cảnh khó khăn chung. Hôm ấy, trời ngả chiều với một thoáng mưa xuân gội trôi khói bụi ám mờ không khí. Lúc tôi đến trước thềm, mưa đã tạnh, mây đã qua hết để lại một bầu trời trong. Tôi đoán khi ra về, đêm sẽ rất đẹp và trời sẽ đầy những vì sao lấp lánh sáng như tuổi cặp kê của chúng tôi.



Phòng khách nhìn sang trọng hơn hẳn ngày thường với ánh đèn mờ ảo xóa đi hết những vết loang trên tường. Bộ tràng kỷ được phân tán, những chiếc ghế kê sát tường và chiếc bàn lui vào một góc. Giữa phòng bài trí bàn ăn khá dài phủ khăn trắng. Những chiếc bát sành khác màu, những ly nhựa trong và những đôi đũa gỗ được xếp ngay ngắn từng bộ dọc theo mỗi cạnh bàn. Chiếc bánh kem trắng nằm giữa bàn được tô điểm bằng những đóa hoa hồng. Mỗi bên của chiếc bánh là một thố to đựng ra-gu bò nấu với đậu trắng còn tỏa vài lượn khói thơm, hai đĩa bánh mì cắt khúc, một khay tôm chiên và một khay sandwich kẹp thịt nguội. Xen kẽ là những chai nước ngọt và vài sô đá nhỏ. Thật lâu rồi tôi mới thấy lại một tiệc thịnh soạn như vậy. Thường thì dù có khả năng, người ta cũng không dám phô trương hoặc không dám tiêu xài hơn cần thiết tổi thiểu vì sự bấp bênh của ngày mai.



Bạn bè đến thật đông, có những khuôn mặt tôi không quen biết. Chúng tôi tươm tất hơn ngày thường với những chiếc áo ủi phẳng lì, tay cầm những món quà gói bằng giấy hoa thắt thêm chiếc nơ xinh xắn. Căn phòng biến mình vào trong một khung cảnh của Sài Gòn hoa lệ khi các thanh niên và thiếu nữ trịnh trọng ngồi vào bàn. Chốc nữa đây, sau khi tiêu thụ xong những món ăn ngon, chúng tôi sẽ làm lễ cắt bánh, và sẽ hát những bản nhạc tình cấm lưu truyền. Tất cả thơ mộng sẽ tụ thành một kỷ niệm vĩnh viễn đẹp trong lòng mỗi người dự. Khung cảnh này, tuổi chúng tôi đã biết đến từ lâu, lẽ ra tiếp tục đầy ắp mà sau tháng Tư lại vắng dần đi để đến một lúc chỉ còn là ký ức. Chúng tôi muốn quên đi thời gian nhưng chiếc đồng hồ to treo trên tường không ngừng quay tích tắt khiến buổi tối không ngừng trôi.



Bất chợt, tôi để ý người thanh niên nhìn tôi bằng ánh mắt say sưa của tuổi trẻ đầy hiếu kỳ. Mắt nhìn như mất hút trên tôi khiến tôi bối rối. Tôi quay vội xuống nhìn tấm khăn trải bàn trắng muốt. Không gian bỗng xôn xao khác thường. Ý nghĩ ánh mắt đó đang di chuyển trên người tôi khiến tôi thấy nóng ran trên má. Tôi ngước mặt lên vừa đủ để tầm nhìn ngừng lại ở giữa bàn, vờ chăm chú vào chiếc bánh kem. Từng ngọn nến nhỏ đang được mồi lửa sáng lung linh. Khi đèn điện tắt đi đem u tối tràn ngập căn phòng, những tia lửa rạng rỡ hào quang trên cô bạn tôi. Cô xinh đẹp thuần khiết như một thiên thần trong chiếc áo lụa màu vàng nhạt. Chiếc áo mỏng ôm dịu dàng thân hình, phô trương những đường nét của người thiếu nữ trong tuổi dậy thì. Nét mặt cô hạnh phúc khi thì thầm lời ước nguyện, như nguyện ước sẽ xảy ra đêm nay. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh bàn. Mọi người đang chăm chú nhìn cô chuẩn bị thổi nến. Ánh mắt của các thiếu nữ đầy mộng mơ xen kẽ với những ánh mắt chiêm ngưỡng của các thanh niên. Tôi thoáng dừng lại ở người thanh niên khi nãy. Tôi hy vọng tìm kiếm nơi anh, hoặc nơi những người thanh niên đã để ý đến tôi, một người mà tôi đang chờ đợi. Một chiếc bóng vô hình vô danh, mà tôi sẽ biết nhận ra khi đến với tôi. Tôi vụt ý thức, chúng tôi cùng tròn mười sáu tuổi đêm nay và đêm sinh nhật ghi dấu mốc thời điểm này không phải của riêng ai, không của riêng một người mà là của tất cả chúng tôi đã sẵn sàng dấn bước vào đời sống. Mười sáu tuổi, chúng tôi đẹp như những búp hồng nhung muốn bật tung cánh.



Không gian chùng hẳn khi những tiếng hát thay phiên nhau cất lên. Mỗi người hát dùng lời nhạc để âm thầm bày tỏ tâm sự của mình, tâm sự cất dấu đã lâu và cần nói cho ai nghe. Mỗi người nghe, nghe trong im lặng, tìm sự cảm thông của người hát đối với tâm sự của mình. Và như vậy tâm hồn chúng tôi tìm nhau trong âm vang hư ảo của những bản nhạc tình. Tôi mất tan trong tiếng hát của mình, như giọng hát vang lên từ một thể xác mà linh hồn đã thoát ra và không chịu trở về. Chỉ cần tôi chưa tỉnh dậy thì buổi tiệc không thể tàn. Ban chiều tôi đã đánh một vòng qua khu trung tâm, khung cảnh lộng lẫy xưa đã thay bằng những sắc màu đỏ vàng nghiêm khắc. Trên đại lộ Nguyễn Huệ vẫn còn hai hàng cây cao ngất nhưng thương xá Tax đã trở thành nơi triển lãm hàng hóa công nghiệp. Chung quanh, một ít nhà hàng sang trọng và tiệm bánh Pháp còn kinh doanh nhưng bên trong nhìn trống rỗng, ít hàng, ít khách. Mấy năm nay, gạo trắng đã trở thành hàng cao cấp, cả đường trắng cũng khó mua được. Tôi muốn kéo dài hơn cơn mộng mị này. Chỉ cần tôi chưa tỉnh dậy thì Sài Gòn hoa lệ chưa biến mất. Nhưng tôi hiểu, miễn thân xác còn cần hơi thở thì tôi cần phải tỉnh dậy.



Khi tôi ra về, đêm tĩnh mịch sâu như vô tận. Mặt trăng không tròn không khuyết giống mơ ước mới đang chớm nở trong tôi vẫn còn méo mó. Tôi suy gẫm ánh mắt của người thanh niên đã chăm chú nhìn mình. Tôi yêu thích sự say sưa trong ánh mắt của anh, ánh mắt đã đem xúc động đến trong lòng tôi. Tôi thường mơ ước tình yêu trong xa hoa. Nhưng ngay lúc này, nếu có lựa chọn, tôi sẵn sàng chối bỏ một tình yêu xa hoa để đổi lấy một tình yêu cuồng nhiệt. Nhưng hình như tôi không có tình yêu xa hoa nào, và khi tôi quay đầu nhìn lại, ánh mắt đó cũng không đi theo tôi. Có lẽ vì tôi ít nói và vẻ bên ngoài hơi lạnh khiến người khác ngại ngùng, tôi muốn tin như vậy. Bạn bè khi chưa quen biết thường cho là tôi nghiêm, nhưng đó chỉ là một cách che giấu sự nhút nhát của mình. Đêm thật trong, như tôi đã đoán, thật sống động với triệu triệu vì sao chiếu sáng. Nền trời lấp lánh ước mơ của thành phố. Lấp lánh sự hiện hữu hòa đồng trong sắc màu đồng dạng của đêm. Tôi chạy xe thật chậm dưới các vì sao, dường như tinh tú vây quanh và dẫn đường, như thể tinh tú thúc giục nếu tôi cứ tiếp tục đi mãi thì sẽ tìm ra mơ ước của mình, không phải ở trên mây, mà phía trước. Tôi không muốn ngủ đêm nay, đêm quá đẹp để chui vào phòng, vả lại đời sống sẽ có ý nghĩa hơn khi mình có ước mơ và tôi muốn thấy rõ hơn ước mơ của mình.




Vượt biên



Có những gặp gỡ bất chợt giúp tôi hiểu rõ hơn mình cần gì trong cuộc sống, như ánh mắt ngày nào đã thay đổi những mơ ước thơ dại của tôi. Đoạn đường ngắn ngủi chung với anh, một nụ hôn chưa đến, một tình yêu không hiện hữu, dạy tôi ước mơ lớn hơn cho tuổi trẻ của mình.



Hai bên cha mẹ chúng tôi thân nhau đã mấy mươi năm. Khi chúng tôi còn bé, hai bác mời gia đình tôi cùng đi nghỉ hè ở Vũng Tàu, tại ngôi biệt thự nghỉ mát mà hai bác vừa mua. Sóng biển và cát vàng còn lưu trữ bao kỷ niệm đẹp của đám trẻ con chúng tôi. Sau đó tôi không gặp lại anh, hình ảnh cũng nhạt nhòa. Một hôm mẹ cho biết anh đang trốn nghĩa vụ ở nhà một người quen và bảo tôi đem một gói đồ trao cho anh. Căn nhà nằm trên đường Lê Thánh Tôn, là một tiệm vàng lộng lẫy với đèn đuốc sáng trưng. Người đàn bà tuổi trung niên dáng vóc gầy và sắc đứng sau quầy bảo tôi đi qua hai cánh cửa và thẳng lên lầu tư. Không hiểu họ có móc nối gì mà dám chứa người trốn nghĩa vụ ngay giữa trung tâm thành phố và không biết họ còn chứa những gì. Cầu thang chật hẹp, chìm trong u tối và vắng lặng. Tôi nắm chặt thành, mò mẫm bực thang. Những nấc thang cao hơn bình thường khiến mỗi bước chân tôi khó khăn và lòng thêm hoang mang. Ngang qua lầu hai, một cánh cửa phòng mở rộng để lộ đôi mắt sáng chiếu ra từ bên trong. Tôi trông thấy lờ mờ một người đàn bà ngồi bệt trên nền nhà, tay ôm một đứa trẻ sơ sinh không động đậy. Tôi gật đầu chào nhưng bà không tỏ vẻ gì. Dù bà đầy vẻ kỳ lạ, sự hiện diện của một người đàn bà cho tôi chút yên tâm. Lầu ba phảng phất mùi thuốc phiện, mùi vị này tôi đã biết nhiều năm và không thể nào nhầm lẫn, và người đang hút chắc chắn là đàn ông. Tôi bước nhanh hơn. Căn nhà dị quá, nếu không vì mẹ bảo phải trao tận tay, tôi đã quay đầu chạy trở xuống. Lầu tư có hai căn phòng đều đóng cửa, vài tia ánh sáng mỏng xuyên qua khe hở của một cửa sổ nhỏ trên hành lang. Cả gian lầu hoàn toàn im lặng chỉ nghe được tiếng tim tôi đập loạn vì sợ. Người đàn bà đứng sau quầy không hề dặn căn phòng nào. Tôi ôm chặt gói đồ đứng trước căn phòng đầu tiên vài phút, rồi thu hết cam đảm gõ lên cánh cửa. Gõ nhè nhẹ rồi gõ mạnh vẫn không có tiếng trả lời. Cho đến khi tôi gọi tên anh.



Thì ra, ký ức con người đầy kỳ lạ. Đôi khi mình tưởng đã quên mất nhưng chỉ với chút manh mối là có thể nhớ ra. Anh lớn hơn tôi mấy tuổi, hao hao giống bác trai, gương mặt vuông, chiếc cằm hơi chẻ, và hai hàng chân mày ngắn rậm. Tôi không nhận ra ánh mắt, vẫn đôi mắt đen nhưng ánh mắt hoàn toàn thất lạc. Cậu bé hôm nào đuổi sóng với bao nhiệt tình trong nắng cháy da ngồi trước mặt tôi nhợt nhạt xanh xao. Hình như anh đã ngồi đóng khung như vậy trên mép giường qua nhiều ngày tháng, chỉ đôi môi mấp máy câu chuyện trao đổi với tôi. Tuy lần đầu ở riêng trong một căn phòng kín, giữa chúng tôi không có sự ngại ngùng, có lẽ vì tình thân của hai bên gia đình rõ rệt hẳn trong căn nhà quái dị. Một nỗi buồn nhẹ thấm khi anh cho biết đang đợi tìm chỗ vượt biên. Tôi thường hay như vậy, nghe ai đi thì cũng buồn, dù quen dù lạ. Có lẽ tôi buồn cho tình cảnh chung của dân tộc mình, ai mà không yêu quê hương mà vẫn thấy cần thiết bỏ đi. Chắc anh rất cô đơn, nói mãi không để tôi ra về. Nhắc đến quá khứ, anh mau mắn tìm lại được ánh mắt nghịch ngợm của cậu bé từng xoa cát lên vết phỏng nắng trên người tôi. Tôi còn nghe được tiếng kêu la thất thanh của mình. Cô bé vẫn còn trong tôi, nhưng khi tôi bước ra khỏi căn phòng, cậu bé sẽ biến mất trong chiếc khung tái nhợt. Tôi có thể trở lại bãi biển phủ nắng thân mến nhưng anh sẽ không còn cơ hội nào nữa, rồi ký ức sẽ nhạt phai và anh sẽ đánh mất quá khứ. Lòng tôi đầy thương cảm. Tôi định về đến nhà sẽ hỏi xem mẹ còn nhớ những kỷ niệm gì ở Vũng Tàu để chuyến thăm sau, tôi sẽ kể giúp vui cho anh.



Thành phố ít khi nào mưa như vậy, mưa giông cả tuần cho đến sáng nay mới tạnh. Những đám mây vẫn chưa đi hết, một ít rải rác trên nền trời. Tôi chạy xe dọc theo giòng sông Sài Gòn, mực nước lên cao hơn bình thường, trôi như thác lũ, gấp rút xuôi ra biển cả. Tôi nghĩ đến anh, đến chúng tôi, đến những người vượt biên, số mệnh tựa mưa xuống giòng sông đang xuôi ra biển, một phần nước bay hơi thành mây quay về thành phố, một phần khác nổi trôi đến bến bờ xa xăm, và phần còn lại ở với biển muôn đời. Không bao lâu nữa, tôi sẽ cùng anh làm mưa trôi vô định. Lần gặp gỡ trao gói đồ thật ra là lễ xem mắt. Bác muốn hỏi tôi cho anh và cho cả hai đi vượt biên chung; mẹ cũng đã đồng ý. Mẹ không dám đem cả nhà đi vượt biên, sợ không thoát, khi trở về nhà cửa bị tịch thu thì sẽ không nơi trú thân. Cách tốt nhất cho anh và tôi là nương tựa lẫn nhau trong việc truy tìm một cuộc sống trọn vẹn, có tự do và cơ hội phát triển. Một ngày trước ngày vượt biên, mẹ sẽ kín đáo đãi một tiệc nhỏ ở nhà, chỉ mời những người rất thân và không quà lễ phô trương để tránh sự nghi ngờ của phường. Sau đó, anh ở lại nhà tôi một đêm và hai chúng tôi sẽ cùng lên đường. Mọi chi tiết đã được bàn thảo xong, chỉ còn chờ xác định ngày. Ngày này có thể đến bất cứ lúc nào để chấm dứt sớm tuổi thiếu niên của tôi. Rồi tôi sẽ nhập vào giòng nước mới mãi xa, hoặc biển sẽ giữ tôi ở lại.



Người chồng tương lai của tôi đã thoát ra khỏi chiếc khung khô cứng, cử chỉ và ánh mắt sống động như anh yêu vô cùng cuộc đời. Anh nắm tay tôi, bằng giọng trìu mến hứa sẽ che chở cho tôi. Tôi không rút tay ra, vì hình như tôi không có quyền rút tay, lặng thinh nghe anh sắp đặt cho những ngày sau này. Đôi lúc hơi thở của anh đến gần bên tai, bàn tay vén mái tóc đang rơi che mắt tôi khi tôi bất chợt cuối đầu. Người đàn ông trước mặt muốn hôn tôi, tôi không nên tránh né, nhưng lại không có cảm giác gì. Anh muốn thân mật nhưng anh có hiểu những mơ ước tầm thường nhất của tôi? Tôi muốn gì? Giản dị là một lời hát. Một bài nhạc vút cao thành tiếng sáo trời hay tiếng đàn đệm trầm ấm. Tầm thường hơn nữa, một đôi guốc cao. Hay cao sang hơn nữa, được tự do lựa chọn. Anh đem đến tôi hoài bảo đi tìm tự do cho một tuổi trẻ không tương lai, ở đây, trên đất nước này. Nhưng anh không biết rằng chính anh lại như các biểu ngữ áp đặt lên tôi ước muốn của riêng mình: Một định chế cùng những lời động viên mà tôi không cần. Anh không hiểu.



Buổi trưa hầm trong thời tiết oi ả. Tôi và cô bạn thân nằm im lặng nhìn lên trần nhà, những suy tưởng riêng tư cuốn theo cánh quạt xoay tít. Sau khi tôi báo ngày đi chính xác, chúng tôi không còn lời gì khác chưa nói ra để chuẩn bị cho một cuộc chia ly vĩnh viễn. Cơn nóng hầm tăng lên với mỗi giờ khắc trôi qua cho đến khi trận mưa vỡ oà. Những giọt nước mắt nén mãi trong lòng cuối cùng cũng rơi ra, rồi như mưa từ từ khô cạn. Chúng tôi hiểu gặp gỡ và ly biệt là việc tự nhiên trong đời sống như nắng và mưa. Tôi ra về sau khi mưa tạnh, trên con đường tôi đã đi biết bao nhiêu lần và đây có lẽ là lần cuối. Đêm sinh nhật thứ mười sáu của cô bạn đã qua hơn một năm mà như mới đây. Chỉ mới đây thôi, tâm hồn tôi còn như trang giấy mới sẵn sàng thu thập tất cả dữ kiện về tình yêu. Chỉ mới đây thôi, tuổi trẻ mở rộng trước mặt chờ tôi khám phá, và hôn nhân nằm trong xa vời. Tôi dừng gấp chiếc xe bên đường rồi quay nhìn về phía sau, nhìn mãi cho đến khi bóng tối phủ ngập. Trong lòng tôi vẫn thiết tha với ánh mắt của người thanh niên cùng tuổi, với tình yêu mà tôi chưa thực sự biết là gì và mong chờ thử nghiệm. Nhưng năm ngày nữa mọi thứ tự của một trật tự lý lẽ sẽ bị đảo lộn. Tôi sẽ đám cưới với một người chồng chọn sẵn, sẽ trở thành một người đàn bà không có tuổi trẻ, một người phản bội tâm hồn mình để đổi lấy một sự bình yên trên con đường đi tìm tự do. Nhưng tự do có ý nghĩa gì khi bị ràng buộc bởi một hôn nhân gượng ép, khi tôi có thể sống hết lòng nhưng không bao giờ yêu hết lòng. Mười bảy tuổi còn quá trẻ để bỏ rơi mơ ước chưa kịp thành hình và chấp nhận một cuộc sống máy móc. Tôi thà đi một mình và gánh chịu hậu quả của sự chọn lựa này.



Tôi quyết định bãi bỏ hôn ước.




Căn phòng



Căn phòng vuông vứt với khung cửa sổ to mở ra vòm trời rộng là thế giới của riêng tôi. Thế giới lãng đãng những suy tư của tuổi trẻ trước một lối rẽ phân nhiều ngõ ngách. Tôi bước vào đây năm mười ba tuổi, cùng lúc thành phố cũng như tôi ngẩn ngơ tìm phương hướng. Sau tháng Tư, tôi đã tự hỏi bao lần: Tôi là ai? Tôi ước muốn gì cho tương lai? Tôi đã ướm thử nhiều hình tượng và đặt ra nhiều viễn ảnh, tất cả đều được cất giấu trong căn phòng riêng. Không ai biết những bí mật của tôi. Anh cũng không ngoại lệ. Anh muốn xâm nhập nhưng tôi đã cự tuyệt. Bằng những nét bút vô hình, tôi sắp xếp mỗi suy nghĩ bắt đầu từ chân tường cho đến khi các thao thức lấp đầy trên vách.



Căn phòng giúp tôi gìn giữ niềm tin. Vách tường dựa vào gian thờ truyền sang những hương trầm thơm ngát trong đó có chút dư âm của tiếng gõ mõ tụng kinh cùng những lời cầu nguyện của hai bà cháu. Lời cầu xin của bà cho một cuộc sống tốt đẹp đã thuần thục trong tôi hóa thành sự ao ước cho một cuộc sống phóng khoáng và trọn vẹn, có tự do và sống hết lòng. Những áp bức gò bó của hiện tại gieo vào lòng tôi một sự chống đối âm thầm, để tôi hiểu ra những cần thiết căn bản của sự tốt đẹp. Có lẽ anh, cũng như họ, sẽ cho rằng tôi lý tưởng hóa ý nghĩa của cuộc sống.



Tôi thân thiết với chiếc tủ đứng ngày ngày nhìn tôi chải tóc thay áo. Ánh phản chiếu trên tấm kính là một người con gái với ánh mắt ưu tư trên gương mặt. Mưa đã thấm vào tôi thành làn da sáng mỏng và nắng đã phủ lên nhiều chấm tàn nhang. Bên trong tủ treo quần áo gồm nhiều áo cánh trắng. Tôi chọn cho mình một bề ngoài giản dị như hình ảnh của cánh hoa sứ yêu nắng mưa. Anh chưa trông thấy cây sứ đã cùng tôi trưởng thành.



Trên trần nhà, tôi treo lên những nốt nhạc của các tình khúc mà tôi ưa chuộng suốt những năm vừa lớn. Anh không biết đến tâm sự lãng mạn của tôi. Đến những âm thanh gây xúc động tâm hồn tôi mà trí óc không bao giờ hiểu nổi. Đến những giai điệu của cuộc sống mà tôi muốn thử nghiệm. Chúng tiêu biểu cho một phần tâm hồn, ước muốn, sở thích của cá nhân tôi, đã được chọn lọc từ một nền văn hóa mà tôi quen thuộc. Khi tôi nằm nhìn lên trần, chỉ cần tôi hướng mặt về phía trần nhà, dù tôi nhắm mắt, những nốt nhạc sẽ sống dậy để hòa lên những âm thanh kỳ diệu nhất. Trần nhà sẽ trở thành một giải ngân hà lấp lánh, quá bao la để cho mọi thứ trên quả đất còn có mảy may quan trọng. Và tôi có thể chìm đắm hoàn toàn vào trong một giấc mơ đẹp, không muộn phiền khắc khoải.



Anh không biết tôi có bao nhiêu hoài niệm. Tôi thích ngồi ở bàn học nhìn ra ngoài khung cửa sổ, ngắm dẫy ngói ống bao la tăm tắp đều đặn của những mái nhà bên cạnh. Tôi đã ngắm những mái nhà nhấp nhô này nhiều năm. Có khi chúng uốn lượn như sóng của đại dương lại có khi tựa sự thăng trầm của con người. Màu ngói ống đậm sẫm trước khi hừng đông sáng dần thành nâu sòng giống mái tóc tôi, nhiều năm nay vẫn vậy. Dáng dấp của thành phố nhìn từ trên cao nguyên vẹn như những ngày tôi còn bé, khi tôi yêu mảnh đất nơi mình sống không một chút đắn đo.



Tôi là ai? Tôi là người chấp nhất cho tình cảm của mình đối với quá khứ. Bản chất của tôi là do quá khứ tạo thành. Nhưng anh không quan tâm, còn họ muốn xóa đi quá khứ. Những gì tôi từng quý mến, tôi đã mất rất nhiều. Còn lại là những kỷ niệm mà tôi cố gìn giữ trong căn phòng này. Tôi khóa chặt cửa phòng để bảo vệ sự tư ẩn của mình. Hiện tại trừng phạt sự xa cách của tôi bằng cách gieo vào lòng tôi một cảm giác bất ổn liên miên.



Tôi cố gắng mường tượng tương lai với tất cả niềm tin trong lòng. Nhưng trên các vách tường chỉ là những hình ảnh nhòe nhoẹt, những nét dở dang, những sắc màu nhợt nhạt. Tôi vẽ hoài không ra một hình ảnh có ý nghĩa cho sự ở lại với thành phố, dù thâm tâm vẫn chưa nỡ rời xa. Cuối cùng, khi bốn bức tường đã đầy ắp và trí tưởng tượng đã cạn sạch, tôi chấm dứt bằng một ánh trăng và một chiếc cầu vồng. Qua bao thất vọng, tôi vẫn muốn tin vào ánh trăng sáng sẽ đưa đường trong đêm tối và cầu vồng sẽ xuất hiện khi trời rối loạn nửa mưa nửa nắng. Vẫn muốn tin mù quáng vào niềm tin bà nội đã cho tôi.



Nhưng tôi không gắng gượng được bao lâu. Khi cảm giác bất ổn tích lũy đủ độ trầm kha, lòng tin bị khuấy động. Tôi không còn biết tin vào gì. Không có tương lai, linh hồn trở nên lười biếng, không một chủ tâm, không một mục đích. Tôi máy móc qua ngày, thỉnh thoảng tự hỏi sống để làm gì. Sống khép mình trong vâng phục thì có khác gì là sống để chịu khổ rồi chết đi. Trong những giờ khắc trống trải nhất, tôi nằm vùi vào mặt nệm chịu đựng sự trừng phạt nặng nề. Tôi là ai hình như không còn quan trọng nữa. Vách tường không khuyên giải được tôi. Trần nhà không khiến tôi khuây khỏa. Những mái ngói không còn gây ấm lòng tôi. Những suy tư tiếp tục phình to chiếm hết không gian khiến tôi ngộp thở. Không bao lâu nữa khung cửa sổ sẽ không còn lùa vào đủ không khí để tôi hô hấp, giúp tôi thở những làn hơi thở khát khao của đời sống. Có lẽ đó là lúc tôi phải mở toang cửa phòng, loan báo những tư ẩn của mình với tập thể, chấp nhận một sự kiểm soát vô lý lẽ. Và đó cũng sẽ là lúc tôi bỏ rơi bản thân.



Anh chưa bước chân vào căn phòng của tôi nhưng tôi thường nhìn thấy anh từ đây. Trong những đêm trăng rất sáng, anh và tôi có thể nhìn thấy nhau. Mặt trăng phản chiếu chiếc tàu mang anh băng qua đại dương. Anh trở lại thế ngồi của một chiếc khung cứng ngắt và nét mặt anh tỏ rõ sự bất an. Nhưng đôi mắt của anh tinh anh vì sự tuyệt vọng không hiện diện trong lòng anh. Anh biết khi anh đến bờ bên kia, tất cả đau khổ của những ngày trốn chạy sẽ tan biến. Anh tin tương lai mà anh chọn lựa sẽ chờ anh đến gặp. Nên anh sẵn sàng chịu đựng bề tăm tối của biển. Không chỉ anh mà cả vô số lớp lớp người vượt biển, cả vô số lớp người trước đã di cư từ Bắc vào Nam. Tất cả cho cùng một nguyên tắc sống. Nếu anh nhìn vào mặt trăng, anh sẽ thấy tôi nằm bất động trên chiếc giường. Dáng tôi buông xuôi và tôi mang đôi mắt của một người không còn hơi thở. Nhưng anh đừng lo lắng, không cần an ủi tôi. Sau khi nằm chán, tôi sẽ biết mò dậy và tìm lại chính mình.



Anh suýt đem theo tôi, chúng ta đã vuột tay, nhưng ý nghĩ đi tìm tự do đã mọc gốc rễ trong tâm trí tôi, phóng đại theo từng giờ khắc.



Sân thượng



Với những cuộc ra đi, biển đã tràn vào thành phố.



Cùng với biển là những viễn tượng của sự chết xâm chiếm mọi không gian. Tôi không thể không nghi vấn một nguyên tắc sống mà giá trả bằng tính mạng. Thật ra, sự chết luôn áp cận con người nhưng người ta không quan tâm cho đến khi phải đối diện. Sự chết là gì mà đầy uy quyền, chỉ nghe phong phanh đã khiến con người sợ hãi? Một thiếu nữ cần bao nhiêu can đảm để đi gặp thần chết cũng như đối đầu với những xâm phạm còn tệ hơn cái chết?



Khi nhớ bà, tôi thường liên tưởng đến thần chết xuất hiện lần đầu vào năm tôi mười một tuổi. Ngày đưa ma, tôi đã kết luận rằng thần chết không đáng sợ. Tôi đã ngắm bà suốt ba ngày liệm. Bà nằm im không xúc động với mọi đau khổ đang xảy ra chung quanh, hững hờ với cơn đau nhức đã quấy rầy mình. Bà đã về chùa Hương Tự và hài lòng đạt tâm nguyện cuối cùng bằng linh hồn. Chết là không u buồn bệnh tật, là thoát thân xác chấm dứt khỏi mọi ràng buộc. Vậy, chết có gì đáng sợ?



Đáng sợ có lẽ là khoảnh khắc trước khi chết, khi phải chấp nhận sự mất mát lớn nhất trong cuộc đời là chính sinh mạng của mình. Có lẽ sự tiếc nuối cho một tương lai muốn khám phá sẽ níu kéo tôi, dù không còn quan trọng nữa, hay sự tiếc nuối cho một tuổi thanh xuân chưa sống, và rồi hình ảnh trông mong tuyệt vọng của từng người thân sẽ lần lượt chất ân hận đầy lòng mình… Có lỗi nhất là tôi đã khiến bố mẹ phải tự tay đưa con mình vào chỗ chết. Thần chết vừa thoáng qua đã khiến tôi ngập ngừng: Sự đáng sợ nằm trong chính những món nợ mà mình không trả nổi đành phải mang theo.



Đáng sợ không kém là sức tưởng tượng ra thần chết to dần trong chờ đợi, làm choáng đầu, vì chừng như chỉ là vấn đề thời gian rồi sự hành hình sẽ xảy ra và cách hành hình sẽ phong phú. Những ngày cận đi giống ngày áp lễ hành hình, sự chết không ngừng động kinh, không chỉ cá nhân tôi mà cả toàn gia đình chúng tôi. Đêm đêm chúng tôi như chết đi sống lại với tin khí tượng tường thuật chi tiết bão gia tăng rồi lại áp thấp và gió bất chợt chếch hướng thổi vào vịnh Xiêm La. Ngày ngày chúng tôi hoang mang bấn loạn với những mẫu chuyện đồn đãi về những chuyến đi trước. Tuy không ai trở lại nhưng những cánh thư đem tin của thần chết được truyền miệng với tất cả hốt hoảng. Tôi chưa bao giờ biết thần chết khoác nhiều lớp áo mang nhiều màu sắc đến vậy. Họ kể ông đến như chập sóng xanh đen cao ngút rầm rộ đem theo một bản án tử hình; tức khắc chiếc tàu bể nát thành nhiều mảnh vụn, xác tung khắp nơi. Có khi ông mang cảnh tượng của nắng soi thủng trên những làn da kiệt nước lở loét; của nắng gắt trên boong tàu nhởn nha bập bềnh, chồng chất những thân thể cạn lực; của đảo hoang giam cầm những kiếp người. Đến câu chuyện hải tặc, tôi bịt tai, đầu óc vội vã chuẩn bị cho mình một cái chết chỉnh tề. Trước những điều tệ hại hơn cái chết thì cái chết sẽ là một chọn lựa không tệ.



Giấc ngủ chập chờn hằng đêm với những cơn mơ rối rắm xen kẽ nhiều sắc màu khác nhau. Tâm hồn của cô gái Sài Gòn chưa đủ tuổi vị thành niên, chưa bao giờ xa nhà có bao nhiêu can đảm? Tôi sợ trông thấy máu ngay cả chỉ từ mũi kim tiêm, sợ sóng to nước sâu, không chịu được đói khát và cho rằng cướp bóc hãm hiếp chỉ xảy ra cho người khác. Nói chính xác, tôi thật khiếp sợ những câu chuyện chết chóc trên biển mà người ta đã kể lại.



Những lúc không ngủ được, tôi nhờ bốn vách tường cố vấn: tâm trí vùng vẫy trước quyết định đi hay ở. Sự bất an mà hiện tại đã gieo vẫn còn nơm nớp trong lòng tôi. Cả căn phòng thúc đẩy tôi liều lĩnh, thuyết phục đừng ở lại vì đa phần sẽ thành một xác chết biết đi trong khi cơ hội chết trên biển không nhiều hơn. Tôi muốn tin như vậy. Tôi tự nói với mình rằng ngay cả biển cũng đã tràn vào thành phố.



Bố hỏi Có sợ không, tôi trả lời Không sợ. Bố lắc đầu bảo tôi khờ như ếch con nằm đáy giếng xem trời bằng vung. Mẹ dặn chỉ đem theo vài món đồ dùng cần thiết. Những thứ cần thiết thì không thể quên vì không thể quay lại lấy. Còn những thứ khác đều phải để lại. Không thể đem theo gì. Không thể quay trở lại. Vài chữ thôi mà đem nước mắt ngập lòng tôi và nuối tiếc không ngừng sinh sôi nẩy nở. Tôi bắt đầu thấy nhớ thương tất cả những quen thuộc sắp đánh mất.



Trời gầm những lời hối gọi từ xa xăm khi tôi bước chân lên sân thượng giã từ. Tôi trông thấy một cô bé đứng ủ rũ bên cạnh hồ nước chậm chạp nhìn quanh. Ánh mắt cô bé đầy mất mát, nhìn luyến tiếc mỗi nơi mỗi vật như muốn ôm hết vào lòng mãi không buông. Tôi chạnh lòng liên tưởng đến sự mất mát của mình, không được như những cánh hoa sứ trắng làm đẹp nơi mình sinh ra và khi chết rơi xuống cội nguồn. Cô bé thổi nhẹ sang tôi một nụ bình an. Tôi thấy một thiếu nữ xoay người dõi mắt theo nụ hoa đang bay bổng, gió lại cuốn hoa bay chung quanh tôi. Hoa và tôi rượt đuổi nhau qua bao vòng xoay, lênh đênh qua bao thời gian. Bà vẫn đứng đó cầm chiếc rổ con, trông chừng sợ tôi ngã. Người thiếu nữ không ngừng quay tròn ở giữa sân. Trời nổi gió lại đổ mưa lại xuyên nắng, xoay vần những bình minh trong những vạt nắng màn mưa, xoay vần mực nước hồ đầy vơi, xoay vần những tiếng cười nắc nẻ của mấy chị em tôi, tiếng reo vui gọi cha của cô công chúa nhỏ. Lòng tôi cảm thấy nặng dần, mọi vật trước mắt nhòa đi và trong tai chỉ còn tiếng gió trở xoáy, xoáy điên cuồng thành cơn lốc nhấc bổng người tôi lên cao lao vào một cảnh đêm lạnh. Thành phố hiện dần ra với những con đường tôi vẫn đi về, với trường lớp còn đóng cửa và những mái nhà có bạn bè thân đang ngủ say. Tôi yêu từng tất đất con người, trước phút ra đi tình yêu chợt thâm sâu che khuất sự bất an. Mùi đất ẩm quen thuộc xông lên theo gió thấm qua từng tế bào trên da thịt vào đến tận tâm tủy. Tôi để mặc từng lớp gió thấm vào mình, mặc sự tê buốt trong xương. Và như vậy, quê hương ở lại trong tôi.

Gió đã hạ và trong hương sứ trắng, cô gái bé nhỏ của cha Long Vương đang tấm tức khóc. Tôi chậm vòng xoay rồi dừng lại nhìn cô. Nước mắt cô là những hạt trân châu từng thấm trên da tôi. Ánh mắt cô là ánh mắt tôi tha thiết niềm thương tiếc. Cô không nỡ xa rời sân thượng đầy kỷ niệm, nên cô ở lại. Người thiếu nữ đã biến mất còn tôi sẽ không thể trở về.

Tôi rời sân thượng khi trời hừng đông. Trên nền trời ban mai, những vì sao đã thu xong mười bảy năm ký ức, yếu ớt dần rồi ẩn vào ánh nắng. Tôi khép lại cánh cửa sắt dẫn ra sân thượng, khép vĩnh viễn cánh cửa của tuổi thơ. Có lẽ những vì sao ấy đang rực rỡ trên nền trời đại dương. Tôi bước thật nhanh xuống thang nhìn cánh cửa mở rộng phía trước mà nước mắt không ngừng trôi.


Trầm Hương

California, tháng 4-2010


Source : hợp lưu

Cánh Quạt Gió Xoay Trong Lòng Anh

Cánh Quạt Gió Xoay Trong Lòng Anh

MICHEL LEGRAND - ALAN & MARILYN BERGMAN




Tròn như một vòng trong xoắn ốc, như bánh xe trong bánh xe
Không kết thúc hoặc bắt đầu trên guồng quay không dứt
Giống hòn tuyết lăn xuống núi, một quả bóng ở chợ đêm
Giống chiếc đèn kéo quân chạy những vòng quanh mặt trăng
Giống chiếc kim đồng hồ quay nhanh qua mỗi số
Và thế giới như quả táo xoay lặng lẽ trong không gian
Giống những vòng xoay của cánh quạt gió trong lòng anh.



Giống đường hầm anh đi giắt anh theo con đường của chính nó
Xuống trũng sâu vào hang động nơi chưa từng có ánh mặt trời
Giống cánh cửa không ngừng quay trong giấc mơ không rõ
Hoặc những gợn sóng từ viên sỏi ai đã ném vào giòng sông
Giống chiếc kim đồng hồ quay nhanh qua mỗi số
Và thế giới như quả táo xoay lặng lẽ trong không gian
Giống những vòng xoay của cánh quạt gió trong lòng anh.



Những chìa khóa rủng rỉnh, những lời làm anh choáng đầu
Sao mùa hè qua quá vội? Anh đã nói gì sai?
Những tình nhân dạo trên bờ biển và để lại dấu chân
Có phải âm thanh tiếng trống xa chỉ là những ngón tay anh gõ
Những hình ảnh treo trên hành lang và một mảnh nhạc này
Gương mặt và tên tuổi mơ hồ, không rõ họ là ai.



Khi chúng ta đã thôi nhau anh mới chợt nhận ra
Rằng mùa thu đổi sắc lá thành màu mái tóc em
Tròn như một vòng trong xoắn ốc như bánh xe trong bánh xe
Không kết thúc hoặc bắt đầu trên guồng quay không dứt
Do những hình ảnh rõ dần giống những vòng tròn anh thấy
Từ những cánh quạt gió của lòng anh.



Michel Legrand – Alan & Marilyn Bergman
Trầm Hương chuyển ngữ, 27 tháng 7-2010




The Windmills of Your Mind


Round like a circle in a spiral, like a wheel within a wheel
Never ending or beginning on an ever spinning reel
Like a snowball down a mountain, or a carnival balloon
Like a carousel that's turning running rings around the moon

Like a clock whose hands are sweeping past the minutes of its face
And the world is like an apple whirling silently in space
Like the circles that you find in the windmills of your mind.



Like a tunnel that you follow to a tunnel of its own
Down a hollow to a cavern where the sun has never shone
Like a door that keeps revolving in a half forgotten dream
Or the ripples from a pebble someone tosses in a stream.

Like a clock whose hands are sweeping past the minutes of its face
And the world is like an apple whirling silently in space
Like the circles that you find in the windmills of your mind.



Keys that jingle in your pocket, words that jangle in your head
Why did summer go so quickly? Was it something that you said
Lovers walking allong the shore and leave their footprints in the sand
Was the sound of distant drumming just the fingers of your hand
Pictures hanging in a hallway and a fragment of this song
Half remembered names and faces, but to whom do they belong.



When you knew that it was over you were suddenly aware
That the autumn leaves were turning to the color of her hair
Like a circle in a spiral, like a wheel within a wheel

Never ending or beginning on an ever spinning reel

As the images unwind, like the circles that you find

In the windmills of your mind.



Cước chú của người dịch:

The Windmills of Your Mind bản Anh ngữ của Alan & Marilyn Bergman, từ bản Pháp văn Les Moulins de Mon Coeur của Michel Legrand. The Windmills of Your Mind, do Noel Harrison trình bày, làm nhạc nền trong phim The Thomas Crown Affair với Steve McQueen và Faye Dunaway thủ diễn, nhận giải thưởng The Academy Award for Best Song 1968.

Nguồn:

http://www.youtube.com/watch?v=dAGGTVft5Lk&feature=related


www.hopluu.net. All Rights Reserved.

Bùi Giáng : Hội An

Hội An

Mơ màng phố cũ hoang liêu
Cánh buồm con sóng sương chiều Hội An
Tờ mây chan chứa mộng vàng
Tuổi đời em kết mấy ngàn cánh hoa
Mừng vui giọt tuổi chan hoa
Bước đi từ đó gió xa bay về
Ngậm ngùi đàn lệ ai nghe
Cộ nguồn bên tháng năm thề xẻ chia
Dấu mờ hoen hận còn kia
Hồn trăng soi bóng sầu khuya một bờ.

Bùi Giáng

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

Trần Hoài Thư - Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn

Đọc một bài thơ "lục bát mới" trước 1975 của Thành Tôn
Trần Hoài Thư
23.07.2010 .







Nói với cô bé ngồi quán

Tặng các bạn hội quán: Đán, Lâm, Danh

Vào đây, ghế quạnh, khuya người
Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
Quầy trơ, mắt bé ngỡ ngàng
Thuyền ai đổ bến, lòng nàng bâng khuâng


Hồn ta trải gió đầy sân
Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao
Vào đây bàn nhẵn, câu chào
Quen như thân thể, lạ nào chén ly

Đời nhau, khói thuốc quên đi
Bên tai cổ nhạc lầm lỳ canh tân
Trên kia dáng bé tần ngần
Lời yêu chậm nói, tình gần tay trao


Vào đây đèn đủ hanh hao
Bóng ai theo đến kẻ nào quay lui
Cúi đời trên chén ly, khuya
Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng


Ngồi thầm, góc quán mông lung
Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai
Vào đây nhạc đĩa đầy vai
Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen

Mòn hao sợi tóc trăm năm
Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau
Ngậm lòng, quán vắng, ơn nhau
Ly trơ ghế nóng, bé chau mắt nhìn


Vào đây như một đức tin
Khói tan đốm thuốc, đời vin tay nào
Miệng cười kín nụ lao đao
Tình chia nghĩa sớt, câu chào riêng ai

Trách gì ý lỡ, lời sai
Cho nhau góc quán đêm dài dung thân
Thôi em trả đó tình gần
Ta xin bóng chiếc, đời cần nhau, đâu ?

Vào đây, ghế quạnh, khuya nhàu
Tình như cổ tích đời sau kể thầm.



Bài thơ là một chứng minh về sự không ngừng tìm tòi, sáng tạo của người thơ, đặc biệt nhà thơ trẻ, trong việc canh tân giòng thơ lục bát, không phải hôm nay, mà hôm qua, không phải bây giờ, mà cách đây gần 50 năm.

Sự canh tân cho thơ là một việc làm chung. Không phải cái ngôi vị được dành riêng cho một cá nhân nào.

Đây là một tác giả điển hình. Ngoài tác giả này, còn có biết bao tác giả khác. Âm thầm. Bỏ cuộc. Tử trận, Tội tù. Và quên lãng. Việc sưu tập vì vậy rất khó khăn.

Riêng cá nhân chúng tôi, qua những tháng miệt mài sưu tập, với cả ngàn bài lục bát, với hơn 600 trang đánh máy để cân nhắc từng giòng, từng chữ, và với những niềm vui vô tận trên những trang thơ ngỡ chừng đã mất, có nhận định rằng, bài thơ trên là một trong số bài lục bát mới diệu kỳ nhất, lạ nhất của một thời, và chưa chắc, mọi thời.

Thứ nhất là loại thơ tân hình thức. Nó là một bài thơ có nhiều dấu chấm, phết, ngắt câu nhiều nhất.


Trước năm 1975, một số tác giả đã cố mang hình thức mới cho khổ thơ 6-8 bằng những dấu ngắt một cách chủ ý.

Những dấu ngắt đoạn này có tác dụng khiến người đọc thơ ngừng, hay tiếp tục đọc. Trên hành trình thưởng ngọan, người đọc như chiếc xe. Một ụ mô: Xe dừng lại. Đường thẳng băng, xe cũng nổ máy reo vui. Không cần biết nơi nào bắt đầu, hay nơi nào là điểm cuối. Tác giả đã sắp sẵn trên lộ trình rồi.

Ví dụ:

Tháng dư. Buốt nẻ đôi đằng
Nửa chì mưa đục, nửa băng đá cồn

(Ngoại ô, Cung Trầm Tưởng)

Một dấu chấm làm ngăn nhịp 2 và nhịp 4 của câu đầu. Và sau chữ đằng không có dấu chấm.

Tại sao.

Tôi nghĩ là tác giả có chủ ý. Có thể ông không cần dùng dấu chấm (.). Nhưng mà, khi đọc lên, ý thơ sẽ hoàn toàn đổi khác:

Hay qua hai câu sau của Du Tử Lê, với (….) và dấu hỏi ?

(người từ thế giới bên kia)
thấy tôi không ? đã hồn khuya tượng què

(Du Tử Lê- bài lục bát sau tám năm cho người về)
Hay dấu chấm trong một đọan thơ của Đoàn văn Khánh:

Hai tấm ngắn. Bốn tấm dài
Lầm lì tôi đóng quan tài cho tôi

(Đoàn văn Khánh – Hóa Kiếp tôi)

Tuy nhiên, trong 227 nhà thơ được tôi tìm tòi sưu tập ấy, chỉ có vài tác giả có thơ với dấu chấm phết hiện diện, như một chủ ý, qua một vài ba câu thưa thớt chứ không hầu như toàn bộ như bài thơ của Thành Tôn mà chúng tôi vừa giới thiệu.

Với toàn bài 34 câu, có đến 27 câu có dấu chấm hoặc phết, ngắt câu. Kỹ thuật này dĩ nhiên đòi hỏi nhà thơ có một nội lực thâm hậu.

Thứ hai: Mang kỹ thuật Đường Thi vào áp dụng trong lục bát:


Mang câu 8 chẻ làm đôi, và tạo nên con đường rầy song song, chữ đối chữ… đó là một nét đặc trưng của thơ lục bát Cung Trầm Tưởng. Một số nhà phê bình đã ca ngợi ông như là nhà thơ có công trong việc canh tân thơ lục bát. Ví dụ:


Ngày lăn bóng quá lưng đèo
cây hoen lá thắm, xóm nghèo quán không
cồn trơ biếc núi ngồi trông
sương giăng xóm ngủ, mù buông lũng chiều

thuyền nằm, bến cũng xiêu xiêu
con sông tới giấc mắc triều lên nhanh
hồn tôi cái đĩa thâu thanh
tròn nguyên nét nhạc, trung thành ý ca

đồ rê mi pha xon la…

(Chiều – Cung Trầm Tưởng)

Trong bài thơ của Thành Tôn, chúng ta thấy tác giả đã xữ dụng rất nhiều về kỹ thuật đối chữ này.

Ví dụ:

Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
….

Quen như thân thể, lạ nào chén ly
….

Mắt nhau một hướng, tình chia mấy trùng
….

Xa nghe lời kẻ, gần chùng dáng ai


Vòng quay nhịp lặp, kim mài giọng quen
….

Khuya, mưng máu chậm. Tình, bầm tim mau
…..


Đặc biệt câu cuối, chúng ta thấy, ngoài việc đối chữ, tác giả còn đối cả dấu chấm, phết.

Không còn chia câu 8 thành hai, mà thành bốn !

Chúng tôi cố gắng tìm kỹ thuật này trong suốt 227 nhà thơ miền Nam mà chúng tôi sưu tập, nhưng không thấy.



Thư ba: Dùng chữ nghĩa rất ấn tượng

Chúng ta đã từng biết nhà thơ Viên Linh được nổi tiếng nhờ những vần lục bát rất ấn tượng của ông.

mối sầu mai phục thân tôi
đi chưa nửa cuộc bỗng rời tứ chi
nghe trong máu chảy rầm rì
xương vi vu rỗng lọt thì truy hoan

(Viên Linh: Về thăm nhà ở Chí Hòa)

Thì với thơ Thành Tôn, ngay hai câu đầu đã gây nên một ấn tượng rất đậm:

Vào đây, ghế quạnh, khuya người
Quán như địa phủ, nhạc đời nhân gian
….

Vào đây nhạc đĩa đầy vai
Dùng chữ vai để tả về một bộ phận trong máy hát thời xưa chuyên vận hành những dĩa hát , thì quả không còn sự ví von, so sánh nào bằng !

Hay dùng chữ sân để ví với lòng mình:

Hồn ta trải gió đầy sân
Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao


Thứ tư: Biến những chữ vô sinh thành ra những từ rất sinh động.

Ví dụ hai chữ "thu nao" nếu không có Tình ta, mây cũng mấy lần thu nao, thì chắc không có một ý nghĩa gì hết. Hay nếu dùng thì có vẻ cải lương.

Trái lại “thu nao” trong câu thơ là một lối sử dụng chữ rất tài hoa. Đọc lên, êm tai. Đọc lại, đọc lại, đọc lại thấy càng thấm. Và lòng chùng xuống, mùa thu… mây.. mây mùa thu thì bàng bạc, lòng ta cũng bàng bạc vậy thôi….

Ngay cả hai chữ "Thắp Tình", nhan đề tập thơ mà ông đã bỏ công sức, cố học nghề thợ sắp chữ – để tự tay hoàn thành tác phẩm của mình vào năm 1969 thì cũng đã "lạ lùng" rồi.

Rõ ràng, thơ Thành Tôn đã vượt thời gian và không gian, đi rất xa thời của ông, và là một kiện tướng trong việc canh tân thơ lục bát.

Chúng ta xúyt xoa ngưỡng mộ nhà thơ Tô Thùy Yên vì ông dùng hai chữ rất lạ: "Thắp Tạ" cho tựa đề tập thơ mới nhất của ông ở hải ngoại. Tại sao chúng ta lại không để tấm lòng đến một người lính trẻ ở vùng hai khắc nghiệt, đêm ngày đối diện với chập chùng tai ách, đã nghĩ đến hai tiếng cũng rất lạ không kém: "Thắp Tình" cách đây hơn 40 năm?

Mồng 4 Tết, 2010

trích từ Thơ Đến Từ Cõi Nhiễu Nhương, tập phê bình nhận định thi ca Miền Nam, qua những bài viết trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo (Hoa Kỳ): Đặng Tiến, Nguyễn Lệ Uyên, Khuất Đẩu, Trần văn Nam, Lê văn Trung, Luân Hoán, Nguyễn Liệu, Phong Nhã (Trần Phong Giao), Nguyễn Vy Khanh, Trần Doản Nho, Đỗ Hồng Ngọc, Phạm văn Nhàn, Nguyễn Khôi, Trần Hoài Thư


Trần Hoài Thư
Source : damau.org

Musashi, tiếng gầm sư tử trên cô phong đảnh và cuộc lữ miên trường

Musashi, tiếng gầm sư tử trên cô phong đảnh và cuộc lữ miên trường
Nguyễn Minh Vương

Khai đề
Đọc về Musashi đã là một ngộ nhận, viết về Musashi lại là một ngộ nhận lớn hơn. Bởi nếu cái tâm không lắng, khí không uy, thần không động, ta chẳng bao giờ có thể ngộ ra cái huyền âm diệu nghĩa, cái bất khả tư nghì thoái tàng ư mật dưới lớp vỏ ngôn ngữ khô cứng, lạnh lùng, héo hắt kia. Nói cách khác, nếu tâm thức ta không đồng, chân ngôn sẽ rơi tòm vào cái vũng lầy thuộc tầng ý thức lao xao loạn động, tựa những loài tôm tép sủi bọt lăn tăn trên mặt biển mà không biết cái thâm trầm ẩn mật sâu lắng trong lòng đại dương. Cho nên, trong nhà Phật người ta hay nói, Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan (cứ nghĩa đen mà giải nghĩa kinh thì oan cho ba đời chư Phật).

Tuy nhiên, nếu cứ chấp vào đó mà rụt rè sợ hãi, rúc đầu vào cái mu rùa tăm tối thì làm sao ta nghe được cái hoằng viễn cao thâm. Chân lý tuy vô ngôn ẩn áo chẳng thể nghĩ bàn, hễ cứ luận bàn là thực tại chìm vào sa mạc hoang liêu, nhưng chân lý cũng biến hóa kỳ ảo không lường, thị hiện ra theo từng cảnh giới tâm thức của chúng sinh mà phá trừ mầm mống của tham sân si, đồng thời dung nhiếp tất cả những sai biệt đa thù vào trong cái Nhất Như thù thắng. Lúc đó, cái thâm mật ẩn tàng thị hiện thành cái hiển lộ đa phương; cái không thể nghĩ bàn lại trở về xuất hoạt trên đầu ngón tay. Pháp tuy thâm diệu, Dịch tuy rỗng không, Đạo tuy rộng khắp… nhưng lại tùy từng cá nhân mà biến hóa thành trăm phương nghìn kế ảo diệu khôn lường để khắp tất cả chúng sinh, từ hòn đá, cành khô, cây cỏ cũng được hưởng phước huệ lan tỏa từ giọt nước cam lồ.

Cũng thế, dưới góc độ nào đó, ta thấy Musashi quả là một con người siêu việt, một bậc kiếm thánh tuyệt luân, một độc cô cầu bại mà phàm nhân chúng ta không thể với tới được. Nhưng nếu chúng ta dõi theo từng bước đi của ông trong cuộc lữ miên trường vượt qua bóng tối vô minh về đến bến bờ giải thoát thì mọi sinh vật trên thế gian này, từ con kiến đến người nông dân, đến các nhà bác học, đến các vị tu hành xuất thế đều có thể thấy Musashi chính là một nửa của đời mình. Một tác giả nào đó đã viết rằng : “Có lẽ không cần phải nói gì nhiều về Miyamoto Musashi. Nhưng thực sự là tôi không biết rằng có bao nhiêu người ở Việt Nam không biết về nhân vật này. Chỉ cần gõ cái tên này vào một công cụ tìm kiếm nào đó lập tức bạn sẽ nhận được hàng ngàn web site khác nhau viết về nhân vật này bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Có lẽ Miyamoto Musashi là kiếm khách vĩ đại nhất Nhật Bản qua mọi thời đại, nếu không muốn nói là trong phạm vi toàn cầu. Có lẽ đây cũng chính là kiếm sĩ của một nước được nhiều người nước khác biết đến nhất.”

Với truyền thống Đông phương thì Một là Tất Cả và Tất cả là Một. Cho nên, nếu chánh tâm thành ý từ đỉnh đầu đến gót chân trong một công việc, dù cho việc đó chỉ là những việc bình thường như ăn uống, ỉa đái, hít vào, thở ra, giao cấu, làm tình thì ta sẽ ngộ ra được tất cả mọi việc khác. Nói cách khác, một khi đạt được cực ý tối thắng thượng thừa của một công việc, ta sẽ thấu triệt được mọi vấn đề khác như trở lòng bàn tay. Không hẹn mà hò, Musashi cũng chỉ biết có cây kiếm mổ ruột móc gan làm bạn trong suốt cuộc đời, ấy thế mà ông lại thị hiện thành tám vạn bốn ngàn pháp môn trùng trùng điệp điệp phá đổ bức tường vô minh che phủ dấu bèo khiến cho con người mất hướng trở về Cố quận Nguyên thôn. Và từ một trong những pháp môn ấy, Musashi lại thị hiện về đây, trên từng dòng chữ này, để một lần nữa cất lên tiếng sư tử hống, cùng với những kiếm chiêu, lấy vô thế mà tấn công, lấy vô chiêu mà thủ thắng.

Tuy nhiên, cái khó để viết về ông là phải làm thế nào vén mở, khai quang và hiển lộ cái dũng khí hào hùng tinh tấn dũng mãnh trong từng sát na niệm tưởng của ông bằng ngôn từ biểu tượng hạn hẹp. Hơn nữa, có rất nhiều học giả cao minh đã nhiều lần luận bàn phân tích về ông, nên việc tìm ra cái tinh anh thâm mật của ông, nếu không được thực hiện với một tấm lòng khiêm hạ và học hỏi thì chẳng bao giờ có thể đồng thanh tương ứng với cái khí khái anh hùng hiên ngang bất thối chuyển của một con người luôn hướng về bến giác, luôn hướng về cái Nhất Như Thượng Thừa. Dù sao, người viết cũng thắp nén nhang, thành khẩn tụng niệm câu thần chú trong Bát nhã Tâm kinh Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha hầu mong anh linh Musashi một lần nữa thị hiện về tay cầm song kiếm, thi triển những tuyệt chiêu và chiến thắng chính mình. Chúng ta cùng nhau lần giở từng trang sách trong tiểu thuyết Miyamoto Musashi của nhà văn Eiji Yoshikawa do dịch giả Cung Vũ dịch.

1. Thời vô minh.

Mở đầu tác phẩm, văn hào Yoshikawa không đề cập đến tuổi thơ của Mushasi mà lại miêu tả ngay cảnh máu chảy thành sông, xác chất thành núi trong trận chiến ở Sekisahara. Giữa cảnh thê lương chết chóc và âm khí dường như bao trùm mặt đất đó, Takezo mở mắt, hồi tưởng về quá khứ xa xăm và tưởng mình đã trở thành người thiên cổ thì bỗng nghe có tiếng gọi của Mahatachi, thằng bạn chí thân, hắn mừng vô cùng vì biết chắc mình còn sống. Từ đây, hắn bắt đầu đi vào dòng đời bằng năng tính tham sống sợ chết của hắn.

Takezo ra đời vào năm 1584 tại tỉnh Mimasaka, cách Đông Kinh 40 dặm về phía Tây Nam. Thân phụ của là ông Munisai, trước đây là bộ thuộc của sứ quân Shinmen ở Iga. Cha hắn vốn là một kiếm sĩ ngang tàng, đầu đội trời chân đạp đất, trên hòn đảo lớn Kyushu dưới triều đại của Shogun Nobunaga. Chẳng hiểu sao mẹ hắn lại bỏ nhà ra đi ngay từ khi hắn còn nhỏ. Lên chín, vì nhớ mẹ, hắn bỏ trốn theo mẹ, nhưng cha hắn bắt về và cấm hắn không cho gặp mẹ. Thời gian sau, được tin mẹ chết, Takezo bỗng thay đổi tính tình, từ một đứa trẻ đa cảm thành một thằng bé hung dữ và lì lợm nhất làng. Khi hắn 12, 13 tuổi, hắn đã lên võ đài giết chết một kiếm khách khiến cho dân làng phải nể phục. Thời gian sau, người cha nghiêm khắc của hắn đã từng đánh đập hắn tàn nhẫn từ trần, hắn lại càng hung tợn và ghê gớm như một con mãnh thú hoang dại. Cũng nhờ có chị Ogin của hắn can thiệp, nếu không hắn đã bị đuổi ra khỏi làng từ lâu rồi.

Mười tám tuổi, hắn cũng muốn có chút danh gì với núi sông, nên rủ Mahatachi đăng lính. Chẳng may phe hắn lại thất bại, giờ sống sót, hắn cũng chẳng biết phải tính làm sao. Tuy nhiên, bản năng sống thúc đẩy hắn phải can đảm lên đường đi tìm lẽ sống nhưng phải tránh tai mắt của quan quân. Nhờ đó mà hắn gặp mẹ con Oko và thương tích trong người hắn được hai mẹ con chạy chữa bình phục. Để trả ơn và để sống còn, hắn đã đánh chết tên tướng cướp Tenma. Sau trận đấu đó, Mahatachi bỏ Takezo đi theo tiếng gọi ái tình của Oko, Takezo tức lắm, cảm thấy thương tiếc cho Otsu, cô vợ chưa cưới của Mahatachi ngày đêm mong mỏi ngóng chờ. Còn một mình, hắn tìm đường trở về làng, nhưng chẳng may hắn bị binh đoàn của Tokugawa đuổi bắt, hắn phá đường biên giới, giết cả những người samurai để mở đường máu mà thoát thân. Chuyện này kéo theo chuyện kia, khiến cho hắn cứ như con thiêu thân đâm đầu vào chỗ chết mà cứ nghĩ chỉ có làm như thế hắn mới được sống.

Tuy nhiên, hắn cảm thấy phải có bổn phận báo cho cụ Osugi biết rằng Mahatachi con cụ vẫn còn sống, hiện đang ở với Oko. Hắn quyết tâm trở lại gặp cụ nhưng không ngờ, bà cụ đáo để này đã lừa hắn vào buồng tắm bằng những lời dụ dỗ ngon ngọt hiền lành tựa lòng từ mẫu bao la cốt để bắt hắn nộp cho quan quân. Một lần nữa, hắn phải mở đường máu, xuống tay hạ thủ cả dân làng để thoát thân. Càng ngày, hắn càng gây ra nhiều cảnh chết chóc đến rợn người. Việc truy lùng hắn trở nên một việc cấp thiết và hệ trọng đến nỗi, quan binh phải huy động cả dân làng bỏ việc cày cấy sản xuất để tìm phương kế bắt hắn. Về phần Takezo, hắn như con thú dữ bị dồn vào tử địa nhe răng giơ vuốt sẵn sàng cắn xé bất cứ thế lực nào cản trở hắn sống còn.

Giữa lúc dân làng và quan binh vô kế khả thi, thiền sư Takuan cùng với Otsu lãnh trách nhiệm đi bắt Takero. Với nguyên lý lạt mềm buộc chặt, nhu nhược thắng cương cường, họ không đánh mà thắng, không đổ một giọt mồ hôi mà bắt Takezo mang về trình diện trước dân làng. Dân làng và quan binh đề nghị giết hắn để làm gương, nhưng lão sư không chịu, bắt treo lên cây tùng bách sau chùa Shippoji cho đến chết. Sự đời tưởng thế là xong, tiếng sáo của Otsu đã bắt được hắn lại chính là người leo lên cây tùng bách trong đêm mưa gió bão bùng để cứu hắn khỏi cái chết. Trong cái đêm ấy, hai kẻ đầu xanh bỏ làng ra đi, có điều lòng mỗi người mỗi khác, Otsu mong mỏi neo đời mình vào bờ vai Takezo, nhưng hắn thì lại có hoài vọng riêng cho mình nên không muốn ràng buộc ai. Hơn nữa, hắn phải cứu chị nên phải chia tay Otsu ngay tại cầu Hanada ngoại ô thành Himeji. Và cũng từ đó, phải mất mấy năm trời, họ mới gặp lại nhau.

Thuật lại một cách tỷ mỉ về những hành động dã man thú tính của Takezo không phải để hạ thấp hay phỉ báng hắn, nhưng là để cho chúng ta thấy cái năng tính tiềm tàng nơi mỗi con người, đồng thời cũng cho thấy rằng, Takezo cũng từ phân cứt bùn lầy mà nở đóa sen thơm lừng giữa khu rừng thiêng thánh đông phương đầy kỳ hoa dị thảo. Phải chăng con đường tiến tới thiên đàng buộc ta phải kinh qua địa ngục? Phải chăng muốn làm một hài nhi thơ bé bụ bẫm trinh trong buộc ta phải tắm mình trong những dòng kinh nguyệt nhớp nhúa hôi tanh? Phải chăng cây tùng cây bách, nó vươn cao chịu gió cuồng mưa loạn là nhờ bộ rễ bám sâu vào lòng đất tối tăm lạnh lùng? Chẳng biết từ bao giờ hai cái đối cực, hai cực đối nhau cứ huyền đồng xoắn xuýt, ấp ôm giao phối, áp má kề vai, mang thai ốm nghén rồi sản sinh tồn thể thị hiện khắp nẻo nhân gian. Cái lạ là hễ kẻ nào được gọi là thánh tăng, là bồ tát tỏa sáng khắp lục đạo thì y như rằng vị ấy mang trong mình cái âm chất lạnh toàn máu xương. Cái năng tính, cái âm chất ấy không chỉ thị hiện trong văn học tiểu thuyết mà ở thực tế đời thường, lịch sử cũng đã ghi lại cho ta những tấm gương chói sáng đó.

Với văn học, gần đây trên tạp chí Da Màu, tác giả Trần Thiện Huy đã cho ra đời một truyện ngắn mang tựa đề Cái Ác. Câu chuyện kể về một con người sống bằng nghề ăn trộm để nuôi hắn và một đứa trẻ thơ. Có thể nói rằng, hắn là một kẻ có cái tâm bất thối, không động đậy trước nguy cơ của tám ngọn cuồng phong thổi đến. Có như thế hắn mới ung dung tự tại lấy chiếc áo khoác của viên chức trên toa xe lửa mà lòng không móng khởi loạn tâm. Hay chăng chỉ khi nào làm việc ác với cái tâm bất động thì ta mới có thể làm việc lành mà không biết mình làm việc lành, nói cách khác là thi ân bất cầu báo sao? Trong cái kiếp sống giang hồ đó, nhiều lúc tên trộm cũng tự hỏi “tại sao mình lại chọn cuộc sống này, lại phải đấu tranh điên cuồng đến kiệt lực với tất cả mọi người, lại phải sợ hãi và gây sợ hãi?” Nhưng tất cả những câu trả lời đều rơi tõm vào hư vô sa mạc, chẳng có lời đáp nào khả dĩ lay chuyển được con người tên trộm. Điều tên trộm cảm thấy là sau khi cho đứa bé ăn và nhắm mắt ngủ ngon, hắn cũng yên lòng nhắm mắt, đánh một giấc dài tới sáng. Cũng thế, Takezo cũng tự vấn lương tâm mình trong những lúc sống chui sống nhủi tựa như con chó ghẻ giữa bãi tha ma. Takezo cũng chẳng hiểu tại sao mình lại hành động như vậy, hắn muốn làm người tốt, nhưng trời xui đất khiến, ma quỷ dẫn đường thế nào mà hắn luôn cảm thấy rằng nếu không giết họ, tất họ sẽ giết mình. Cứ thế hắn trầm mình xuống, cong người lên, phùng mang trợn mắt, giết giết giết… cho hết những kẻ cản đường hắn đi.

Hơn nữa, cái âm chất ấy cũng hiển lộ trong rất nhiều tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung. Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Tạ Tốn là hiện thân của cái năng tính, cái âm chất đến rợn người, khiến cho võ lâm một thời rơi vào cảnh máu chảy thành sông, xương chất đầy đồng, hận thù chồng chất, cao ngất trời không. Cuộc đời của Tạ Tốn là một con mãnh sư văn võ song toàn, nhưng định mệnh khiến xui giăng mắc khiến cho cuộc tồn sinh của lão Tạ phải gầm lên những tiếng bi hùng đau thương buốt lạnh cả một vùng thái hư. Định mệnh đó đã đẩy lão vào cảnh không đội trời chung với sư phụ Thành Khôn, người mà lão coi như cha ruột của mình, vì chính Thành Khôn đã bức hiếp vợ hiền và giết chết luôn đứa con duy nhất của lão. Giữa cơn thống hận phủ kín càn khôn đại địa và nhất là giữa cảnh hoang liêu tịch tĩnh trên Băng Hỏa đảo, Tạ Tốn trong cơn cuồng sát đã nghe thấy tiếng trẻ thơ cất lên giữ hiu quạnh hoang sơ. Chính cái anh nhi chi tâm ấy tựa cái im lặng sấm sét chẻ đôi tâm thứ hận thù ngàn năm của lão và từ đó Tạ Tốn trở thành người cha nuôi mà suốt đời Vô Kỵ thờ kính. Cũng thế, Takezo trong cơn quẫn bách, lòng sôi căm hờn, đói khát nhục thân, tái tê tồn thể đã không cưỡng được tiếng sáo du dương của Otsu và ngọn lửa ấm áp của thiền sư Takuan, nên hắn đã tự nguyện đưa tay chịu trói, phó mặc sinh mạng mà mới đây hắn điên cuồng bảo vệ cho vị thiền sư xa lạ.

Với đời thực, ngay ở nước Nhật, ni sư Satomi Myodo cũng là một mẫu gương cầu đạo với lòng tinh tấn dũng mãnh. Bà khinh khi cái truyền thống dâu hiền vợ thảo bao đời của người Nhật. Nhưng trên bước đường đời, mặc dù khinh bỉ coi thường những lời ong bướm, vậy mà bà lại thất thân với anh chàng sinh viên cùng lớp đã bao lần bị bà chối từ. Mang trong mình mặc cảm của kẻ không chồng mà chửa hoang, bà bỏ về quê sống trong tủi nhục với cha mẹ. Thời gian sau chàng sinh viên đó biết tin cũng về quê cưới bà và có thêm mụn con. Sự đời chẳng yên, bởi từ thâm sâu trong lòng, bà không muốn lập gia đình. Sau khi chồng bỏ về thành Tokyo vì bất đồng với cha, bà đem đứa con lên Tokyo để tiếp tục học đại học. Ở đây, bà phải vào nhà thương điên chữa trị vì bà không chịu nổi cảnh mẹ chồng bắt đi đứa con của bà. Ra khỏi nhà thương điên, bà đi làm đào kép, gặp một tên đầu đường xó chợ, bà rủ hắn đến tỉnh Nagoya và xây dựng một cuộc đời mới. Sống với hắn, bà ngày càng gắt gỏng, chẳng mấy khi hạnh phúc, nên lần mò làm việc cúng Phật lễ chùa. Chẳng thỏa mãn, bà tìm gặp một lão sư Thần đạo và quyết tâm tu học theo sự hướng dẫn của ông. Nhờ đó, bà tiếp xúc được với các linh hồn ở cõi âm và trở thành một cô đồng (Miko) nổi tiếng khắp vùng Hokkaido. Dù đã làm được rất nhiều việc ích lợi, nhưng tâm bà vẫn không an nhiên tự tại. Cuối cùng phải nhờ đến Thiền sư Bạch Vân, bà mới đạt được kiến tánh (Kendo) và trở thành ni sư lỗi lạc của thiền tông Nhật Bản.

Cái điểm căn cốt ở đây chính là sự phản kháng, sự nổi loạn của Satomi cũng như của Takezo trước những thói tục của đời thường. Họ luôn mang trong lòng ý thức vượt thoát những cái nhầy nhụa, cái hư vô, cái bầy đàn, cái nhạt nhẽo của đoàn lũ người. Cái khẩu khí của con mãnh sư thoái tàng ư mật trong cõi lòng họ chừng như lúc nào cũng muốn gầm thét cho rung chuyển núi rừng. Hơn thế nữa, nó còn biểu hiện rất rõ trong con người của vị thánh tăng Tây Tạng, từ một lưỡi tầm sét han gỉ trở thành một viên ngọc chói sáng khắp sáu nẻo luân hồi. Vị ấy chính là Jetsun Milarepa, hành giả Du-già lẫy lừng nhất xưa nay.

Sở hữu một quá khứ chất đầy hận thù, Milarepa đã làm cho dân làng, nhất là vợ chồng ông chú bà thím đã cướp gia tài của chàng phải thất điên bát đảo do những phù phép của chàng gây ra. Một trong những phù phép đó là chàng đã biến những con ngựa trong chuồng thành những con nhện độc, rắn hổ mang và bò cạp khổng lồ làm chị hầu bếp hoảng sợ thét lên. Những con ngựa sợ quá kéo sập ngôi nhà làm chết 35 thực khách. Thấy việc đó, mẹ chàng rất hoan hỉ cho rằng đây là hạnh phúc nhất đời bà. Còn ông chú và người trong làng tìm đủ mọi cách giết hại mẹ con chàng, nhưng không thành vì phần nhiều sợ huyền thuật của chàng. Sau đó, chàng tiếp tục học thêm huyền thuật và đã đặt linh phù niệm chú tạo ra một trận bão đá ầm ầm đổ xuống ruộng nương hoa màu đang độ gặt hái. Dù đã có phép thuật cao thâm, dù đã trả được mối thù di hận ngàn năm, nhưng sao Milarepa vẫn cứ thấy bất an. Ông kể : “Sự bất an là đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này. Nếu tôi ngồi, thì lại muốn đứng dậy đi lui đi tới. Nếu tôi đang đi thơ thẩn, thì lại muốn ngồi. Tôi bị mất ăn mất ngủ, nhưng dù thế nào đi nữa, tôi cũng không thể bày tỏ cho thầy nghe, mặc dù vẫn hầu hạ thầy nhưng tôi luôn luôn tìm cơ hội thuận tiện xin phép từ biệt ông để sống cuộc đời tu hành.” (Rechung, Milarepa Con Người Siêu Việt, dịch giả Đỗ Đình Đồng, tr. 27)

Tình cảnh khốn khổ bất an đó cũng đã từng dằn vặt hành hạ cho Takezo khi hắn sống như con thú trong rừng. Linh hồn máu xương của hắn còn hoang liêu cô quạnh hơn vạn lần tiếng than van của sa mạc điệp trùng. Nước và bóng dâm bây giờ trở thành lẽ sống của hắn. Tận cùng của tuyệt lộ, người ta sẽ trực kiến được đạo tâm. Người xưa cũng đã nói như thế : “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ, liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.” (Đi đến nước cùng non tận chỗ. Tự nhiên được báu chẳng về không). Cái năng tính, cái chất âm như những dòng máu tuôn trào phún thạch cuốn phăng đi hết tất cả những cái được xem là lũy sắt thành đồng, lâu đài thành quách của luân lý, đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo… đã rêu phong phủ khắp lối đi nẻo về của con Giun Tinh Thể. Từ đó, kẻ tài hoa sáng tạo ra độc đạo cho riêng hắn và chỉ mình hắn có thể vượt qua. Không thể có sáng tạo nếu ta hâm hẩm, hời hợi, yếu mềm. Sáng tạo chỉ xuất hoạt khi ta cứng rắn, lì lợm trèo lên núi cao vì tất cả những kẻ sáng tạo đều cứng rắn (Alle schaffenden aber sind hard)

2. Huyền nghĩa của cái ác

Trên đây, chúng ta đã lược sơ lại những hành động dã man đầy dục tính của Takezo và những nhân vật khác cả trong tiểu thuyết lẫn trong đời sống thường nhật. Tiếp đến, chúng ta thử tìm hiểu xem, tại sao những con người dã man, thú tính, dâm dục như thế mà lại có thể giác ngộ cảnh giới tối cao bất khả tư nghì. Do đó, truy tìm ý nghĩa ẩn sau những cảnh máu chảy đầu rơi, dục tình thác loạn như thế trong các vị chứng ngộ này quả là một việc không tưởng nếu người viết chưa một lần chết đi hoặc lần trải nghiệm cái sự ác đó. Vậy đâu là huyền nghĩa của cái ác?

Đối với tất cả tôn giáo cũng như luân thường đạo lý xã hội bình dân… tất cả đều mong mỏi diệt trừ cái ác, cổ xúy cái thiện. Cho nên, tất cả những thành quả lao động của con người, từ tay chân cho đến trí não đều mưu cầu cái thiện và tiêu trừ cái ác càng nhiều càng tốt. Thậm chí con người sẽ không nghỉ yên cho đến khi nào manh mối, bóng dáng của sự ác còn hiện hữu trên thế gian này. Có ai trong chúng ta không căm phẫn Thị Màu, Tú Bà, Sở Khanh, Lý Thông, Tào Thị, Trịnh Hâm…??? Có ai trong chúng ta lại không chạnh lòng, cảm thương rơi lệ cho số phận của Thị Kính, Thúy Kiều, Thạch Sanh, hai chị em Nghi Xuân và Tuấn Lực, Lục Vân Tiên…??? Tất cả những tình cảm đó đều được xã hội con người cho là tốt đẹp, là lẽ phải. Nó đúng với mọi thời đại, mọi quốc gia và mọi dân tộc. Satan, ác quỷ là cái mà ngay cả Thần Thánh cũng phải tuyên chiến diệt trừ, huống hồ là con người chúng ta, một sinh vật nhỏ bé, yếu đuối luôn bị ám ảnh mặc cảm bị thiến trước thế lực vô hình.

Cái tâm thức phân biệt nhị nguyên thần thiện thần ác, người tốt kẻ xấu đó lại đâm chồi nảy lộc, ăn sâu bám chắc vào tận tâm địa của hơn hai ngàn năm văn minh Tây Phương và hiện nay nó đang lan tràn khắp cả địa cầu. Tinh thần đó còn manh nha vượt không gian thời gian bay đến cung trăng, đến các giải thiên hà khác để tìm một Thượng Đế, Đấng vô cùng nhân thiện, hay thương xót con người. Cụ thể một phi hành gia sau khi trở về trái đất trong một chuyến du hành vũ trụ đã được hỏi rằng : Anh có thấy Thượng Đế không? Ý thức đó vô hình chung trở thành một con dao hai lưỡi quay lại cắt cổ chính con người chúng ta. Việc tồn tại một Thượng Đế hữu ngã không những được chính Đức Phật phủ định mà còn được khoa học, nhất là ngành vật lý lượng tử từ chối. Hơn thế nữa, niềm tin đó nếu không được các bậc minh sư hướng dẫn sẽ trở thành mù quáng, mê tín làm tổn hại quá trình tinh tấn của chính mình và di hại cho người khác.

Tuy nhiên, tiêu diệt cái tận ác, cổ súy cái tận thiện không phải là một việc mà phàm nhân hữu tình có thể làm được. Chỉ có những bậc thánh nhân mà thân tâm đã vượt thoát vòng luân hồi mới có thể thấu triệt được đâu là ác đâu là thiện và nhờ đó có thể điều phục, hóa giải, dung nhiếp cái ác thành cái thiện, cái giả thiện thành cái thiện chân.

Như thế, đâu là ý nghĩa của cái ác? Tại sao con người phải sợ hãi và phủ định nó nhiều đến thế?

Theo tín lý Kitô giáo, tội ác, nhất là tội giết người, là một trọng tội. Bất cứ ai phạm tội này đều phải sa địa ngục. Vì con người, cho dù họ có tệ hại, tàn ác, chó má đến đâu cũng đều là hình ảnh của Thiên Chúa, nên không được giết người với bất kỳ lý do gì. Trong mười điều răn của Kitô giáo, cấm giết người là giới răn đứng hàng thứ năm. Đức Giêsu còn nói : “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người. Ai giết người, thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì phải bị đưa ra trước thượng hội đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì phải bị lửa hỏa ngục thiêu đốt. Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5,21-22).

Còn theo Phật giáo, Đức Phật đã ví kiếp người quý hiếm đến nỗi tựa như con rùa mù ngàn năm mới nổi lên mặt nước giữa đại dương mênh mông một lần và còn phải chui đầu vào một cái vòng tròn lênh đênh vô định. Làm người trong Phật giáo thật chẳng có gì bằng. Hơn nữa, trong sáu nẻo luân hồi là Chư thiên (Tàvatimsa), Người (Manusoa), Atula (Asurayoni), Ngạ quỷ (Petayoni), Súc sinh (Tiracchanayoni) và Địa ngục (Niraya) thì cõi Người là nơi dễ tu tập giải thoát hơn tất các cõi kia. Bởi lẽ, cõi khổ thì u mê tăm tối triền phược liên miên bất tận đến nỗi rất ít có cơ hội thức tỉnh, còn cõi lạc thì quá sung sướng thoải mái nên ít nghĩ đến chuyện giải thoát. Chỉ có con người sống trong cảnh sướng khổ vui buồn đắp đổi đan bện cuống quýt chằng chịt lấy nhau, khiến cho ‘người ngoài cười nụ người trong khóc thầm’ hay như ‘nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào’ mới tìm cầu tinh tấn giải thoát.

Do vậy, giết người theo Kitô giáo là phá hoại công trình của Thượng Đế, nói khác là tiếm quyền tạo dựng của Thiên Chúa. Ai phạm tội giết người, tất sẽ bị phạt ở hỏa ngục. Đối với luật lệ của xã hội, bất cứ ai giết người cũng đều phải bị tù chung thân hoặc xử bắn. Luật giang hồ là một mạng đổi một mạng. Còn theo Phật giáo là tiêu diệt cơ hội ngàn năm, điệu kiện tốt nhất cho một chúng sinh thoát khỏi trầm luân khổ lụy trong lục đạo. Chính vì thế, Lạt Ma Dugpa, một vị tu chứng nổi tiếng ở Tây Tạng, mới cưỡng bức cô sơn nữ để giúp vong linh của một ông sư trụ trì ngôi chùa lớn, nhưng không lo tu hành tinh tấn mà ăn thiếu Tam đề, uống không Ngũ quán, không ý thức về sự vô thường, để giúp ông ta tái sinh vào cõi người.

Lạt Ma nói : “Vì lòng thương xót một kẻ tu hành ta mới rời động đá để cứu cho vị này đầu thai vào kiếp người, bởi thế ta mới hành động lỗ mãng như vậy.” (A. David Neel, Huyền Thuật Và Đạo Sĩ Tây Tạng, Nguyên Phong dịch, tr. 38).

Có điều, hình phạt của Phật giáo không sơ cứng như các tiêu chuẩn khác mà được giải thích bằng nguyên lý Nhân quả. ‘Ai gieo giống nào ắt sẽ gặp quả đó.’ (Tạp A hàm). Với nguyên lý Nghiệp báo, con người có bay lên trời hay lặn xuống biển khơi cũng không thoát khỏi nghiệp lực. Luồng nghiệp lực này sẽ tác động nên mỗi chúng sinh trong từng hành động của họ từ kiếp này đến kiếp khác. Đồng thời chính bản thân họ được hồi đáp đúng như những niệm tưởng và hành động của họ. Do đó, không có chuyện thay đổi điều này điều kia, cũng chẳng có chuyện phán xét thưởng phạt công minh từ quan tòa hay vị thẩm phán tối cao nào hết. Chỉ có nội tâm con người mới có đủ thẩm quyền và trách nhiệm phán xét chính mình.

Ngay từ thời niên thiếu, Takezo cũng mơ mộng thành một kiếm sĩ siêu quần bạt chúng hành hiệp dưới trướng một lãnh chúa nào đó để danh dự gia đình tông môn được hồi phục. Nhưng trong quá trình thực hiện cơn mơ đó, hắn bị lạc vào vòng xoáy vô minh. Sau trận Sekigahara, hắn bị ám ảnh bởi mặc cảm bị ruồng rẫy, bị săn đuổi như thú vật. Từ đó hắn chỉ biết chém giết để bảo vệ mạng sống của mình và đẩy hắn vào cái vòng luẩn quẩn hiếu sát hiếu sinh. Hắn không ý thức được sinh mạng là một cái gì đó vô cùng quý giá, là cơ hội duy nhất để giác ngộ mà hành động ngu xuẩn theo bản năng mọi rợ.

Cứ theo lẽ thường, những hành động ngu xuẩn đó đáng ra phải bị pháp luật trừng phạt. Nhưng không hiểu sao Takezo lại thoát chết dù viên đội trưởng đã bắt chị hắn để uy hiếp và huy động cả dân làng để bắt hắn. Việc này khiến ta liên tưởng tới Raskolnikov trong Tội Ác Và Trừng Phạt của Dostoievski. Từ lúc giết mụ chủ già cho đến lúc đi tự thú, không ai mảy may nghi ngờ Raskolnikov chính là hung thủ dù chàng có những biểu hiện vô cùng rõ nét. Và chính bản thân chàng cũng không hiểu tại sao mình lại giết người và phi tang một cách êm đẹp như thế.

Phải chăng Yoshikawa và Dostoievski đều cho rằng tất cả những thưởng phạt từ bên ngoài như pháp luật, luân lý, khen thưởng, tù đày, thiên đàng, hỏa ngục không những vô ích mà còn phản tác dụng. Bắt bớ, tù đày chỉ khiến cho kẻ phạm tội tự cho mình trắng án với xã hội và mơ tưởng trả thù lại những cái mà xã hội đã hành hạ nó. Nguyễn Hữu Hiệu đã viết : “Kẻ tội phạm nổi loạn chống lại xã hội, thù ghét xã hội sai lầm. Hình phạt mà xã hội bắt nó phải chịu chỉ khiến nó tự coi mình như kẻ đã được xá tội, trắng nợ với xã hội.”

Trải nghiệm này cũng được người viết kinh qua trong những dịp đi xưng tội trong Kitô giáo. Vì tin vào một Thượng Đế công bình thưởng phạt, nên giáo dân chỉ đến tòa giải tội để tìm an ủi bằng những lời khuyên bảo nhẹ nhàng của hàng giáo phẩm. Việc đó khiến cho kẻ tội nhân cảm thấy mình sạch tội một cách dễ dàng. Nếu như những hình phạt khổ sai chung thân là một thái cực rút tỉa nhựa sống con người và làm cho nó thêm lì lợm, chai cứng… thì những lời tha tội rẻ tiền lại là một thái cực khác dung túng cho những hành động tội ác. Tha tội một cách dễ dàng vô tình lại tạo ra một tâm lý phạm tội một cách dễ dàng. Cái vòng luẩn quẩn tha-phạm, phạm-tha đó dần dà trở thành một tấm bình phong, một chiếc phao cứu hộ để cho những kẻ lười biếng, dê cừu nương tựa, bu bám hút máu xương tinh thể ẩn tàng thâm mật của chính mình và người khác. Xưng tội chẳng khác gì con rắn tự cắn đuôi mình.

Hơn thế nữa, cái ý thức thấy mình sạch tội sau những lần xưng thú khiến con người thận trọng, ti tiện một cách hèn nhát. Chính cái sự thận trọng, ti tiện hèn nhát đó lại còn kinh tởm gớm giếc hơn những hành động tội ác. Paul Valery đã nói : “Thực ra, thà chúng ta làm điều ác còn hơn là tư tưởng một cách ti tiện nhỏ nhen.” Dù vậy, những kẻ mà đánh giá mình theo một bảng giá trị ngoại tại nào đó lại hay có ý tưởng mình là kẻ đức hạnh và có lòng xót thương cho những ai vi phạm bảng giá trị đó. Nhưng đối với Dostoievski thì họ chính là những kẻ nhầy nhụa bỉ ổi nhất. Ông nói qua nhân vật Raskolnikov: “Ôi những con người bản tính hèn hạ! Tình yêu của chúng giống hệt hận thù… Ôi! Tôi thù oán chúng.” (Tội Ác và Trừng Phạt, tr. 339). Osho cũng khẳng định : Tình yêu của chúng chỉ là mức độ căm thù giảm đi chút ít. Chẳng có cái gì gọi là tình yêu thực sự, tình yêu vén mở bức màn vô mình trong những kẻ đức hạnh như thế.

Thế thì đâu là phương thế khả dĩ giúp cho nhân vật của mình bất tử trong vòng thị phi hư thực? Vì cớ gì mà hầu như tất cả các thánh nhân, đặc biệt là đức Phật đều đặt nổi khía cạnh tự lực tinh tấn dũng mãnh trong tiến trình giải thoát? Chính Ðức Phật đã tuyên bố một lời vừa là một giáo lý răn dạy đệ tử, vừa là lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung, nên có những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình sau khi bậc Ðạo Sư viên tịch: “Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác …” (trích từ Thích Minh Châu, Hãy Tự Mình Thắp Ðuốc Lên Mà Ði.) J.Krishnamurti, một hành giả vĩ đại cũng đã nói : “Mỗi người phải được tự do để trở thành ánh sáng cho chính mình. Ánh sáng này không thể nhận được từ người khác, cũng không thể thắp lên bằng ngọn nến của người khác. Nếu bạn thắp bằng ngọn nến của người khác, nó chỉ là ngọn nến, nó có thể bị thổi tắt.” (J. Krishnamurti, Cuộc Đời và Tư Tưởng, tr. 1)

Với chiều hướng đó, Yoshikawa đã không để cho viên đội trưởng bắt được Takezo. Trái lại, giống như Dostoievski để cho Raskolnikov tự mình đi đầu thú, Yoshikawa cũng bắt nhân vật của mình buông đồ đao, hai tay quy hàng mà lần mò đến bên đống lửa của thiền sư và tiếng sáo của Oshu chịu tất cả hình phạt. Điều đó chứng tỏ rằng chỉ có sự trừng phạt của nội tâm của mình dành cho chính những việc mình làm mới có đủ khả năng hoán chuyển con người. Ngoài bản án tuyên bố từ tâm lòng, không có một phương thế ngoại tại nào khả dĩ giải thoát toàn triệt con người. Chỉ khi nào chính bản thân hắn tình nguyện chấp nhận án phạt, khi đó xã hội mới thực sự thoát khỏi những toan tính phá hoại của kẻ nổi loạn, điên khùng. Kim Ki Duk cũng xây dựng huyền nghĩa của sự ác trên nhân vật chú tiểu trong bộ phim Xuân Hạ Thu Đông. Sau khi giết vợ, chú tiểu trở về với sư phụ để trốn chạy nhà cầm quyền. Khi hai viên cảnh sát đến bắt, hắn điên cuồng cầm dao chống trả. Chỉ khi sư phụ nhắc hắn tiếp tục khắc xong bài Bát Nhã Tâm Kinh : Sắc bất thị không, không bất thị sắc, hắn mới đưa tay cho hai viên cảnh sát chịu trói. Nếu tinh ý, khán giả sẽ nhận thấy lời giải đáp của tác giả bộ phim khi quay cảnh hai viên cảnh sát dùng súng lục nhắm bắn lon beer đang nổi trên mặt nước. Họ là chuyên viên cảnh sát mà bắn hoài không trúng, trong khi thiền sư chỉ cần một cú ném duy nhất là hòn đá trúng ngay lon beer.

Nói tóm, chỉ có sức mạnh nội tâm mới có đủ công lực bắn phá tội ác. Dù hắn chưa bị tố cáo, chưa bị xét xử, chưa chịu hình phạt, nhưng những hình ảnh về những việc làm gớm guốc, bẩn thỉu, những hành động đổ máu biến thành những con dấu nung đỏ thích lên trán, dán vào mặt, in vào tay khiến cho kẻ nổi loạn sờ đâu cũng thấy máu, ngồi đâu cũng thấy thịt xương chất chồng, nằm đâu cũng thấy ánh mắt kinh hoàng của những nạn nhân trong lúc hấp hối. Những ám ảnh kinh hoàng đó nhiều đến nỗi hắn chẳng còn có một hơi thở nào an lành, thư thái cả. Từ đó, hắn cảm thấy toàn thể thế giới chung quanh đều xem hắn như kẻ tử thù. Nghe tiếng một con mèo đụng nhẹ chiếc lá khô, hắn cũng nghĩ rằng có người tấn công mình. Chính những bản án đó cưỡng ép kẻ nổi loạn, thúc ép hắn phải làm một cái gì đó để được an tâm, tịch tĩnh, nghe lại tiếng nói của mọi người và hòa mình vào đời sống của mọi người.

Tuy nhiên, cái cảm giác cô đơn hư vô trống rỗng len lỏi vào tận máu xương tinh thể vẫn chưa đủ mãnh lực để kẻ nổi loạn quyết tâm vượt thoát vòng luân hồi. Cần phải có thêm một sự khinh bỉ của những kẻ đức hạnh phỉ nhổ thêm vào tội ác của kẻ nổi loạn khiến cho hắn cùng đường bí lối. Cảm giác cô đơn mưng mủ, tấy sưng và nổ tung tựa cuồng phong bão tố khạc nhổ vào những ti tiện nhỏ nhen tầm thường của đám người đức hạnh hèn hạ, suốt ngày khom lưng cúi mình để mưu cầu những ích lợi nhỏ nhen. Zarathustra đã nói : Đức hạnh đích thực chính là những kẻ ngồi yên trong vũng sình lầy lội. Trong cái đầm lầy lội đó, kẻ tài hoa bị bùn lầy cứt đái ngấm vào da thịt, bị dế giun dòi bọ đục khoét máu xương. Tồn thể bị bức bách khôn nguôi, máu xương bị cày ải nát tan, người không ra người, quỷ không ra quỷ, ma không ra ma. Sự khủng hoảng tăm tối cô đơn buồn phiền tủi nhục đó không cho phép hắn dùng lý trí để toan tính giải thoát cho mình mà chỉ còn cách chấp nhận rồi từ đó vươn mình lên tựa như bông sen nở giữa mùi hôi tanh của bùn lầy. Á thánh Mạnh tử đã từng nói : “Trời sắp giáng đại mệnh cho ai, tất bắt người đó óc mỏi, gân nhừ, tim héo, phổi mòn, đủ chiều khốn khổ, bách chiết thiên ma, làm cho người đó động lòng đứng dậy mà lớn lao lên.”

Tiếp đến chúng ta thử xem Takezo đã vượt thoát bóng tối vô minh để cất tiếng sư tử hống trên cô phong đảnh như thế nào.

3. Thoái tàng ư mật

Khi đưa tay cho thiền sư Takuan trói, Takezo đã chấp nhận hồi đầu thị ngạn. Một sự chấp nhận định mệnh đã an bài cho mình. Sự chấp nhận đó dù được thôi thúc bởi mong muốn được thoát khỏi cuộc sống bị săn đuổi, căm ghét như con thú dữ, nhưng vẫn tàng chứa mong muốn được che chở, được thứ tha từ một quyền năng ngoại tại. Takezo đủ dũng khí để giết người nhưng hắn chưa đủ nghị lực để tự giết chính mình, tức là buông xả cuộc đời của mình vào dòng nghiệp lực rồi từ đó an nhiên tịch tĩnh đứng lên giữa cõi vô thường phù du hư huyễn trong từng sát na niệm tưởng của hắn. Hắn vẫn khinh mạng sống người và trọng mạng sống của mình. Hắn toan tính lợi dụng lòng từ bi của nhà sư để chạy tội với dân làng. Do đó, khi bị treo trên cây tùng bách sau chùa Shippoji, hắn đã nguyền rủa Takuan là đồ khẩu phật tâm xà, đồ giả nhân giả nghĩa, thằng đầu trọc hôi thúi… Cái năng tính một khi được sắp xếp bởi lý trí thì chỉ có thể dẫn đến trầm luân trôi nổi trong biển sinh tử đến vô lượng kiếp. Henry Miller đã nói : “Những kẻ tin vào sự toàn năng của công việc và của trí thông minh mãi mãi chỉ gặp những thất bại do những biến cố hư ảo khôn lường gây ra.”

Sau những toan tính thất bại, năng tính trong con người hắn lại nổi lên, hắn cong người vùng vẫy làm rung chuyển cả cây đại bách. Nhưng càng giẫy giụa, sợi dây càng xiết chặt. Trên bầu trời, dường như cũng phẫn uất, giận dữ trước những hành động điên rồ của hắn nên đổ mưa như trút, lại còn sấm chớp bão bùng kinh thiên động địa khiến cho cả đất trời vũ trụ càn khôn tăm tối mịt mù. Thêm vào đó, những lời mắng chửi của Takuan như những mũi dao khoét vào quả tim thương tích của hắn. Takuan nói : “Sự cuồng nộ của ngươi chỉ do lòng hung bạo mà ra, vì xúc cảm nhất thời mà có, không phải là sự phẫn nộ của người vì thấy điều bất bình mà giận dữ. Sự phẫn nộ chỉ đáng kể khi nó bắt nguồn từ một niềm bất mãn tinh thần. Giận những chuyện không đâu là cái giận của đàn bà, không giải quyết được gì hết !” Ông nói tiếp : “Giãy giụa bao nhiêu cũng chẳng làm cây gẫy được mà thế gian này đâu có sứt mẻ đi chút nào đâu?”

Thật vậy, tất cả những ý tưởng nổi loạn hay thăng tiến thế giới của một cá nhân nào đó đều chỉ là hoa đốm giữa trời không. Thành bại được mất có không đều giống như những bọt nước nhạt nhòa giữa lòng đại dương bao la. Mọi cố gắng nỗ lực đều chẳng thay đổi gì được hết. Thời Tam quốc là một giai đoạn vô cùng nhiễu nhương, đói khổ ở Trung Hoa. Con người chỉ có thể sống còn nếu hắn biết mánh mung, gian giảo, lợi dụng, thú tính, tiểu nhân. Trái lại, hắn chỉ làm mồi cho quạ tha thú đớp. Do đó, bao nhiêu sức lực trí tuệ của con người đều tập trung vào chém giết, hạ bệ lẫn nhau. Những cuộc chém giết đó nhiều đến nỗi đâu đâu cũng thấy xác người, đâu đâu cũng thấy mùi xú khí tử thi bốc lên nồng nặc. Thế nhưng sông vẫn chảy, nước vẫn trôi dầu có đầy xác thúi máu tươi, đầu có đầy ngạ quỷ lang thang. Dương Thận, đời nhà Minh, khi viết bài Lâm Giang Tiên cũng cho ta thấy tích chất hư ảo giữa những cảnh lồi da xáo thịt giữa cuộc đời. Tác giả viết như sau :

“Cổn cổn trường giang đông thệ thuỷ

Lãng hoa đào tận anh hùng

Thị phi thành bại chuyển đầu không

Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ tịch dương hồng

Bạch phát ngư tiều giang chử thượng

Quán khán thu nguyệt xuân phong

Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng

Cổ kim đa thiểu sự

Đô tiếu phó đàm trung.”

Hoa Sơn dịch :

Nước Trường Giang về đông chảy xiết

Sóng cuốn trôi đi hết anh hùng

Đúng sai thành bại hóa không

Thanh sơn một dãy hoài cùng tháng năm.

Trải mấy độ tà dương nguyệt khuyết

Bạc trắng ngư tiều, đảo trên sông

Gió trăng thu lại xuân nồng

Một bầu rượu đục tương phùng hỉ hoan

Xưa nay muôn sự hợp tan,

Không ngoài cuộc rượu nhân gian tiếu đàm.

(Nguồn: Hoa Sơn Trang)

Ý thức được cái hữu dũng vô mưu của mình, nói cách khác chính là cái sức mạnh của một con vật trong con người Musashi, hắn buông xả lòng mình xin nhà sư cứu mạng. Ngay khi hắn không còn toan tính để sống còn mà chấp nhận sợ những cái đáng sợ, thì nữ bồ tát Quán Thế Âm hóa thân Otsu hiện ra cứu hắn. Và không chỉ có Otsu, ở ngoại ô thành Himeji, lúc đứng trên cầu Hanada để tìm Otsu, hắn không ngờ bị Takuan kéo đi như thể bị thôi miên. Thật vậy, chỉ khi nào con người buông xả, chấp nhận để cho tồn thể của mình trôi theo dòng nghiệp lực, thì khi đó hắn sẽ được cứu thoát. Trái lại, dù có cố gằng vùng vẫy bơi ngược dòng, hắn cũng chẳng thể nào xoay chuyển được dòng nghiệp lực mà từ vô lượng kiếp hắn đã vay trả trả vay. Ân oán phân minh, hận thù minh bạch, hắn buộc phải chấp nhận để rồi từ đó vượt thoát biển tử sinh.

Theo Takuan về lâu đài Ikeda Terumasa, Takezo chấp nhận đổi tên thành Miyamoto Mushasi. Trong đó, Miyamoto là nơi Takezo sinh ra và Mushasi chính là Takezo phiên âm ra tiếng Hán. Chi tiết đổi tên này chỉ được diễn giảng vài dòng, nhưng nó có ý nghĩa vô cùng to lớn của một kiếp người. Đổi tên có nghĩa là tái sinh thành một con người mới và từ đó con người vô minh sẽ bước đi trong chánh đạo. Từ trước đến nay Takezo chỉ biết chém người khác thì việc đổi tên này chính là nhát kiếm đầu tiên mà hắn chém vào mình.

Với người Á Đông, tên họ dù không nói hết tính cách của một người nhưng lại là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xác định tính cách của một cá nhân. Kim Định viết : “Người thái cổ coi việc đặt tên là một điều tối quan trọng, đến nỗi tên của một người được coi là quyết định vận mạng của người đó…” (Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên, nxb An Tiêm, 1970, tr. 343). Ông giải thích nguyên nhân là vì mãnh lực ma thuật hoặc là vì họ thành tín bắt mỗi tiếng nói, mỗi danh từ phải diễn tả đúng cái bản chất đích thực của nó. Họ còn có cả một phái triết học gọi là Danh gia. Câu chuyện cổ tích Cây thì là cho ta thấy chỉ có Thượng Đế mới có đủ khả năng gọi tên sự vật. Cho nên ai gọi tên cái gì là có thể chinh phục được cái đó. Còn Nguyễn Công Trứ thì nói : “Hễ có thân thì phải có danh, thân đã có ắt danh âu phải có.” Có kẻ còn lưu danh hậu thế bằng cách đốt lâu đài rồi ra giữa chợ mà hô lên : Chính tao đã đốt lâu đài.

Thêm vào đó, trong các tôn giáo, người ta cũng thay đổi danh tính khi có ai đó muốn gia nhập. Với Kitô giáo, người ta đặt tên thánh như Giuse, Maria, Phêrô cho người gia nhập trong nghi thức lãnh bí tích rửa tội. Còn với Phật giáo, tất cả những ai đi tu đều đổi họ mình thành họ Thích, thay tên mình bằng một đặc tính nào đó mà hành giả muốn đạt đến như Chí Thiện, Nhất Hạnh… Như thế, thay tên đổi họ là một bước ngoặc quan trọng trong hành trình trở về Quê hương Cố quận, nơi thiên thu vạn kiếp trong ngần, nơi suối nguồn cơn mưa bát nhã, thấm vào tinh thể xương da, dẫn tàn hương khói lịch hành từ bi.

Trong chuyện Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân đã khéo léo vẽ lên chi tiết Hầu vương tôn Bồ Đề tổ sư làm thầy và được thầy đặt cho một cái tên mới là Tôn Hành Giả và pháp danh là Ngộ Không. Trong đó, Tôn tiếng Hán là 搎 (chiết tự ra là: khuyển 犬, tử 子 và hệ 系)và nếu ta bỏ con thú đi, tức chữ Khuyển, còn lại là Tử và Hệ thì Tử là con trai và Hệ là sợi tơ nhỏ (Theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh). Như thế chữ Tôn nghĩa là thằng nhỏ, Tôn Hành Giả là người lên đường trở thành thằng nhỏ. (Xem thêm Lê Anh Dũng, Giải Mã Truyện Tây Du, nxb Thanh Niên, 2006). Điều này rất phù hợp với đường lối của các tôn giáo như trong Kitô giáo, Đức Giêsu nói : “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào.” (Mc 10, 14-15. Bản dịch Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, 1994). Với Lão giáo, Lão Tử nói : “Phục quy ư anh nhi.” (Trở về trẻ thơ), (Lão Tử, Đạo Đức Kinh, dg Thu Giang Nguyễn Duy Cần, tr 148) hay còn gọi là Anh nhi chi tâm, xích tử chi tâm. Còn với Phật giáo thì chính là Khổ ải vô biên, Hồi đầu thị ngạn (quay đầu là bờ). Như thế, tất cả các tôn giáo đều muốn tín đồ luôn quay lại mình, nhớ mình, đừng chạy theo cảnh. Nếu nhớ mình là tỉnh, thì chạy theo cảnh là mê. Con đường về bến giác không có gì khó, mà khó ở chỗ tại chúng ta quên mình. Giờ đây tỉnh lại, biết quay về mình, đó là xoay về bờ giác.

Trong các tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung, chúng ta đều thấy một mô típ chung của sự trở về này. Anh hùng của Kim Dung không phải là kẻ đánh đâu thắng đó, cứ hễ xuất chiêu là máu chảy đầu rơi; mà là kẻ không cha không mẹ, không quê không quán, lại còn bị giang hồ thị phi đẩy vào đường cùng hang sói, khiến cho kẻ anh hùng thất điên bát đảo, chẳng biết đâu thị phi phải trái, đâu là việc nên làm hay không nên làm. Quách Tĩnh trong Anh Hùng Xạ Điêu cũng là kẻ mồ côi cha từ nhỏ, hai mẹ con phải lang thang phiêu bạt ở thảo nguyên của Thành Cát Tư Hãn. Dương Quá thì bị mất cha ngay từ khi còn trong bụng của Mục Niệm Từ và khi chào đời thì người mẹ cũng thành công dân của thế giới bên kia. Đã thế, cha của Dương Quá lại là một kẻ tham phú phụ bần đến nỗi làm những việc trời không dung đất không tha.

Đến Ỷ Thiên Đồ Long Ký (Cô Gái Đồ Long) thì ta thấy rõ cái đặc tính phản bổn hoàn nguyên, quy căn viết tĩnh, hồi đầu thị ngạn của Kim Dung. Mở đầu là cảnh một Minh Giáo chia năm xẻ bảy, mạnh ai nấy sống mạnh ai nấy làm sau cái chết của Giáo Chủ. Nhưng đến cuối bộ phim, tác giả đã tái tạo xây dựng lại toàn bộ bộ sậu của Minh giáo gồm : Giáo chủ, Quang Minh sứ giả (tả và hữu), Tứ Đại Pháp Vương, Ngũ tảng nhân, Ngũ Hành Kỳ chủ, Giáo chúng.

Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ cũng là kẻ mồ côi được vợ chồng Nhạc Bất Quần đem về nuôi dưỡng.

Rõ ràng nhất trong tất cả tác phẩm của Kim Dung về sự trở về tìm kiếm Quê hương cố quận của mình chính là Thiên Long Bát bộ. Với ba nhân vật chính là Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc thì chẳng ai có được một tuổi thơ êm đềm. Bước vào giang hồ gió tanh mưa máu, thị phi lẫn lộn, Tiêu Phong là người thiệt thòi nhất vì mang dòng máu Liêu lại lớn khôn ở Hán mà chính chàng cũng không biết. Còn Hư Trúc lại là kết cả một mối tình thầm kín giữa phương trượng Thiếu Lâm danh trấn giang hồ và Diệp Nhị Nương, một trong Tứ đại ác nhân. Tưởng chỉ có mỗi Đoàn Dự là may phước có cha có mẹ thì đến cuối chuyện, chàng mới biết Đoàn Chính Thuần không phải là cha ruột mà chính Đoàn Diên Khánh, lão đại ma đầu ác nhân mới là cha ruột của chàng.

Trở lại việc đổi tên của Takezo, có lẽ tác giả cũng muốn cho độc giả thấy rằng việc Takezo đổi tên thành Miyamoto Musashi cũng không đi ra ngoài ý tưởng hồi đầu thị ngạn, phản bổn hoàn nguyên, quy căn viết tĩnh, anh nhi chi tâm của đạo học và huyền nghĩa đi tìm nguồn cội của các anh hùng trong truyện Kim Dung. Miyamoto chính là quê hương của hắn, còn Musashi mặc dù không có nghĩa chiết tự như Tôn Hành Giả nhưng nếu cưỡng từ đoạt lý mà đọc theo âm Hán Việt thì sẽ thành ra là Vũ Tàng. ‘Tàng’ ở đây lại có nghĩa là thoái tàng ư mật, trở về cái tâm tĩnh lặng rỗng không của mình. Hơn nữa, hắn còn được đưa vào lâu đài bỏ hoang của dòng họ hắn để tồn tâm dưỡng tánh. Trở về nhà còn hàm nghĩa là trở về cái bổn lai diện mục, cái anh nhi chi tâm của mình để từ đó đủ sức vươn lên khỏi bóng tối vô minh bấy lâu che phủ khắp máu xương da thịt.

Như thế, chỉ một chi tiết nhỏ qua việc đặt tên,Yoshikawa đã nói lên được cả truyền thống đạo học của Đông phương. Cái truyền thống đó đã làm cho nền đạo học của Đông Phương sinh ra những vị thánh tăng siêu thoát chói sáng khắp cả sáu cõi lục địa. Osho cho rằng : Tôn giáo ở Đông phương là một ông già, còn ở Tây phương tôn giáo chỉ là đứa trẻ con. Từ đây, Musashi phải chấp nhận một cuộc tái sinh, lòng mẹ sinh thể xác hắn, thạch thất này sinh ra tâm hồn hắn. Takuan nói với hắn : “Ngươi hãy coi căn thạch thất này như bụng mẹ và hãy chuẩn bị tái sinh. Nếu ngươi coi nó bằng mắt thì đây chỉ là một căn phòng tầm thường, trống rỗng, tối tăm ; nhưng nếu ngươi coi nó bằng trí óc rồi để tâm phán đoán, suy xét thì phòng này chính là con thuyền đại giác đưa ngươi tới ánh chân quang.”

4. Hành trình trở về chính mình

Takezo bắt đầu cuộc hành trình đi tìm cái mình đã biết, tức cái bổn lai diện mục thoái tàng ư mật mà từ vô lượng kiếp trôi lăn trong biển tử sinh, hắn không nhận chân được gốc gác, suối nguồn của nó. Trên con đường này, những kẻ yếu đuối cả về thể xác lẫn tinh thần khó có thể về đến đích và bắt buộc hành giả phải độc hành, không bè không bạn, không thầy không sư, không kinh không sách. Con đường đó là con đường vô lối, vô phương, vô hướng. Cái mà muốn đạt được lại là cái không tên không tuổi, không có số nhà, tên phường, thành phố, quốc gia. Cái ấy nó không ở dưới biển sâu, không ở trên mặt đất và cũng chẳng ở trên trời cao. Nói ở trong lòng mình cũng là cách nói cưỡng bức bạo hành. Bắt cái vô hình phải tượng hình, bắt cái vô thanh phải tượng thanh chỉ khiến cho cái vô hình vô thanh điêu linh hoang phế. Càng lên kế hoạch chi tiết như tấm bản đồ, hành giả càng đi xa cái bất khả tư nghì.

Chính vì thế mà Musashi không chịu đầu quân cho Ikeda Terumasa, nhưng chàng quyết định chọn con đường đao kiếm để về nẻo giác. Con đường này đòi hỏi phải cô đơn cho đến tận cùng, phải tỉnh thức trong từng sát na niệm tưởng, bởi nếu không tỉnh thức, hành giả có thể bỏ mạng và đánh mất cơ may giác ngộ trong kiếp người hiếm hoi này. Cuộc sống của kiếm sĩ là một kiếp sống giang hồ phiêu bạt, ban ngày thì đầu đội trời chân đạp đất, ban đêm thì đất làm chiếu và bầu trời đầy sao làm mùng. Suốt đời suốt kiếp chỉ có cây kiếm làm bạn, đến nỗi ăn cũng kiếm, ngủ cũng kiếm, đái cũng kiếm, ỉa cũng kiếm và chết cũng kiếm.

Thế nhưng, đã trở về rồi sao còn lại phải ra đi? Quay đầu là bờ rồi, bến giác đã nằm gọn trong âm ba tinh thể máu xương phiêu bồng, còn gắng gượng ra đi làm chi răng rứa, rửa tay gác kiếm, xuất thế tiêu diêu, thưởng hoa ngoại cảnh có phải hơn không? Không thể thế được, con đường tâm linh là con đường vô phương vô hướng vô giới hạn, có khi phải trải qua vô lượng kiếp, hành giả mới có thể chứng đắc được cái Bát Nhã, cái Tính Không. Ngay như Đức Phật, vị tôn sư của sáu cõi và của muôn loài, Ngài cũng còn phải trải qua nhiều tìm kiếm mới đạt được chánh đẳng chánh giác, huống hồ phàm nhân chúng ta.

Hơn thế nữa, sự trở về chỉ thực sự là trở về khi trở về cả sự trở về, cho đến khi nào không còn một sát na niệm tưởng của sự trở về thì khi đó sự trở về mới mở phơi chân lý. Chính vì vậy, Musashi phải tiếp tục ra đi, ra đi cho đến khi nào ra đi luôn cả sự ra đi, thì lúc ấy sự ra đi chính là sự trở về và sự trở về hóa thân thành sự ra đi. Nhà thiền nói : trước khi học thiền thì thấy sông là sông, núi là núi ; đến khi mới học thiền thì thấy sông không còn là sông, núi không còn là núi ; và khi giác ngộ thì sông lại chỉ là sông và núi lại chỉ là núi. Đó cũng chính là cái bình thường tâm Nam Tuyền Phổ Nguyện đáp lại câu hỏi của Triệu Châu : Thế nào là đạo (như hà thị đạo). Nói cho cùng, trở về và ra đi cũng chỉ là lông rùa sừng thỏ, là mộng huyễn bào ảnh, là mây trắng lang thang, là chuồn chuồn gãy cánh, là trùng sinh nhập diệu, là hoàng hôn bên nớ và là triêu dương bên ni. Ấy chính là sự ra đi vào hố thẳm, sự ra đi bất khả tư nghì, ra đi sự ra đi trong cả sự ra đi…

Kẻ lữ thứ từ đây đã chọn cho mình con đường Kiếm đạo để ra đi vượt qua chiếc cầu sinh tử. Chiếc cầu ấy chỉ được làm bằng một sợi tóc bắc ngang qua không biết cơ man nào là núi cao, biển rộng, sông sâu, vực thẳm, sa mạc, cô đơn, lạnh lẽo thấm vào tận cùng máu huyết luân lưu dịch chuyển bất tận. Muốn đi trên chiếc cầu đó, hành giả còn mỗi cách nhảy bằng một chân, biểu tượng của Bất Nhị, tựa như chiếc hài độc nhất của tổ Bồ Đề Đạt Ma hành trình về phía Hy Mã Lạp Sơn sau khi được chôn cất ở Trung Hoa. Như thế, chỉ cần một sát na vọng động, cành hư vô sẽ mọc đầy trái đắng, kẻ đăng trình hóa mộ địa điêu linh, ảo tưởng mình nhập lưu dòng Bất Nhị, bão vô minh phỉ nhổ vào máu xương, in hằn vào thăm thẳm vực linh hồn, nọc độc của những con rắn lục là tâm ý thức nhị nguyên sẽ tiêm chích vào tinh thể làm chai lỳ, bạc nhược, ung thối tinh thần tinh tấn giải thoát của hành giả. Và từ khô cằn sỏi đá, Chân Như không còn biết nương theo khe nứt mà nở giữa dòng đời đầy phiền não một Đóa Vô Ưu.

Chính vì thế mà Takuan đã cảnh báo trước lúc hai người chia tay : “Miyamoto Musashi ! Đường con đi không phải là không có trở ngại. Phải cẩn thận mới được!” Tuy nhiên, Musashi đã tự nhủ lòng mình : “Ta sẽ tuân theo kỷ luật, coi thanh kiếm này như chính hồn ta, tu tỉnh thành người khôn ngoan và lương thiện. Takuan theo thiền đạo, còn ta theo kiếm đạo, chưa chắc ai đã hơn ai. Ta còn trẻ, đâu đã lấy gì làm trễ !”

Trong khuôn khổ bài này, người viết chỉ đề cập đến hai vực thẳm mà Musashi phải vượt qua. Cái thứ nhất là Đàn bà, sự trói buộc hay giải thoát và cái thứ hai là Kiếm thiền nhất như.

4.1. Đàn bà, hệ lụy hay giải thoát.

Sau ba năm sống cách biệt với cõi trần, Musashi cảm thấy rất ngỡ ngàng trước cuộc sống thăng trầm biến dịch. Đang còn phân vân chưa biết phải làm gì trước trên con đường đao kiếm giang hồ thì Otsu hiện ra lộng lẫy như một vị bồ tát. Nàng đã nói là chờ đợi chàng ở cây cầu Hanada này cho đến hết kiếp mới thôi và nàng đã giữ lời. Suốt ba năm qua, nàng đã tìm công việc ở gần đây để ngày nào cũng ngóng đợi chàng. Giờ gặp mặt nàng mừng xiết bao. Nhưng niềm vui hội chưa trọn thì Musashi đã từ chối không cho nàng cúc cung phụng sự chàng. Điều ấy khiến Otsu tan nát con tim. Có lẽ đây là một trong những chướng ngại khó khăn nhất trên con đường giải thoát. Hơn nữa, Otsu lại là một đóa hoa tài sắc vẹn toàn, công dung ngôn hạnh, cõi lòng từ bi hỉ xả của nàng có thể dung nhiếp khắp cả càn khôn đại địa. Sở hữu được nàng là ước mơ của không biết bao nhiêu đàn ông trên thế gian này. Thế mà Musashi vẫn một mực từ chối không cho nàng theo chỉ vì lý do gian lao khổ cực dày đây mai đó trên con đường của chàng.

Lý giải cho quyết định này không phải là việc dễ dàng gì khi mà Freud đã cho rằng con người đều bị chi phối bởi dục tính. Nhưng tựu chung, chúng ta cũng có thể hiểu được rằng khi một ai đó đam mê bất tận vào một mục đích nào đó, tự nhiên nhu cầu giới tính của họ không còn cần tới. Hay nói cách khác là năng lượng tiêu hao cho nhu cầu tính dục giờ được hoán chuyển vào mục đích nghệ thuật hay tâm linh. Truyền thuyết Ấn Độ kể lại rằng có một nhà huyền môn đã lấy vợ, nhưng suốt 20 năm trời, ông ta hoàn toàn không ý thức được sự hiện diện của vợ mình. Nhưng trong suốt thời gian đó, người vợ vẫn cúc cung tận tụy, sớm tối hầu hạ cho chồng từng miếng ăn từng giấc ngủ. Đến khi ông ta viết xong quyển sách mà bao nhiêu năm ông thai nghén, ông mới nhận ra có người trong nhà mình. Ông ta nói : “Cô là ai?” Bà trả lời : “Em là vợ anh mà bấy lâu nay anh không biết sao?” “Ồ! thật thế sao! Bao nhiêu năm qua sao em không nói?”

Về số phận của phụ nữ, có thể nói rằng từ khi loài người có tôn giáo tổ chức, số phận của họ trở nên mong manh như sợi tóc. Osho nói : “Tất cả mọi thứ tôn giáo đều e sợ đàn bà vì tất cả tôn giáo đều sợ tình dục.” (Osho, Đàn Bà Tình Yêu Và Tự Do, tr 81). Một tôn giáo tôn thờ Thiên Chúa vô cùng yêu thương nhân loại như Kitô giáo thì lại cho đàn bà là kẻ không có linh hồn chỉ vì đàn bà đã nghe lời xúi dục của Satan trong vườn Địa đàng. Xa hơn nữa, Thiên Chúa của Kitô giáo là giống đực, nên Ngài cũng có đủ đầy thành kiến của một người đàn ông. Có lẽ vì thế mà Ngài đã tạo dựng người đàn ông trước rồi mới lấy cái xương sườn của hắn mà tạo ra đàn bà. Óc kỳ thị phụ nữ đó ám ảnh nhiều đến nỗi ngay trong quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi (Trinité), không có ngôi nào là giống cái, tất cả ba ngôi đều là đàn ông, ăn nằm với nhau rồi sinh ra nhau. Chúa Cha yêu Chúa con đến nỗi nhiệm xuất ra Chúa Thánh Thần. Nên Chúa Thánh Thần là biểu tượng của tình yêu. Đó là cách diễn tả về Ba Ngôi của Kitô giáo. Osho nói : Việc đó giống y hệt như một câu lạc bộ đồng tính.

Trở về trời đông, phụ nữ ở Trung Hoa cũng không thoát khỏi số phận. Ảnh hưởng của Hán Nho đã khiến phụ nữ trở thành một trong những món hàng có thể mang đấu giá để gả bán. Chế độ đa thê đã biến phụ nữ thành một cái máy đẻ, một món đồ thoả mãn dục tính cho đàn ông. Vì thế mà ngày xưa, không có luật nào cấm người chồng giết vợ. Tục cưới vợ cho Hà Bá để ngài khỏi dâng nước sông Chương Hà lên gây lụt lội cho thấy phụ nữ chỉ là một con thú vật cho bọn đàn ông lợi dụng từ bao đời bao kiếp. Ôi khốn thay cho thân phận nhi nữ thường tình, đầu thai lỡ kiếp tóc dài đa đoan.

Tín đồ đạo Jain thì tin rằng không có người nào được giải thoát lại mang thân xác đàn bà, chỉ có đàn ông mới được vào cảnh giới tối cao (moksha). Phụ nữ nào muốn tu tập giải thoát, thì buộc phải tái sinh thành đàn ông. Còn Kinh Côran thì cho phép nam tín đồ của mình lấy 4 vợ, nhưng ngược lại đàn bà thì không được làm thế. Họ không được vào đền thờ Hồi giáo mà phải cầu kinh ở bên ngoài. Ngay như Đức Phật, lúc đầu Ngài không nhận nữ giới vào tăng đoàn. Nhưng vì tôn giả Anan cầu khẩn mãi, Đức Phật mới cho họ thành lập ni chúng.

Trở lại chi tiết Mushashi từ chối lời van xin của Otsu, chúng ta thử xem Mushashi có phải là người ‘lệnh ông át cồng bà’, là kẻ trọng nam khinh nữ theo chủ nghĩa bái vật Hà vu hay các tôn giáo kể trên không?

Trước hết, ta thấy chiến tích suốt thời thơ ấu Mushashi là quậy phá, lì lợm, đánh nhau, đấu kiếm và đã đôi ba lần thượng đài hạ gục đấu sĩ Samurai. Mãi đến khi thất trận và lẩn trốn quan binh truy lùng, Mushashi mới được tiếp xúc với đàn bà. Lần đó góa phụ Oko lả lơi ham muốn tư tình với chàng, nhưng bị chàng cự tuyệt dữ dội. Chàng sợ hãi đến nỗi tim đập loạn xạ. Yoshikawa đã mô tả như sau : “Hai hàm răng đánh vào nhau lập cập, chân mềm như bún, Takezo kinh sợ quá chừng ! Chưa bao giờ hắn gặp một địch thủ ghê gớm đến thế ! Cả lúc nhìn đoàn người ngựa chạy rầm rầm trên bãi hoang còn tanh mùi máu ở Sekigahara, tim hắn cũng không đập loạn đến thế !”

Lần thứ hai, Mushashi phải đối diện với nữ bồ tát Otsu, lần này không phải là mùi hương nồng ấm tỏa ra từ mái tóc hay bàn tay vuốt ve âu yếm, nhưng lại là lời cầu xin chân tình tha thiết của một thiếu nữ vừa là một trang tuyệt sắc mang một tâm hồn trinh khiết nguyên sơ, vừa là đại ân nhân cứu mạng mình khỏi sự trừng phạt của dân làng. Lời cầu xin đó oái ăm thay không phải là lời xin đặc ân cho riêng nàng, mà lại là lời nguyện cầu được mang đặc ân đến hầu hạ chàng dù phải trải qua trăm ngàn đắng cay gian khổ. Người xưa đã từng nói : Anh hùng mấy ai qua được ải mỹ nhân. Ấy là chưa kể mỹ nhân ấy đã tự nguyện hiến dâng trọn vẹn tinh thể máu xương cho mình. Đúng là phúc bất trùng lai họa vô đơn chí. Gặp cảnh này, dù đã tu luyện ba năm trời, nhưng chàng không biết xử trí ra sao.

Thật vậy, nếu bỏ đi thì quả thật chàng là một kẻ nhẫn tâm, bởi Otsu khi nhỏ đã chịu cảnh côi cút, không cha không mẹ, lớn lên, vị hôn phu bỏ đi, bây giờ lại gặp cảnh này, nàng uất hận nấc lên tức tưởi; nhưng nếu mang theo Otsu thì chẳng khác gì thằng bé bám váy mẹ. Mushashi chân thành thổ lộ : “Ta vừa trở nên một người khác. Đã ba năm nay bị giam trong thạch thất tối tăm, chỉ đọc sách, ta đã khóc cho thân thế, đã hối hận biết bao nhiêu nhưng cũng đã tìm thấy ánh sáng. Ta mang họ mới: Miyamoto, tên là Musashi mà chưa đạt nên phải cố. Ta muốn dành tất cả thì giờ trong đời để tập nên người toàn thiện, không màng lạc thú gì khác. Nếu nàng theo ta, nàng sẽ không bao giờ có hạnh phúc, chỉ có thử thách và khổ đau. Rồi cùng với thời gian, tuổi tác, khổ đau càng thêm chồng chất …”

Thế nhưng Otsu vẫn một mực xin theo. Tấm lòng của nương tử Otsu đằm thắm, dịu dàng và chung thủy hết mực giữa vòng ma nghiệt quỷ khốc thần sầu của tồn hoạt bể dâu khiến cho chàng chỉ còn biết câm lặng tan chảy con tim dũng mãnh theo dòng nước lơ thơ dưới chân cầu Hanada. Yoshikawa đã mô tả tâm trạng của Mushashi lúc đó như sau : “Bây giờ là lúc hắn có thể bỏ đi dễ dàng, nhưng sao chân hắn vẫn dính chặt xuống đất, lưu luyến như bị đôi má lúm đồng tiền và giọng nói van lơn giữ lại. Con người mới duyên dáng và dễ mến làm sao !” Chẳng còn cách nào khác, chàng phải lưu lại tuyệt bút trên thành cầu và câm lặng ra đi : “Tha lỗi cho ta, tha lỗi cho ta !”

Sau lần chia tay đó, Otsu vẫn một buồng riêng riêng những sụt sùi, hoa đời có nát có vùi bể dâu, má hồng hoang lạnh đêm thâu, nguyện mong trọn kiếp bạc đầu thủy chung. Chẳng hiểu Yoshikawa khéo bày hay Con Tạo trớ trêu, định mệnh ngang trái bày đặt mắc giăng, khiến cho nương tử má hồng, nghìn dặm quan san mỏi ngóng trông, tương phùng hội ngộ trong hư huyễn, hoang vu thị hiện khắp càn khôn. Cứ mỗi lần tưởng gặp được chàng, là mỗi lần ngàn trùng cách xa, để rồi mãi đến 10 năm sau, trước trận đấu sinh tử sống còn với Kojiro, nàng mới được hạnh ngộ với chàng. Phút hạnh ngộ triền miên bất tuyệt, cọ mài bên bờ mép tinh anh, buổi sơ nguyên quy hồi tuyết nguyệt, là biền biệt mai này xa xăm.

Lần thứ ba, Mushashi phải đối diện với một nghịch cảnh mà người đương thời, kể cả quan quyền lẫn thứ dân, đều mơ được một lần, lần khân bên nương tử, sắc tài ngút ngàn thu. Đó chính là cuộc hội ngộ tại tư dinh của danh kỹ đất thần kinh Yoshino. Việc được nàng mời riêng về tư thất là một việc xưa nay chưa từng có cho dù đó là công hầu khanh tướng, võng lọng cao sang. Và việc ngỡ ngàng hơn nữa khi chính nàng nằng nặc đòi giữ một mình Mushashi ở lại. Ngay cả hai người danh gia vọng tộc là Haiya Shoyu và Mitsuhiro cũng cười ghen tị với chàng : “Musashi ! Ngươi là người có diễm phúc nhất Kyoto này đấy !”

Cái đêm chỉ có hai người đó, ngoài trời tuyết lạnh đông cứng, vạn vật rét cóng tê chân, thì trong nhà, mặc dầu ngọn lửa cất cao, chàng vẫn ngồi yên như khúc gỗ, bất kể những lời mời mọc lại gần lò sưởi ấm của nàng Yoshino. Cái đêm đó cũng là đêm chàng vừa mới hạ Denshichiro, một đại cao thủ của phái Yoshioka và tạo nên một mối thù sinh tử truyền kiếp với toàn bộ đồ chúng của môn phái Yoshioka. Vì thế, Mushashi căng thẳng tột cùng, đến nỗi từng mảng tuyết trên mái nhà rơi xuống làm chàng cứ ngỡ là bước chân của kẻ định đang tập kích tấn công mình. “Mỗi lần có tiếng động như thế, thần kinh hắn lại căng thẳng, các chân tóc dựng đứng.”

Thấy thái độ căng thẳng quá mức của chàng, Yoshino mượn cái tâm cây đàn là miếng gỗ cong và hai đầu để lơi cho rung động tự do để giúp chàng ý thức được thực tế mà chàng đang phải đối diện. Trong những lúc nguy hiểm luôn rình rập quanh mình, không phải lúc nào cũng chăm chú căng thẳng vào đối phương mới có thể thoát chết. Nhưng cái tâm nên được thư giãn sau mỗi lần tập trung quá độ. Nàng nói : “Tâm trí con người cũng thế, phải mềm dẻo thích nghi. Sau mỗi khi căng thẳng, hãy để cho lòng thoải mái. Cứng quá thì gãy.” Lời nói của Yoshino tựa như câu nói của Hoài Nhượng khai ngộ cho Mã Tổ. Câu nói ấy chính là : “Ngồi thiền làm sao thành phật được?” Cũng thế, để giết được địch thủ, căng thẳng quá mức không phải là tuyệt chiêu, thậm chí nó còn phản tác dụng. Cương không thể thiếu nhu, nhu rất cần đến cương, đó là nguyên lý tối hậu, nhưng nếu không biết khôn ngoan áp dụng, ta sẽ chẳng bao giờ đạt được cực ý của cuộc đời.

Tóm lại, con đường kiếm đạo còn dài, chàng tự nhủ phải khổ hạnh, phải dẹp bỏ mọi thứ, nhất là phụ nữ hóa thân thành Otsu thì trong giờ khắc sinh tử này, nhờ một người phụ nữ mà chàng đã học tập và áp dụng được nguyên lý Âm Dương. Cái nguyên lý đó bàng bạc khắp cả vũ trụ càn khôn, nhưng không phải ai cũng có đủ sáng suốt để thực hành. Giây đàn căng quá sẽ đứt, tinh thần căng quá sẽ khủng hoảng, bất cứ cái gì cũng phải có hai nhịp đi về, đầu cuối, sáng tối, trời đất… Nếu không biết kết hợp nhuần nhuyễn, con người sẽ suốt đời ngụp lặn trong bóng tối vô minh. Nhờ bài học này mà tấm lòng Musashi không còn khô khan lạnh lẽo vị kỷ như hồi còn ở cầu Hanada nữa, tâm chàng giờ đây mẫn cảm hơn, nhiệt tình hơn và ham muốn hơn, và trong nhiều đêm dài trằn trọc, cô đơn ở thạch thất cũng như ở những ven đồi hoang vắng, Miyamoto Musashi đã phải nén lòng mình, chôn vùi mối tình nồng nhiệt sau bộ mặt lạnh lùng khô khan.

Khi gặp được nàng, chứng kiến tấm lòng chung thủy của nàng, sẵn sàng chết nếu chàng có mệnh hệ gì làm cho chàng hổ thẹn với lòng. Lòng tự tin và quyết tâm ấy khiến Miyamoto Musashi ngạc nhiên và thẹn với mình, vì đã lâu nay, sống chết làm hắn phân vân và hoang mang lắm. Bao nhiêu suy tư vẫn chưa mang lại cho hắn một quyết định dứt khoát nào cả. Trên đường hành đạo, trong nhiều trường hợp, hắn không phân định được lúc nào phải chết và lúc nào đáng chết. Trong khi ấy, một thiếu nữ yếu đuối như Otsu, không được huấn luyện và không có công phu hàm dưỡng gì đặc biệt, lại có thể sẵn sàng chấp nhận cái chết để được toại ý, bình thản và không do dự. Musashi không ngờ người thiếu nữ yếu đuối kia có sức mạnh tinh thần đáng sợ đến thế ! Một bài học nữa khiến chàng chỉ còn biết cúi đầu hổ thẹn với lương tâm. Người mà chàng cho rằng đi theo chàng chỉ làm rộn chàng thì lại là người dạy cho chàng biết lúc nào đáng chết và lúc nào cần sống.

Từ sự chống đối, sợ hãi, ghê tởm, trốn tránh phụ nữ, Mushashi dần chuyển sang tình cảm chấp nhận, yêu thương, nhớ nhung, tôn trọng và cuối cùng hôn phối với Otsu biểu tượng của lòng từ bi hỷ xả sẵn sàng chung thủy hy sinh cả mạng sống mình cho người mình yêu. Chấp nhận hôn phối với một người nữ là chấp nhận trở thành đứa trẻ bú mớm trong vòng tay mẹ. Chấp nhận hôn phối với người nữ còn có nghĩa là chấp nhận từ bỏ cái bản ngã của mình biến thành đứa con ngủ yên trong vòng tay âu yếm của mẫu thân mình. Bởi xét cho cùng, đàn bà là âm so với đàn ông là dương; đất là âm so với trời là dương. Nên đất là biểu tượng của người đàn bà, và chính vì thế mà người đông phương gọi đất là Mẹ Đất, hay muốn diễn tả cái chết thì họ nói ‘trở về lòng đất mẹ.’ Cho nên, trở về lòng mẹ hay trở thành trẻ thơ, thành cái anh nhi chi tâm chính là yêu sách tuyệt đối của mỗi con người.

Như thế, Mushashi không xem thường, cũng không quá xem trọng phụ nữ. Trong suốt cuộc lữ miên trường, Mushashi cũng đã có lần ngửi thấy mùi hương từ mái tóc của người thiếu nữ phảng phất lẫn với mùi da thịt nồng ấm khi hai người nằm cách nhau tấm vách mỏng. Và nhất là lần ở dưới chân ngọn thác Phu Phụ hùng vĩ trên đường đi Edo, lúc đó chỉ có hai người, chàng cảm thấy nhộn nhạo khác thường, đến khi Otsu ôm lấy cổ, chàng không còn tự chủ trước mùi hương nồng nàn của thiếu nữ và đã đè Otsu xuống cỏ. Nhưng Otsu chống cự vì không muốn Musashi bị ràng buộc vào những việc khác ngoài con đường kiếm đạo. Đây chính là tâm trạng của chàng : “Miyamoto Musashi phục xuống cỏ. Hắn tự nhủ chưa làm điều gì xâm phạm nhưng sao lương tâm hắn vẫn không an ổn. Mùi đất ẩm xông lên, Miyamoto Musashi dần dần lấy lại được bình tĩnh. Khi đứng dậy, mắt hắn không còn ngọn lửa đam mê nữa mà nguội lạnh như tiền. Dường như hắn vừa nghe tiếng gọi, tiếng gọi của sông rộng núi cao, của lý tưởng hắn đã nguyện phục vụ.”

Trước kẻ thù vô hình chính là dục vọng của mình, lưỡi gươm của chàng trở nên bất lực. Nó không hình không tướng, không thân không thể, làm sao mà mổ ruột moi gan nó được. Ngọn lửa dục vọng ấy chính là nội lực giúp chàng thi triển những tuyệt chiêu của bí kiếm, nhưng nếu không được chế ngự và điều phục đúng cách, nó sẽ biến thành sự hung bạo, cuồng dâm, hiếu sát của loài thú. Cho nên Lão Tử mới nói : “Thánh nhân thì biến tinh thành khí, còn tiểu nhân thì biến khí thành tinh.” Theo phương pháp đó mà Đạo Cao Đài mới có pháp môn tu mật là Tinh – Khí – Thần, tức là biến tinh thành khí và biến khí thành thần. Trong tác phẩm Minh triết trong đời sống, Darshani Deane nói : “Sức mạnh của tình dục chứa đựng một mãnh lực huyền bí mà rất ít người biết đến. Khi sức mạnh của nó không phát lộ ra ngoài thì nó biến đổi thành tinh chất Ojas, một yếu tố cần thiết để đạt đến tâm thức đại đồng. Chính Ojas sinh ra khí lực, sức mạnh và sự hấp dẫn, không những để đạt đến các trạng thái cao thượng của con người mà còn để thành công trong mọi lãnh vực, đặc biệt nhất là lãnh vực sáng tạo.” (Darshani Deane, Minh Triết Trong Đời Sống, dg Nguyên Phong, NXB Văn Nghệ, 1992, tr 94).

4.2. Kiếm thiền nhất như

Để vượt qua, trút bỏ được những nhu cầu vật chất, tiền bạc, danh vọng, vợ đẹp con ngoan, nếp nhà đầm ấm… Mushashi cũng phải chiến đấu hết mình. Con đường nếu chỉ dừng lại ở đây, hành giả sẽ trở thành là gỗ đá vô tri. Đoạn cuối, đỉnh dốc cheo leo của con đường cuối cùng này chính là giai đoạn khó khăn nhất, khốc liệt nhất của mỗi hành giả. Đó chính là làm sao để cho Kiếm đạo với Thiền đạo trở nên một tổng thể hòa quyện vào tất cả máu xương tinh thể, làn da thớ thịt, rồi từ đó phun trào ra tất cả càn khôn đại địa làm chấn động hư không tựa nhưng con sư tử ngàn năm cất tiếng hống một lần. Làm sao để sử kiếm như cầm đôi đũa gắp thức ăn chính cùng đích của mọi kẻ học kiếm đạo. Ta thử xem, Mushashi hành động như thế nào để đạt được cùng đích đó.

Sau ba năm ẩn cư trong lâu đài đọc sách thánh hiền, cộng thêm một năm luyện kiếm giữa núi rừng hoang vu, Mushashi bắt đầu lên đường hành hiệp giang hồ. Nếu muốn là một Samurai thực thụ thì hắn buộc phải lang thang trên bước đường giang hồ rèn luyện kiếm thuật và tinh thần bất thối chuyển trước sự sống còn của kiếp người. Đó là một quy luật bất thành văn. Chàng lang thang khắp nơi khắp chốn từ thành thị đến nông thôn, từ rừng sâu nước độc núi non hiểm trở đến đô thành lộng lẫy xa hoa. Tự ép mình gian khổ truân chuyên, bắt nhục thân đương đầu nguy hiểm, cho máu nóng chảy tràn tứ đại, lấy da xương cọ mài kiếm báu, mắt trừng quang chói lóa trời đêm. Ngày chàng đi, đi không có chủ định, chân đưa đến đâu thì ý hiện đến đấy. Đêm chàng ngủ bờ ngủ bụi, may mắn thì ngủ nhờ trước một cổng chùa nào đó hay đặt mình trong một căn miếu hoang. Không may thì lấy đất làm chiếu, lấy bầu trời trăng sao làm màn, lúc nào cũng ôm chặt thanh kiếm bên mình như tân lang ôm tân nương đêm động phòng hoa chúc. Và để trau dồi võ nghệ, chàng cũng như bao kẻ giang hồ khác, một khi đã nghe tin ở đâu có kiếm khách tuyệt luân là tìm đến tỉ thí. Đây chính là nhân dạng của chàng : “Trông dáng điệu và y phục, đúng là loại kiếm sĩ lang bạt không nơi nương tựa, thấy nhan nhản ở khắp thôn quê cũng như thành thị thời ấy. Miyamoto Musashi trông còn có vẻ tệ hơn: hình như hắn không lưu tâm gì đến chuyện phục sức bề ngoài, chỉ chú ý vào việc luyện võ. Mắt hắn sắc như dao, dáng đi ngang tàng, nên tuy quần áo rách rưới, tên gia nhân cũng giật mình lui bước.”

Một trong những võ đường nổi tiếng thời đó là phái Yoshioka, nơi mà chàng thăm viếng đầu tiên để thử xem trình độ võ học của mình như thế nào. Vì tự học kiếm trong nhiều năm, không môn phái, không sư thầy, nhất là suốt một năm ẩn cư trong rừng để luyện kiếm với cây cỏ thú rừng, nên chàng quyết tâm thử xem, những chiêu kiếm do mình sáng tạo, nó uy lực đến cỡ nào. Không ngờ, chàng hạ được cả một đám lâu la nhất tề xông vào để hạ gục chàng. Tác giả đã tả quang cảnh đó như sau : “Mọi người sửng sốt, hét lên phẫn nộ, cùng rút kiếm ra khỏi vỏ. Tình hình không còn là một cuộc so tài thử sức nữa mà là một cuộc nhất tề xông tới lấy số đông áp đảo giết cho được Musashi. Nhưng hắn như con cọp dữ, đâu có để cho dễ bắt. Hắn chém đông, gạt tây, đâm, phát; kiếm quang loang loáng dưới ánh chiều xuyên qua cửa sổ. Musashi hét lên những tiếng ghê rợn, mỗi nhát kiếm lia tới đâu là có người ngã tới đó, không chết thì cũng thương tích trầm trọng.”

Trong giới kiếm sĩ, danh dự bao giờ cũng quý hơn sinh mạng. Sự kiện chỉ có một tay kiếm vô danh đến khuấy động cả môn phái Yoshioka danh trấn giang hồ là một điều vô cùng sỉ nhục và không thể chấp nhận được. Cả phái họp lại tìm đủ mọi cách giết cho bằng được Musashi, nhưng chàng đã chạy thoát khỏi những mưu mẹo toan tính đê tiện hèn hạ của bọn tiểu nhân chỉ biết sống tầm gửi, chuyên núp bóng danh hiệu người khác mà tác oai tác quái lên mặt dạy đời thiên hạ.

Sau khi thoát khỏi sự hèn mạt của phái Yoshioka, chàng tiếp tục đến thăm các phái ở Kyoto, nhưng chỗ nào chàng cũng toàn thắng. Nhìn lại những chiến tích ban đầu đó, kẻ thường nhân dễ sinh lòng kiêu mạn coi thường kẻ khác. Thậm chí còn an phận thủ thường, vẽ rắn thêm chân để tô điểm cho hào quang của mình thêm rạng rỡ. Trái lại, Musashi lại tự vấn lương tâm không biết sở học của mình là cao hay kiếm phái của họ thấp kém. Và đã có lúc, chàng cũng cảm thấy hãnh diện với những chiến công của mình. Nhưng ngay lập tức, chàng nghĩ đến câu nói : “Không gì giết chết tài năng nhanh chóng bằng lòng kiêu ngạo !” Nếu quả thật kiếm pháp của họ chỉ hữu danh vô thực thì dù có thắng họ, kiếm pháp của chàng cũng chẳng có gì là cao siêu. Cần phải gặp những tay cao thủ thực thụ so tài, ta mới biết thế nào là sức mạnh của ta. Chẳng thứ gì có thể thử được vàng ròng ngoại trừ ngọn lửa hừng hực bốc cao. Nghĩ thế, chàng lâm râm khấn vái thần linh hộ phù trợ giúp cho chàng đủ nghị lực bước đi trên cuộc lữ miên trường về với Chân Như.

Ý thức được sở học của mình, Musashi tiếp tục bước đường giang hồ mưa nắng thất thường, đường dài vô định, sinh mệnh lênh đênh. Chàng tiếp tục đến đền Hozoin để học hỏi về món tuyệt kỹ trường thương và những thế mâu, bổng đã từng làm chấn động giang hồ không ai địch nổi. Dịp này, Musashi trực kiến được một sức mạnh vô hình toát ra từ tia mắt của một lão già râu tóc bạc phơ đang ngồi cào cỏ khiến hắn giật mình nhảy tránh sang bên. Tia mắt bất ngờ có uy lực dũng mãnh tựa tiếng sấm chẻ ngang bầu trời trong đêm giông bão tối đen. Chàng cảm thấy ngột ngạt khó thở, toàn thân nóng ran như vừa thoát khỏi một ngọn lửa táp tới hay như vừa tránh kịp một thế kiếm giết người phạt ngang hạ chỉ. Theo phản xạ tự nhiên, chàng đặt tay vào đốc kiếm, nhưng nhìn quanh thì chẳng có ai ngoại trừ lão già vẫn đang cào cỏ hiền khô. Chàng chẳng hiểu tại sao lại có sự việc như thế…

Vào đền Hozoin, chàng thủ thắng Agon một cách dễ dàng. Khi quay ra, Lão tăng ngoài vườn theo tới bắt chuyện với Mushashi. Sau vài lời xã giao, chàng được Lão tăng Ozoin giải thích sự kiện tia mắt chấn động của lão như sau: “Trái lại, khi thí chủ cách bần tăng chừng một trượng, chính bần tăng cảm thấy không khí ngột ngạt, sát khí bừng bừng phát ra từ ánh mắt cũng như dáng đi của thí chủ nên bần tăng đề phòng. Một nông dân chất phác nào đó đi qua chắc chỉ nhìn bần tăng như một kẻ làm vườn vô hại, nhưng thí chủ lại khác. Tham vọng cùng với nội lực hết sức sung mãn của thí chủ không kềm chế tuôn ào ào như thác lũ, gặp bần tăng bị dội lại nên thí chủ tưởng bần tăng sắp động thủ ...”

Nghe xong, chàng vô cùng kinh ngạc về sự hiểu biết của Ozoin và được biết thêm vị thủ tọa đền Hozoin, Inshun, mới là đại cao thủ. Chàng ngỏ ý muốn lưu lại vài ngày để xin thỉnh giáo với Inshun, nhưng lão tăng nói rằng đó là việc không cần thiết. Còn nếu thỉnh giáo thì hãy nhìn vào mắt lão tăng. Khi lão tăng phóng mục quang thì toàn thân Mushashi rúng động, ánh bích quang tỏa ra một ma lực kỳ lạ thu hút hết ý chí của làm chàng tê dại, không khác gì một con thỏ nằm chơ vơ trước miệng con cọp sắp nuốt mình. Đến khi rời khỏi chùa, Mushashi mới công nhận, mình chỉ thắng cái chiêu thức bên ngoài; còn cái cực ý bên trong, chàng hoàn toàn thất bại. Bất chợt chàng than thở : “Ngoài khung trời này còn có những khung trời khác, cái ta hiểu thật là nông cạn. Ta đã thắng bên ngoài, nhưng bên trong, phần tâm ý …”

Về phương diện nội lực, Kim Dung cũng là một trong những tác giả đặt nội lực nên hàng thượng thừa. Với Kim Dung, chiêu thức dù có tinh vi xảo diệu biến hóa khôn lường đến đâu đi nữa mà không có nội lực thì sớm muộn gì cũng nhận phần thua. Còn không có nội lực mà luyện những chiêu thức phức tạp thì rất dễ tẩu hỏa nhập ma. Trái lại, dù chiêu thức đơn giản, quê kệch mà nội lực sung mãn thì ta có thể nắm chắc phần thắng. Trong bộ Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Trương Tam Phong lúc còn nhỏ đã chứng kiến sư phụ mình là Giác Viễn tỉ thí một ván cờ với Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Đạo. Gọi là Tam Thánh vì Hà Túc Đạo tinh thông cả ba môn cầm, kỳ và kiếm. Hà Túc Đạo muốn chứng tỏ công phu của mình bèn nhặt một viên đá vạch 38 đường ngang dọc tạo nên bàn cờ. Giác Viễn muốn giữ thể diện cho Thiếu Lâm nên dùng nội lực của Cửu Dương Chân Kinh dồn xuống sợi dây xích dưới chân để xóa đi những nét vạch của Hà Túc Đạo. Thấy vậy, Hà Túc Đạo rút kiếm tấn công. Nhưng nhờ nội công thâm hậu nên Giác Viễn đã tránh né được những đường kiếm tuyệt luân của Hà Túc Đạo trong đường tơ kẽ tóc, nhưng sức lực có hạn, Giác Viễn dần dần yếu thế. Thấy sư phụ lâm nguy, Trương Tam Phong, lúc bấy giờ còn là Trương Quân Bảo, đứng gần đó phóng ra một chưởng cấp kỳ để cứu thoát sư phụ, chưởng đó làm Côn Luân Tam Thánh bật ngửa người ra, và khi đứng lên hắn nhằm Quân Bảo mà đánh tiếp 10 chưởng liên hoàn nữa, nhưng chỉ bằng mấy ngọn quyền nhập môn của phái Thiếu Lâm, Quân Bảo đã thủ thắng được một Hà Túc Đạo mà đời xưng tụng là kiếm khách.

Như vậy, nội lực là cái gì đó ở bên trong, cái nhân tố quyết định thành bại, được mất, có không trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Cái nội lực đó bình thường thì tán loạn, không tập trung và thường gây ra những tác hại tiêu cực khiến cho chính chủ thể không hiểu tại sao mình lại hành động xuẩn ngốc đến thế. Nhưng nếu nội lực phong phú mà được chế ngự, điều khiển và tập trung chúng vào một điểm nhất định, tựa như chiếc kính lúp thu ánh sáng mặt trời và sau đó vận chuyển nó để khai mở huyệt đạo qua những kinh mạch thì hành giả sẽ thực hiện được rất nhiều khả năng phi thường. Theo Đông y và Khí công thì kinh mạch là những con đường vận hành và luân chuyển khí trong cơ thể. Còn huyệt là những kênh đặc biệt trên cơ thể mà tại đó có thể hấp thụ hay khai phóng chân khí và nhờ thế người ta chữa được rất nhiều bệnh… Có lẽ Musashi một phần vì không có sư phụ, nên chàng không đủ khách quan để lượng giá những chiêu thức và nội lực của mình, nhưng thất bại trước lão tăng khiến cho Musashi càng nghi ngờ về con đường kiếm đạo của mình. Vả lại, chàng cũng đoán ra được rằng mình chưa kiềm chế được nội lực của mình, bởi ‘cường bất khiển tất nhược.’ nhưng làm sao để kiềm chế thì lại là một vấn đề hóc búa. Suy tư sách vở kinh viện nhiều khi cũng chẳng tới đâu, nên chàng quyết định tiếp tục lao vào những cuộc phiêu lưu sinh tử.

Quyết định này cho thấy Mushashi đặt nặng trải nghiệm tế hơn suy luận trí óc thuần túy. Đó cũng chính là phẩm chất của người Á đông. Trước những nan đề của cuộc sống, họ không chỉ dùng đầu óc suy luận hợp lý mà còn vận dụng trực giác hầu tìm ra căn nguyên nguồn cội của chúng. Cho nên, người Á đông nghĩ bằng tâm lòng, chứ không chỉ đơn thuần nghĩ bằng trí óc như người Tây phương. Chính vì thế, người Á đông không quản ngại nhảy vào, xía vào lòng đời, sẵn sàng làm những chuyện nhỏ nhặt vặt vãnh như ỉa đái, ăn uống, ngủ nghỉ, đan lát, thêu thùa, trồng tỉa và hài lòng mãn nguyện với tình trạng văn minh kém mở mang của mình. Từ những trải nghiệm thực tế biến dịch tuần hoàn tưởng như tầm thường, hỗn độn đó, họ sống và thể nghiệm ra một ý nghĩa ẩn tàng thâm mật hàm chứa nguyên lý thúc đẩy thành tất cả những hiện tướng đa thù sai biệt trên thế gian. Chân nghĩa chót vời của nó chẳng bao giờ thị hiện nếu chúng ta không đeo cái vòng Kim Cô vào tâm trí hoặc điều phục cái tâm viên ý mã không cho nó vọng động, lăng xăng. Osho đã nói : chỉ khi nào hành giả điều khiển được tâm trí mình như là một bộ phận trong cơ thể, thì lúc đó hành giả mới thực sự giác ngộ. Giống như cái tay là một bộ phận trong cơ thể, ta biểu nó đưa lên thì nó đưa lên, bắt nó hạ xuống thì nó hạ xuống và bảo nó nằm yên thì nó nằm yên… thì tâm trí cũng vậy, bảo nó thôi không suy nghĩ thì nó dừng nghỉ, thôi vọng động, biểu nó suy tư phân biệt thị phi thì nó suy tư phân biệt thị phi. Nói tóm lại, khi nào ta biết ta đang suy nghĩ gì trong từng sát na biến dịch miên tu bất tận, khi đó ta mới vào được cửa Tánh không.

Từ quyết định nhảy vào dòng đời biến ảo không lường, phù du bất tận đó, Mushashi tiếp tục lãnh hội được những huyền nghĩa thâm u ẩn tàng bằng trực giác bén nhậy của mình. Một trong những trực giác đó là nhận thức được cái Cực ý, cái Vô thức, cái Tánh không trong vết cắt nhành mẫu đơn của danh kiếm Yagyu Muneyoshi. Yagyu là một tay kiếm lừng lẫy giang hồ bốn mươi năm trước đây và hiện trở thành một trường phái kiếm đạo chính thống trong giang hồ. Theo Yagyu, cùng đích tối thắng của kiếm đạo là không dùng kiếm. Quan niệm này rất giống với quan niệm vô chiêu thắng hữu chiêu trong kiếm hiệp của Kim Dung. Theo Kim Dung, “Một thỏi sắt luyện thành một thanh kiếm tốt đã khó. Nhưng khó hơn nữa là luyện thế nào để tự nó thu nhỏ lại bằng cái lá. Khi ấy người ta có một diệp kiếm; nhỏ hơn, bằng một viên ngọc, là hoàn kiếm, nhỏ hơn nữa, bằng hạt cát, là sa kiếm. Lạ là càng thu nhỏ thì năng lực của kiếm càng lớn. Tất cả xẩy ra như năng lực ấy, càng bị dồn trong một khối thể chất nhỏ bao nhiêu, lại càng tăng trưởng bấy nhiêu. Và đến khi miếng thép ấy hoá ra nước làm thuỷ kiếm, ra hơi làm khí kiếm, ra ánh sáng làm quang kiếm, thì năng lực phát huy được kể như không cùng.” (Đỗ Long Vân, Vô Kỵ Giữa Chúng Ta, nxb Trình Bày, 1967).

Tuy nhiên, giả như có năng lực biến thành quang kiếm, thì cái đó vẫn gợi nên cảm giác phụ thuộc, bám chấp vào tha lực bên ngoài mà không hoàn toàn trụ vững vào cái bên trong. Thượng Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông đã khẳng định : “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.” (Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch. Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền). Khi trụ vào cái kho báu trong nhà, tức là cái nội lực lưu tồn bất tuyệt vô thủy vô chung, hành giả đạt được cùng đích tối thắng thượng thừa của kiếm đạo. Kẻ chiến thắng bao giờ cũng là kẻ trước tiên giữ được cái tĩnh trong lòng mình trước những xôn xao vọng động của ngoại giới dù ngoại giới có đang rúng động lung lay. Lúc đó, chỉ cần cái trừng mắt của lão tăng Ozoin, chỉ cần vết cắt trên nhành mẫu đơn, hay chỉ cần một cái phất tay của các giang hồ lãng tử trong kiếm hiệp Kim Dung, hành giả có thể phá tan cả một ngọn núi, tựa như vụ nổ Big Bang thời tiền sử. Và tất cả những phương tiện ngoại lai như cung đao thương kiếm hay chiêu thức hàn lâm sách vở chỉ còn là yếu tố phụ thuộc, trợ đỡ, chứ không phải là cái tâm yếu, cái căn cơ nhờ đó hành giả tiến thoái, công thủ, sống chết, đi về…

Hơn nữa, đối thủ bây giờ không còn là khách thể xù xì được nhận biết bằng giác quan thông thường mà đối thủ đó chính là cái bản ngã, cái con người của chính mình. Cái mà một nhà thơ Nhật bản đã nói rằng : “Hôm qua, một đạo quân, không làm tôi sợ. Chiều nay tôi sợ bóng mình.” Nó vô hình vô ảnh cho nên nó không thể bị tiêu diệt bằng đao kiếm chiêu thức sách vở hàn lâm. Cho nên, cái vô hình vô thanh vô ảnh phải dùng cái vô kiếm vô chiêu vô thế mới có thể thủ thắng. Nếu không, hành giả chỉ là một kẻ vọng tưởng tìm đủ mọi cách bẻ hoa trong gương, mò trăng đáy nước. Henry Miller đã nói : “Nếu chúng ta không chịu tập nhìn chúng ta như những kẻ khác nhìn chúng ta thì vết thương sẽ không bao giờ được lành và chúng ta phải đời đời chịu sống phân ly và ngăn cách.” (trích từ Phạm Công Thiện, Henry Miller, Phạm Hoàng, 1969, tr 104). Gặp những nguy hiểm bên ngoài, người ta vẫn có thể lấy trí năng, kinh nghiệm để chinh phục, hoá giải. Nhưng chiến đấu với chính mình thì ai cũng biết là chỉ có một mất và một còn. Một ta thắng, hai ta thua. Cái ván cờ định mệnh này không có chỗ cho bất cứ một kẽ hở nào. Cả con người mình khi ấy phải ngưng tụ để chống trả. Suy tính, bàn luận, học hỏi chỉ gây thêm nghi ngờ lưỡng lự. Thi đấu nội lực cũng thế, chỉ cần một chút vọng tâm, kẻ đó sẽ tẩu hỏa nhập ma ngay lập tức.

Với quan niệm đó, Yagyu Muneyoshi đã giác ngộ, thấu triệt được lẽ tương dung hòa quyện của trời đất, rồi đem ra suy luận thấy nó bàng bạc khắp mọi nơi. Nhờ ngộ được cái Vô tâm, ông thấy những thế kiếm của mình tự nhiên hơn, nhẹ nhàng và linh động vô cùng, và khi đem dùng vào những công việc nhỏ mọn hằng ngày đối với thiên nhiên và vạn vật thì thấy dễ dàng đồng điệu, hài hòa. Do đó, chỉ việc ông cắt một cành mẫu đơn cũng đủ cho Mushashi thấy công lực thượng thừa của bậc kiếm sĩ tài danh. Chàng đắn đo suy nghĩ : “Hắn rút hoa, so sánh hai vết cắt ở cuống, ngồi thừ người ra suy nghĩ. Hắn chắc đóa hoa này đã được ngắt không phải bằng dao mà bằng kiếm. Mẫu đơn thân thảo, cuống nó mềm và dai, phi một tay kiếm tuyệt luân dùng một lưỡi kiếm cực mỏng chém thì không thể nào có được vết cắt ngọt và gọn như thế ! Bất kỳ ai cắt bông hoa này cũng không phải là người tầm thường.”

Trong câu truyện Thiên Hạ Đệ Nhất Kiếm, tác giả Phạm Xuân Thái cũng đã miêu tả khá sinh động cái vết cắt trên cành Sơn Huyết Đào, một loại hoa quý hiếm chỉ mọc ở ghềnh đá trên đỉnh những ngọn núi cao như ngọn Fuji. Thân nó cứng như gỗ Lim, hoa đào chín cánh, mầu đỏ huyết dụ, được gìn giữ bởi những gai đào tua tủa. Sơn-Huyết-Ðào rất hiếm, cả nước Nhật có lẽ chỉ có khoảng vài cây. Những loài hoa như thế chỉ có thể bị chinh phục bởi những tay kiếm có nội công thâm hậu có thể làm rung chuyển cả vũ trụ. Còn nếu như những kẻ tiểu nhân luôn mang mặc cảm bầy đàn sẽ chẳng bao giờ có dịp diện kiến những đóa hoa tinh khôi, rực rỡ của cành hoa, ấy là chưa nói đến việc cắt hoa mang về.

Thiên hạ đệ nhất kiếm Genshin Yamamoto đã có được nhân duyên đó khi chàng tìm mọi cách tỷ thí với lão tăng Osawa Takahashi, mặc dù lão tăng tìm mọi cách để từ chối. Khi tối hậu thư được đề ra là : Nếu trong ba ngày lão tăng không chấp nhận tỷ thí, Yamanoto sẽ làm cỏ chùa Shiga. Đến sáng ngày thứ tư thì hắn nhận được một cành Sơn Huyết Đào. Nhìn cành hoa, hắn đăm chiêu tư lự, chợt hắn thét lên kinh hoàng chạy ra trước cổng chùa sụp lạy trăm lạy. Tác giả giải thích như sau : “Ðường kiếm, nội công, và mức độ chính xác của thanh kiếm do đại lão hoà thượng Osawa Takahashi điều khiển, đã lên tới mức thượng thừa, Genshin Yamamoto chưa phải là đối thủ: thân Sơn-Huyết-Ðào, cứng như gỗ Lim đã bị tiện đứt phẳng lì; tất cả gai chung quanh các cánh hoa đều bị cắt đứt, không để lại một dấu xước cho thân cây; hoa Sơn-Huyết-Ðào, không một cánh bị gẫy bởi sức mạnh hoặc độ rung của thanh kiếm, vẫn đang khoe sắc thắm và nhẹ rung trong gió. ” Đó cũng chính là ý nghĩa của câu ca dao tục ngữ của cha ông ta : Dao sắc không bằng chắc kê. ‘Chắc kê’ ấy chính là các nội lực thâm mật ẩn tàng khả dĩ làm cho vạn sự chuyển động bất tận trong lòng vũ trụ bao la.

Như thế, chỉ cần một vết cắt trên nhành mẫu đơn, bậc cao thủ có thể phân biệt được thắng thua, được mất. Trong cuộc lữ miên trường, Mushashi đã có thêm một bằng chứng hùng hồn về công lực thượng thừa của các bậc giác ngộ. Họ hoàn toàn là người tự lực tự cường tinh tấn dũng mãnh, không bao giờ nương tựa vào ngoại vật hay mong cầu nơi thần thánh. Họ đều là người tự chiến thắng chính mình và từ chiến thắng đó, họ áp dụng nhuần nhuyễn vào từng công việc nhỏ mọn hằng ngày một cách nhịp nhàng, trơn tru, thanh thản. Chính vì thế mà Mushashi cảm thấy vô cùng buồn bã khi chàng đạp phải cây đinh khiến cái chân mưng mủ hành sốt. Chỉ cần một việc nhỏ như thế cũng đủ cho chàng thấy mình còn xa vô cùng trên con đường kiếm đạo tìm về Chân Thiện Mỹ. Chàng tự trách về sự non kém của mình như sau : “Theo tiêu chuẩn của hắn thì như vậy là hắn thua cái đinh. Là Samurai, hắn đã không cảnh giác đến nỗi cái đinh nằm nhô đầu lên rõ ràng như vậy mà không tránh nổi : giác quan của hắn chưa đủ linh mẫn. Tệ hơn nữa, sự phản ứng lại chậm chạp để đầu đinh xuyên qua dép và sâu trong gan bàn chân. Đáng lý ra hắn phải nhảy tránh ngay khi cảm thấy mũi đinh chạm vào da mới phải.”

Kể từ khi bước chân vào con đường kiếm đạo, chàng luôn bị ám ảnh bởi sự hoàn thiện. Nhiều lần, nhất là lần đạp phải cây đinh, đã làm cho lòng tự tin vào chính mình bị lung lay. Và đây có lẽ chính là yếu tố quan trọng nhất trong tiến trình giải thoát chính mình. Vivekananda đã nói : “Lịch sử thế giới là lịch sử của một số ít người có lòng tự tin nơi mình.” Lòng tự tin chính là khối nam châm, là cơn lốc xoáy, là thấu kính hội tụ thâu dồn ngàn muôn đại địa về một mối, rồi tiếp tục điều động, chuyển hóa và cuối cùng phun trào ra ngàn muôn vạn pháp như hỏa diệm sơn phun trào phún thạch. Tự tin chính là yếu tính của thiên tài. Vivekananda nói tiếp : “Hãy tin vào bạn trước rồi sau đó mới tin vào Thượng Đế.” (Believe first in yourself, and then in God). Ấy cũng chỉ là lối nói bạo hành cưỡng bách, bởi Lục Tổ Huệ Năng đã nói : “Bản lai vô nhất vật” rồi, làm gì có tôi và Thượng Đế để tin vào. Giải đáp những thắc mắc đó, chàng đã tìm đến những hang núi cao sống đời cô tịch, lấy đá sỏi, rừng cây, muôn thú để tìm giải đáp cho những suy tư khắc khoải của mình.

Đây có lẽ cũng là phương thế mà hầu hết các tôn giáo dùng để tu dưỡng tinh thần. Kitô giáo thì có những thời kỳ tĩnh tâm. Còn Phật giáo thì có những kỳ an cư kiết hạ… Nhờ đó mà hành giả được nuôi dưỡng tín tâm, được nghe pháp, được chánh pháp soi đường dẫn lối vượt qua những chướng ngại gió quỷ nhà ma liên tục thét gào đòi an nhàn dễ dãi. Hơn nữa, nhờ những tháng ngày sống cô tịch đó, Musashi đã dần học được cách khám phá những tia sáng phát ra từ cái Chân Tâm Phật tính, cái Bản Lai Diện Mục của mình hơn là đi tìm ánh sáng chân lý phát ra từ hừng đông, từ thần thánh… Cần phải bị xua đuổi cho đến tận đỉnh núi cuối cùng, nơi đó chỉ còn một hòn đá vừa đủ cho một bàn chân cheo leo giữa hai bờ vực của sự sống chết. Cần phải thai nghén tuyệt vọng; cần phải cưu mang trăm ngàn đắng cay chết chóc, thất bại, tủi nhục, hổ ngươi; cần phải chết đi trong lòng người, thối rữa trong lòng mình… có như thế ta mới phục sinh, mới tái ngộ, mới quy hồi về cố quận nguyên thôn. Lúc đó, hành giả sẽ hát ca : “Đầu non mây trắng bay. Nhẹ tênh lòng thế sự. Nghìn năm không trú xứ. Chân như, cánh hạc gầy.” (Sekishusai)

Chúng ta nên hiểu, sự cô đơn ở không phải là hệ lụy của một tâm hồn bạc nhược, mặc cảm, tự ti sống trong cái tôi ích kỷ hèn hạ của mình. Chỉ vì không thể nào hòa nhập được với đời thường nên tự mình khép kín phòng the, tường đông ong bướm đi về mặc ai. Trong tác phẩm Thiền Luận, Suzuki đã mô tả tỉ mỷ cái nỗi cô đơn của hành giả đi tìm cái Nhất Như như sau : “Trong kinh Lăng già chúng ta có sự kiện này, gọi là pháp viễn ly (viviktadharma). Kinh nghiệm về pháp đó hình như đánh thức tình cảm về sự đơn độc vĩnh viễn. Cái đó không có nghĩa rằng chúng ta đều có cảm giác cô liêu và săn đuổi một sự thể nào đó rộng hơn và mạnh hơn chính mình. Tất cả những tâm hồn của tôn giáo ít nhiều đều có cưu mang tình cảm này; nhưng điều mà tôi muốn nói ở đây không phải là sự cô liêu theo kiểu đó, nhưng sự cô liêu của một thể tính tuyệt đối, nó ngự trị trên chúng ta khi một thế giới thiên sai vạn biệt vận hành dưới những điều kiện không gian, thời gian, và nhân quả bị bỏ lại đàng sau, khi tâm linh lớn cao trong bầu trời và trôi nổi tự do theo ý muốn như một cụm mây lang bạt.” (D.T. Suzuki, Thiền Luận, Quyển Hạ, dg Tuệ Sĩ, nxb An Tiêm, 1973, tr 535).

“Ngươi hãy trở nên con người của chính ngươi” (Deviens ce que tu es) không chỉ là một yêu sách tuyệt đối mà còn là một ân huệ tối cao. Chính vì thế mà Musashi đã hiện hữu một cách thô kệch, xù xì ; rồi từ đó chàng dần dần gạt bóng ra khỏi hình, vén màn vô minh, mở phơi chân diện mục ẩn tàng từ vô lượng kiếp luân hồi trong gió quỷ khí ma và phục hoạt cái Chân như hằng tồn cưu lưu trong tự tánh của mình. Và cho đến cuối cùng chàng đã phục sinh, sáng tạo ra chính con người của mình. Con đường sáng tạo đó đòi buộc chàng phải vượt qua tất cả những gai góc, lao nhọc, thống khổ cốt làm sao đạt được cái Cực ý của kiếm đạo và cũng để cho cái Tiểu ngả huyền đồng cái Đại ngã của vũ trụ. Chàng nghĩ : “Ta vẫn tự nhủ: nhất định không mong nhờ ai điều gì mà sao vẫn còn hy vọng ở họ lòng thương yêu ? Thật là ngu xuẩn và dại dột. Ta phải quyết tâm và ghi điều này lên giấy mới được !”

Để chứng tỏ sự quyết tâm không lùi bước, Musashi đã ghi những quyết tâm của mình lên giấy. Lúc đầu là : “Ta muốn không có điều gì phải hối tiếc”. Nhưng điều đó vẫn mang dấu vết của bản ngã, trong đó có cái ta đối lập. Ở đây, ta có thể ví nó giống như cảnh giới thứ nhất (Ðoạt Nhân Bất Ðoạt Cảnh) trong Tứ Liệu Giản của thiền sư Lâm Tế. Trong cảnh giới này, hành giả bị ngoại cảnh thu hút mạnh mẽ đến nỗi hành giả không còn ý thức về mình. Sự hiện hữu của mình đã bị vong thân bởi ngoại cảnh tác động. Điều này khiến hành giả rất dễ khổ tâm, ưu phiền, lo lắng trước những giả hợp của thế giới. Muốn đi tiếp, hành giả phải vượt qua và thể nhập vào cảnh giới thứ hai (Đoạt cảnh bất đoạt Nhân). Vì thế, Musashi cần tìm một câu ngắn gọn, súc tích mà ý nghĩa thực chứng hơn để có thể nhắc đi nhắc lại hàng ngày. Chàng bèn sửa: “Ta sẽ không hối tiếc những điều ta làm”. Ở đây, ta thấy, vế thứ hai có chủ từ ‘Ta’, điều đó chứng minh rằng, Musashi đã vượt qua loại hai mà thể nhập vào ngay loại thứ ba (Nhân Cảnh Lưỡng Câu Ðoạt). Đây chính là giai đoạn hồi quang phản tỉnh, tức là tâm trí tự nhận biết chính mình, hay tâm trí ý thức rõ ràng mình đang suy nghĩ về điều gì. Nhưng vẫn còn chủ thể khách thể, cần phải vượt qua cả chủ lẫn khách để chỉ còn là hành động thuần túy, vô vi, làm mà không có chủ thể làm, không có đối tượng để nhắm tới, và chàng lại sửa lần nữa: “Không làm những gì phải hối tiếc.” Ở đây, chủ từ ‘Ta’ đã biết mất. Cái tiểu ngã đã hòa quyện vào cái Đại ngã. Nó tương tự với Loại thứ bốn (Nhân Cảnh Câu Bất Ðoạt), tức là tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh. Ở cảnh giới này, hành giả thỏng tay vào chợ, trở lại với thế giới bình thường mà tâm vẫn an nhiên tự tại. Niệm khởi thì tâm biết niệm khởi, không mảy may phán đoán hay dở tốt xấu, cũng chẳng vọng tưởng mê lầm đuổi theo.

Như thế, ‘Không làm những gì phải hối tiếc’ đã đạt được cái vô vi nhi vô bất vi, tức không làm mà không có cái gì là không làm của Lão Tử, đồng thời cũng cho thấy cái tinh thần vi đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí ư vô vi. Chàng đã bớt đến nỗi ngay cả cái tôi chủ thể của mình, chàng cũng không buồn nhắc tới. Có thể nói, với câu kệ này, Musashi một khi thực hiện được thì chắc chắn chàng sẽ nhập vào cảnh giới Ly Tứ Cú, Tuyệt Bách Phi, còn có nghĩa là Chân không vô tướng bất khả đắc. Trong đó, Tứ cú là “Hữu, vô, diệc hữu diệc vô, phi hữu phi vô” hoặc chỉ “khẳng định, phủ định, bộ phận khẳng định bộ phận phủ định, cả hai đều phủ định” để phán đoán và nghị luận được mất đúng sai. còn Bách phi chỉ hàng trăm loại phủ định. Kinh Bắc Bổ Đại Niết Bàn nói rất nhiều phủ định về Niết bàn của Như Lai là phi hữu, phi vô, phi hữu vi, phi vô vi, phi hữu lậu, phi vô lậu, cho đến phi quá khứ, phi vị lai và cả phi hiện tại. Nói tóm, ly tứ cú, tuyệt bách phi là pháp môn tối thắng thượng thừa chí cực bất khả tư nghì của Phật giáo, tức là vượt lên trên tất cả những giả danh, biểu tượng của ngôn từ ngữ nghĩa mà đạt đến cảnh giới ‘ngôn vong lự tuyệt’.

Chi tiết tiếp theo cho ta thấy tính cách tự lập tự cường của Musashi khi chàng hét lên : “Tự lập ! Ta phải sống cuộc đời tự lập ngay trong lòng ta !” Đó chính là con đường của kẻ sáng tạo, con đường của kẻ khai sinh ra mình và thế giới. Kẻ nào không tự lập ngay trong lòng mình, kẻ ấy suốt đời làm dế giun luồn cúi trong bóng tối vô minh. Kẻ đó sẽ bị cuốn hút, trói buộc vào bánh xe sinh tử luân hồi, dù cho họ có làm ra vẻ đứng đắn bằng cách gọi nó là cuộc đời bể khổ triền miên, làm sao hết được ưu phiền lắng lo. Cho nên, cần phải triệt để gỡ mình ra khỏi tất cả những hệ lụy của đền đài thành quách bấy lâu đã làm rêu phong phủ kín che mờ khuất lấp lối mòn trở về Cố quận nguyên thôn ; cần phải rũ mình ra khỏi ngay những kinh nghiệm mà mình đã tích lũy trong trường đời gai góc đắng cay, cho dù kinh nghiệm đó có được mua bằng máu hay nước. Việc này đòi hỏi phải có một nỗ lực tàn bạo, dã man, kinh khủng mới có thể thi hành được. Cái khó khăn nhất chính là điều mà bất cứ khi nào chúng ta chọc thủng bức màn vô minh phiền não, thì cũng là lúc cuộc đời phỉ nhổ lên án ta, thậm chí chính chúng ta cũng dè bỉu khinh thường chúng ta. Thế nhưng, tội lỗi lớn nhất chính là lúc ta để cho kẻ khác, hay ngoại tại chiếm hữu mình. Và cái tội lớn nhất chính là cái tội để cho Thượng Đế hữu ngã chiếm hữu mình. Chính vì vậy, Novalis mới nói : “Thủ đắc cái Tôi siêu việt của mình, đồng thời là cái Tôi của cái Tôi của mình.” Rimbaud cũng không đi ngoài con đường đó khi chàng nói : “Đả đảo lịch sử !” (A bas l’histoire!). Còn Nietzsche thì gầm rống lên rằng : “Thượng Đế đã chết.” Lúc đó, cả Thượng Đế cũng buộc phải bỏ đi, dùng kiếm báu mà phanh thây mổ gan Thượng Đế, giống như Đan Hà chẻ tượng Phật làm củi xua tan tuyết lạnh mùa đông, giống như Tilopa ăn cá vứt xương bừa bãi ngay trong chánh điện nhà chùa, giống như Eckhart cầu nguyện : “Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi chính ngài.”

Tiếp đến, dù luôn tự nhủ lòng mình phải tự lập, phải tỉnh thức trong từ sát na niệm tưởng, nhưng Musashi vẫn có những giây phút mê vọng, khinh thường người khác. Chi tiết chàng bất cẩn để cụ Osugi chém trúng cườm tay và phóng cây trâm cài tóc vào mắt cho thấy Musashi không chỉ khinh địch, một điều tối kị trong binh thư, mà còn chưa đạt được cái Vô tâm, cái Đại ngã huyền đồng khắp nơi trong vũ trụ. Một khi thể nhập vào Đại ngã ấy thì mọi chi tiết, dầu cho nhỏ nhặt đến đâu, cũng là một nhịp trong tiết điệu của bản giao hưởng vũ trụ mênh mông. Khinh thường cái nhỏ bé đồng nghĩa với việc coi thường và hủy diệt chính mình.

Có thể nói, những chi tiết nhỏ như trên có rất nhiều trong suốt cuộc hành trình đơn độc, gian khổ của Musashi. Mỗi một chi tiết là một bài học đắt giá trong tiến trình mở phơi cảnh giới mà kinh Hoa Nghiêm gọi là Châu biên hàm dung, Hỗ tương nhiếp nhập, Nhất đa tương dung hay Viên dung vô ngại. Tuy nhiên, cơ hội thể nhập cảnh giới vô ngại đó thường diễn ra khi Musashi đối diện với lưỡi gươm của địch thủ. Giữa một bên là sống và một bên là chết, toàn thể con người chàng từ gót chân cho đến sợi tóc trên đỉnh đầu đều tập trung vào đôi mắt đổ ánh xung quang. Như người đi dây giữa vực thẳm, chàng cảm thấy lâng lâng và thân thể nhẹ như bông tuyết lơ lửng giữa không trung. Vũ trụ dường như là sự nối dài của chính mình và chàng dường như muốn tan vào vũ trụ. Mọi sự chỉ còn rỗng không trong suốt đến nỗi chàng thấy mình thấu triệt mọi lý lẽ cơ mật huyền vi lạ lùng.

Sau này chính Musashi đã viết lại trải nghiệm của mình lúc lâm trận : “Trong đấu pháp, bạn phải giữ tâm trạng lúc nào cũng bình thường. Giữa cuộc sống hằng ngày cũng như khi thực hành võ thuật, chẳng chút thay đổi – với tâm trí phơi mở và trực tiếp, không căng thẳng không nghiêm trọng, bạn tập trung tâm trí để không mất quân bình. Trầm lặng thư giãn tâm trí và tận hưởng khoảnh khắc ung dung ấy để sự thư giãn không ngưng lại dù chỉ một chớp mắt.” Trong cái sát na sống chết đó, con người trực nhận được cái lẽ vô thường của vũ trụ. Nhưng chỉ có một nẻo đường duy nhất vượt thoát được lẽ vô thường đó là làm sao cho bản ngã của mình hòa điệu, tương dung, hợp nhất với sự biến dịch không ngừng của vũ trụ một cách như nhiên, tự nhiên, thong dong nhịp nhàng. Chỉ khi nào người cầm kiếm thể nhập vào cảnh giới không còn địch thủ, không khiếm, không còn chiêu thức và cũng không còn chính bản thân người cầm kiếm, thì chính cái lúc – mà Kinh Viên Giác miêu tả là : Sanh tử niết bàn do như tạc mộng – sẽ đưa hành giả vào trạng thái Kiếm thiền Nhất như.

Một khi hành giả không phân biệt sống và chết thành hai trạng thái đối nghịch, nói cách khác là khi tâm bất động, ở vào trạng thái tịch tĩnh hoàn toàn, thì mọi sự phân biệt năng sở tôi anh đều tự chúng tan biến, và cũng vì thế mà mọi sự sợ hãi, hư vô, hố thẳm đều hóa giải, dung nhiếp vào thể tánh Nhất Như bất khả tư nghì. Hơn nữa, tất cả hư vô vực thẳm nhầy nhụa đều có thể hóa thành cực lạc thiên thu. Chính Musashi đã khẳng định : “Dưới lưỡi kiếm đưa cao. Dù gặp địa ngục. Hãy tiến bước. Cực lạc là đây.” Lúc mà hành giả không còn quá khứ để hồi tưởng, cũng không còn tương lai để mơ mộng viễn vông, ngay cả hiện tại cũng không còn là đối tượng biến thành có có không không hay để biểu tượng đặt tên thì cực lạc tiêu diêu sẽ mở phơi thông suốt.

Cuộc chiến với Kojiro đã đưa chàng lần đầu tiên thể nhập vào cảnh giới đó. Lời miêu tả của Yoshikawa về chi tiết này thật là một áng văn hùng tráng bất hủ. Kẻ chiến thắng thì không kiêu căng tự đắc, còn kẻ chiến bại thì mỉm nụ cười an nhiên mãn nguyện hài lòng. Cuộc chiến đẫm máu mà không một chút hận thù oán than. Tất cả diễn ra như một giấc mộng, một cơn mơ, một làn hoa đốm giữa trời không. Kinh Kim Cương đã nói : “Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương như điện chớp. Hãy quán sát như vậy.” Quang cảnh đó vô tình đã nói lên toàn bộ ý nghĩa của Kinh Kim cương. Khi Musashi bỗng thấy người nhẹ tênh như mây nổi giữa trời, thì cũng chính là lúc chàng thể nhập vào ý nghĩa tót vời của lời kinh. Thêm vào đó, giống như kẻ xuất thần, chàng không còn cảm thấy mình đứng trên mặt đất nữa mà như đã huyền đồng với Vô tâm chiếu diệu. Niệm tưởng tới đâu, các bộ phận khác trong cơ thể vận chuyển theo liền đến đó. Không chậm trễ, không ngượng ngùng, không khó khăn, không mảy may sai lệch mà tự nhiên như nhiên thông suốt nhịp nhàng. Có vẻ như khối óc chàng phân thân nằm sẵn trên vai, trên cánh tay, trên bắp chân, ở khắp nơi trong người hắn. Bất kỳ một cử động gì của địch thủ, dù chỉ là một cái chớp mắt, muôn ngàn kinh mạch và thớ thịt của chàng sẽ phản ứng ngay tức khắc. Tâm, thân đạt tới mức hoà đồng, phối hợp như vậy quả là trác tuyệt.

Trận đấu cuối cùng này cũng chính là cái mốc điểm quyết định để Musashi không còn sử kiếm như vật bất ly thân. Thay vào đó, chàng bẻ kiếm và khởi đầu một chặng đường mới gian nan, nguy hiểm và gai góc hơn nhiều. Chàng không còn để tâm chú ý đến kỹ thuật hay chiêu thức. Nhất là ý muốn chiến thắng hay chứng tỏ mình cao siêu hơn kẻ khác đã bị chàng hủy diệt không còn một chút mầm mống bám dễ ăn sâu vào tiềm thức. Người kiếm sĩ Musashi đã đi đến cùng đích của con đường Kiếm đạo, an nhiên tự tại, không còn bị thế sự ràng buộc. Thanh kiếm của họ giờ đây trở thành vô tâm kiếm, và kỹ thuật chiến đấu giờ đây trở thành kiếm vô sở trụ tâm pháp.” Từ đây, Musashi mới đi vào huyền nghĩa của câu nói : “Phùng Phật sát Phật, Phùng Tổ sát Tổ. Phùng ma sát ma.”

Tạm kết

Tổ sư Vương Trùng Dương, khi dạy đạo cho vợ chồng Mã Ngọc và Tôn Huyên Trinh có nói : “Sát sanh thăng thiên đường, phóng sanh đoạ địa ngục.” Henry Miller đã kể câu truyện tên cướp giết người thứ 53 mà lòng chẳng còn chấp trước là mình có bị phạt đọa địa ngục hay không thì lại bỗng nhiên đại ngộ. Trong kinh Bhagavad-Gita, Krishna đã thúc giục Arjuna như sau : “Là một chiến sĩ, bổn phận của ngươi là chiến đấu. Không có gì cao cả cho bằng chiến đấu vì bổn phận. Trốn tránh bổn phận là một tội lỗi, là ô danh. Ô danh còn tồi tệ hơn là chết. Hãy sẵn sàng chiến, không đếm xỉa gì tới vui buồn, được thua sống chết. Arjuna! Hãy đứng lên và thi hành nhiệm vụ.” (Bhagavad-Gita, II, 11-38). Nietzsche cũng đã nói như thế trong Zarathustra : “Mi đi trên con đường cao cả của mi : bây giờ lòng can đảm tối hảo của mi là cảm thấy mi chẳng còn con đường nào sau lưng nữa. Ở đây chẳng còn ai theo mi cả! chính bước chân của mi xóa con đường sau mi và trên con đường của mình có đề biển ‘bất khả!’.”

Một cách nào đó, Musashi cũng đã ngộ ra được rằng, toàn thể càn khôn đại địa mà con người có thể quan sát được đều chỉ là huyễn mộng, là giả tưởng, là phù du. Tuy nhiên, đằng sau những giả tưởng đó chính là cái Đạo, Phật tính, Chân tâm, Tự ngã, Thái cực thì là hằng tồn miên viễn bất diệt. Do đó, lưỡi gươm dù cho có được rèn bằng ngọc thạch hay kim cương thì cũng chỉ là giả hợp. Cái giả hợp, tạm thời, vô thường cũng chỉ có thể hủy diệt những thứ có bản tính tương tự với nó mà thôi. Trái lại, chúng chẳng có thể làm gì gây hại cho cái ẩn tàng mông lung bàng bạc rộng khắp muôn trùng nhân gian. Lo sợ, thương cảm, ưu tư cho chính thân phận mình, thân phận kẻ khác hay bất cứ một sinh vật nào đều chỉ là những thứ tình cảm lảm nhảm, ủy mị, cải lương. Bởi những tình cảm như thế chỉ khiến cho ta bám chấp vào tính vô thường trong từng sát na điệp trùng. Điều đó giống như kẻ qua sông bằng chiếc đò, khi đến bờ bên kia, thấy mình cần phải trả ơn cho chiếc đò, nên tiếp tục vác chiếc đò lên vai để tỏ tấm lòng biết ơn của mình cho người đời ngợi ca. Những kẻ như thế, Krishna cảnh báo rằng : “Ngươi không được tỏ lòng thương hại vì tự ngã không cần lòng thương hại. Các bậc hiền trí không tỏ lòng thương hại đối với người chết cũng như người sống.” (Bhagavad-Gita, II, 16-17). Chính vì thế mà mỗi khi lâm trận, Musashi không bao giờ thương hại hay khinh thường địch thủ. ‘Giết’ chính là bổn phận của chàng. Chàng đã hành động không vì bất cứ một nguyên nhân hay hậu nào của hành động, nên chàng đã được giải thoát. Krishna nói tiếp : “Kẻ nào hành động không vì hậu quả của hành động thì kẻ ấy là người thực sự giải thoát.”

Thêm vào đó, Musashi còn là một con người tự lập theo đúng ý nghĩa nguyên thủy của nó. Toàn bộ cuộc đời của chàng có thể tóm gọn bằng chữ ‘Vô’. Dù chưa bao giờ tham công án ‘Vô’ của Triệu Châu, nhưng suốt cuộc đời Musashi ăn ngủ, ỉa đái, hít thở chữ ‘Vô’ trong lòng mình. Cho đến lúc chàng bẻ kiếm lúc 31 tuổi, tài sản quý giá nhất mà chàng mang theo suốt giai đoạn giang hồ binh biến loạn cuồng, thì chữ ‘Vô’ bất chợt hóa thân thành ‘Hữu’, để rồi 30 năm sau, khi đặt bút viết tác phẩm Ngũ Luân Thư, thì chữ ‘Vô’ lại trở thành ‘Vô’ và ‘Hữu’ lại hóa thành ‘Hữu’. Bao nhát kiếm oan nghiệt chém chết bấy nhiêu mạng người giờ bỗng chỉ còn là một hạt cát chứa đựng cả càn khôn đại địa hay chỉ là nghiệp chướng trùng trùng duyên khởi. Ấy thế mà hạt cát không hề lớn lên và đại địa cũng không hề nhỏ lại. Tâm bình thường đã được Musashi đại ngộ. Cho nên, dù chưa bao giờ đọc Bát nhã tâm kinh, nhưng những lời của ông thì tương đồng một cách kỳ lạ với Bát nhã. Đỗ Hữu Tài đã viết về Musashi trong tác phẩm Như Thị Ngã Văn như sau : “Ông nhận định về thanh kiếm như một ngoại vật vô thường, có đó nhưng không đó; về người múa kiếm như một tha nhân vô ngã, vừa có thật vừa không có thật; về kiếm thuật như một nghệ thuật vô hình vô tướng; và về các kiếm phái khác như cõi ta bà chứa đầy mộng ảo bào ảnh. Cũng trong bốn chương nầy, ông luận về các sách lược đấu kiếm thông qua hai phạm trù diệu hữu và chân không, cho rằng trong vọng tâm, kiếm và kiếm sĩ đều có thật, nhưng không thật có vì giả hợp. Cho nên có đấu kiếm mà vẫn không có kiếm đấu.”

Đây cũng chính là tinh thần ưng vô sở trụ của kinh Kim Cương. Có thể nói, từ nhỏ đến năm 30 tuổi, Musashi tung hoành ngang dọc trong chốn gió tanh mưa máu, biết bao oán hận căm thù chồng chất, biết bao máu nóng tuôn trào, biết bao xương trắng phơi bày trên thảm cỏ non bỗng chốc trở thành mộng, mộng về trùng điệp bủa vây, phù du hư huyễn ngập đầy hư không. Chính tinh thần xả ly vô trụ đó đã giúp Musashi đứng dậy, thanh thoát nhẹ nhàng đưa tay phủi đám bụi hồng, ngẩng đầu gầm rống giữa rừng cô liêu, cho Tâm tĩnh tịch giữa nhiều, điệp trùng dâu bể trăm chiều đa đoan.

Còn nhiều và rất nhiều cái để nói, để bàn về Musashi, nhưng dẫu có viết thêm hàng ngàn trang sách mà bản thân người viết không tinh tấn dũng mãnh, không vi nhật tổn, không lìa tứ cú tuyệt bách phi, không tự nhận là lời quê góp nhặt chỉ để mua vui canh dài, không hủy thể luôn cái hủy thể… thì chẳng những không được ích gì mà còn tốn kém thời gian người đọc người đăng. Sắc tức thị không, không tức thị sắc, viết rồi không viết, rồi không còn cái không viết, rồi không còn cái không còn viết, cho đến khi hư vô tràn về như thác lũ, người viết hóa thành trang giấy tràn đầy chi chít chằng chịt chữ nghĩa, chữ nghĩa hóa thành song kiếm sử dụng vô chiêu lấy máu bôi xóa, chẳng còn dấu vết của chính nó. Trong cái sát na đó, giấy và người, người và giấy hóa thành mênh mông trong tiết tháng ba, nghĩ về kiếm sĩ mà lòng cảm thương, thương cho kiếp sống vô thường, một đêm giao hợp với phường dế giun, máu xương tinh thể muôn trùng, vác gươm chép Phật mịt mùng bủa vây, mang hình với bóng phân thây, lựa hình bỏ bóng cho đầy nhục thân, đem hình bỏ dưới đáy quần, của nường vừa mới vào tuần hành kinh, tụng thầm Bát nhã tâm kinh, có không không có bóng hình hư vô…

Nguyễn Minh Vương

Source : damau.org