Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

(Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)

Kinh Chấm Dứt Tranh Cãi
(Mãnh Quán Phạm Chí Kinh)
Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 11, Đại Tạng Tân Tu 198
tương đương với Cùlaviyùha Sutta, Sutta-Nipàta 878-894



Bối Cảnh

Đây là kinh Mãnh Quán Phạm Chí. Trong một pháp hội có tới năm trăm vị la hán và rất nhiều nhân vật quan trọng, trong đó có bốn vị thiên vương từ bốn phương về nghe pháp. Vị Phạm Chí tên là Mãnh Quán vẫn nghi ngờ rằng không chắc vị đạo sư này (Bụt) là người đã nắm được chân lý tuyệt đối. Do đó Bụt nói kinh này. Khung cảnh dựng lên từ kinh Tạp A Hàm số 11 92 và kinh Trường A Hàm thứ 19.



1. Ai cũng có quan điểm của mình về chân lý, và đối phương cũng thế. Ai cũng nghĩ là mình có cái thấy cao nhất và muốn diễn bày cái thấy ấy ra. Ai có được cái thấy ấy thì người ấy mới thấy được Pháp. Còn những kẻ khác (vì chưa thấy được sự thật này thì) dù đi khắp nơi cũng không thấy được một góc nhỏ nào của sự thật.

2. Vì thiên hạ chấp thủ như vậy nên mới sinh ra tranh cãi loạn xị. Ai cũng nói rằng kẻ kia si mê; ta mới thật sự là người có trí tuệ. Vậy thì trong tất cả các sự thật ấy, cái nào mới thực sự là sự thật? Bởi vì ai cũng nói chỉ có mình là đang nắm được chân lý?

3. Kẻ nào không biết rằng người khác cũng có quan điểm của họ về sự thật thì kẻ ấy vẫn còn mờ ám, vẫn còn thiếu trí tuệ và vẫn còn kẹt vào trong quan điểm của chính mình.

4. Có cái quan điểm rồi thì mới có cái nói và cái làm. Người ta nghĩ rằng nhờ cái thấy đó của họ mà thân họ đã được tịnh hóa và tâm họ được thánh hóa. Nếu ai cũng đúng thì còn có ai sai lầm nữa? Bởi vì ai cũng đang có và cũng đang kẹt vào cái ý của họ?

5. “Đây là sự thật cao nhất, là đỉnh cao trí tuệ.” Người ngu si có thể suy nghĩ và hành xử như thế, và tìm cách dìm kẻ khác xuống. Mình tự cho mình là người duy nhất đã thấy được sự thật. Tự mình còn là kẻ ngu si mà mình cứ nói là người ta ngu si.

6. Hỏi: Ai cũng nói pháp của họ là không ai bằng, rằng kẻ khác vốn chẳng có tuệ giác gì, chỉ biết vay mượn cái thấy của người khác rồi đi vào tranh chấp với người khác. Tại sao bậc đạo sư lại không đưa ra một chân lý duy nhất để tất cả mọi người có thể đi theo?

7. Trả lời: Chân lý chỉ là một, chứ không thể là hai. Nhưng chân lý chỉ có thể tự mình thực chứng. Một khi chứng thực được chân lý ấy rồi thì ta sẽ không còn bị một ai lung lạc được nữa. Nhưng vì đã có bao nhiêu ý tưởng cho nên đã có bấy nhiêu chân lý. Vì vậy bậc sa môn không cần phải nêu ra thêm một học thuyết về chân lý của riêng mình.

8. Có chân lý nào mà người khác chưa nói lên? Nên tin vào ai và vào chủ thuyết nào mà thiên hạ đang rao giảng? Những chủ thuyết được đưa ra là do đâu, hay cũng là chỉ do sự suy nghĩ riêng của từng người mà có?

9. Sự thực là một, nhưng cách diễn bày của tâm ý thì nhiều. Từ những góc độ tri giác khác nhau cho nên có những sự phân biệt lựa chọn khác nhau. Những gì mà con mắt nhận biết, nếu ta bị vướng mắc vào, sẽ làm nẩy sinh ra ý tưởng: cái này đúng và cái này sai.

10. Những gì ta nghe, ta thấy, và cả những giới điều cấm kỵ mà ta đang hành trì cũng đều bắt nguồn từ tâm ý ta. Nếu bị kẹt vào chúng thì ta sẽ dấn thân đi vào vòng tranh luận về những cái thấy khác nhau. Phải chấm dứt lại sự đối chiếu, so sánh, và quán sát xem có chỗ nào sai lầm (nơi tri giác ta) không, nếu không thì sự thực là chính mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm.

11. Mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm, kẻ kia cũng tự cho họ là đẹp là lành và muốn mình đi theo họ. Ai cũng tự khen mình là hay là giỏi, vì vậy cho nên mới sinh ra tranh cãi và oán thù.

12. Giữ chặt tà kiến, chỉ muốn làm thầy thiên hạ, người ta mãn ý tự cho là cái thấy của người ta là chí thiện, tin rằng cái thấy và cái hành của mình là ở ngôi cao nhất, tôi e rằng một người ba hoa như thế tự mình chưa đạt tới đâu cả.

13. Nếu mình cho cái hiểu biết của kẻ kia là sai lạc, là đáng hổ thẹn, thì kẻ kia cũng sẽ cho cái hiểu biết của mình là sai lạc, là đáng hổ thẹn. Nếu tất cả mọi người đều phân biệt và kỳ thị như thế thì trong đời còn ai không phải là kẻ si mê?

14. “Chỉ khi nào bạn chứng nghiệm được chân lý này thì bạn mới có thể nói rằng bạn được tịnh hóa.” Nói như thế thì dễ gây ra biến loạn; đó là nguyên nhân làm phát sinh ra độc đoán, cố chấp và oán hận.

15. Đi theo hành trì một cách khác người, có những kiến giải và những phương pháp thanh lọc khác người, đó không có nghĩa là mình đã đạt tới chân lý tối hậu. Đó là thái độ dẫm chân tại chỗ, làm cho người ta càng ngày càng bị kẹt cứng vào tư kiến của mình.

16. Nếu ai cũng khư khư nắm chặt tư kiến, cho mình là minh triết, thì còn có ai là si mê nữa? Còn có ai để mình chê trách nữa? Nói rằng pháp của kẻ kia không có khả năng tịnh hóa, mình đang sử dụng cái kế đạt của mình để tự cho mình là cao diệu bậc nhất.

17. Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại, kẻ kia dấn thân vào các cuộc tranh chấp loạn xị trong đời. Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác, bậc hiền giả đạt tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác.


Đại Ý

Kinh này nói về thái độ độc quyền về chân lý và những tai hại do thái độ ấy gây ra. Khi ta tin rằng cái thấy của ta là chân lý thì ta cũng tin rằng con đường ta đi là con đường duy nhất đưa tới chân lý. Đây là gốc rễ của độc tài, của bạo động.

Có người đi tìm chân lý bằng cách học hỏi, suy tư, hay đi vay mượn cái thấy của người khác. Cái chân lý ấy không phải là chân lý vì đó chỉ là sản phẩm của trí năng mà không phải là một kinh nghiệm tâm linh mình đã trực tiếp thân chứng. Có bao nhiêu ý tưởng về chân lý là có bấy nhiêu chân lý. Thực ra chân lý chỉ có thể là một, và không thể có hai chân lý chống đối nhau. Kẹt vào cái thấy của mình, điều đó chứng tỏ mình chưa thực chứng được chân lý. Những chủ thuyết được đưa ra là do sự suy nghĩ riêng của từng người. Bài thi kệ thứ chín nói rõ: sự thật là một, những cái thấy về sự thật thì nhiều. Cái thấy là kiến, là tư kiến của từng người. Còn tư kiến là còn tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý. Cho nên kẻ thành đạo không có nhu yếu thuyết giảng về chân lý, mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não. Chân lý không phải là một đối tượng có thể nắm bắt, cho nên người đạt đạo buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này. Ta có thể thấy được sự khai thị này ở bài thi kệ thứ mười bảy.




Bài kệ 1
Nhân các niệm bỉ diệc tri 人 各 念 彼 亦 知   
Các dục thắng tuệ khả thuyết 各 欲 勝 慧 可 說
Hữu năng tri tận thị pháp 有 能 知 盡 是 法
Biến hành cầu mạc ngung giải 遍 行 求 莫 隅 解

Bài kệ 2
Thủ như thị tiện sanh biến 取 如 是 便 生 變
Si kế bỉ ngã thiện tuệ 癡 計 彼 我 善 慧
Chí thành ngôn vân vi đẳng 至 誠 言 云 為 等
Nhất thiết thị thiện ngôn thuyết 一 切 是 善 言 說

Bài kệ 3
Bất tri bỉ hữu pháp vô 不 知 彼 有 法 無
Minh vô tuệ tùy bỉ hiệt 冥 無 慧 隨 彼 黠
Minh nhất thiết thống viễn hiệt 冥 一 切 痛 遠 黠
Sở niệm hành tất bỉ hữu 所 念 行 悉 彼 有

Bài kệ 4
Tiên kế niệm khước hành thuyết 先 計 念 却 行 說
Tuệ dĩ tịnh ý thiện niệm 慧 已 淨 意 善 念
Thị tất bất vọng hiệt giảm 是 悉 不 望 黠 減
Tất sở niệm trước ý chỉ 悉 所 念 著 意 止

Bài kệ 5
Ngã bất cư thị tất thượng 我 不 据 是 悉 上
Ngu khả hành chuyển tướng khiên 愚 可 行 轉 相 牽
Tự kiến cẩn vị khả đế 自 見 謹 謂 可 諦
Tự kỷ si phục thọ bỉ 自 己 癡 復 受 彼

Bài kệ 6
Tự thuyết pháp độ vô cập 自 說 法 度 無 及
Dĩ tự không tham lai đạo 以 自 空 貪 來 盜
Dĩ bát minh chuyển tướng minh 已 八 冥 轉 相 冥
Học hà cố nhất bất đạo 學 何 故 一 不 道

Bài kệ 7
Nhất đế tận nhị hữu vô 一 諦 盡 二 有 無
Tri thị đế bất điên đảo 知 是 諦 不 顛 倒
Vị bất tận đế tùy ý 謂 不 盡 諦 隨 意
Dĩ cố học nhất bất thuyết 以 故 學 一 不 說

Bài kệ 8
Hà đế thị dư bất thuyết 何 諦 是 餘 不 說
Đương tín thùy tận dư thuyết 當 信 誰 盡 餘 說
Nhiêu dư đế đương hà tùng 饒 餘 諦 當 何 從
Tùng hà hữu sanh ý thức 從 何 有 生 意 識

Bài kệ 9
Thức vô dư hà thuyết dư 識 無 餘 何 說 餘
Tùng dị tưởng phân biệt trạch 從 異 想 分 別 擇
Nhãn sở kiến vi trước khả   眼 所 見 為 著 可
Thức nhược khi tận nhị Pháp 識 若 欺 盡 二 法

Bài kệ 10
Văn kiến giới tại ý hành 聞 見 戒 在 意 行
Trước dục hiệt biến tụng kiến 著 欲 黠 變 訟 見
Chỉ giáo kế quán hà tu 止 校 計 觀 何 羞
Thị dĩ si phục thọ bỉ 是 以 癡 復 授 彼

Bài kệ 11
Si hà tùng thụ dữ bỉ 癡 何 從 授 與 彼
Bỉ ỷ khả thiện hiệt ngã 彼 綺 可 善 黠 我
Tiện tự thự thiện thuyết dĩ 便 自 署 善 說 已
Hữu tụng bỉ tiện sanh oán 有 訟 彼 便 生 怨

Bài kệ 12
Kiên tà kiến vọng sư sự 堅 邪 見 望 師 事
Tà hiệt khốc mãn ỷ cụ 邪 黠 酷 滿 綺 具
Thường tự khủng ngữ bất đáo 常 自 恐 語 不 到
Ngã thường giới kiến thị tịch 我 常 戒 見 是 辟

Bài kệ 13
Kiến bỉ đế tà tàm tạng 見 彼 諦 邪 慚 藏
Bổn tự hữu tàm tạng hiệt 本 自 有 慚 藏 黠
Dĩ tất tri hiệt phân biệt 以 悉 知 黠 分 別
Si tất vô hợp hiệt hành 癡 悉 無 合 黠 行

Bài kệ 14
Thị vi đế trụ nãi thuyết 是 為 諦 住 乃 說
Tất khả tịnh tự sở Pháp 悉 可 淨 自 所 法
Như thị thủ tiện loạn biến 如 是 取 便 亂 變
Tự nhân duyên thống trước ô 自 因 緣 痛 著 污

Bài kệ 15
Tùng dị hành đắc giải tịnh 從 異 行 得 解 淨
Bỉ tuy tịnh bất chí tận 彼 雖 淨 不 至 盡
Thị dị học văn tọa an 是 異 學 聞 坐 安
Tự tham câu ngã kiên thịnh 自 貪 俱 我 堅 盛

Bài kệ 16
Tự kỷ thịnh kiên phòng tham 自 己 盛 堅 防 貪
Hữu hà si vi bỉ thuyết 有 何 癡 為 彼 說
Tuy giáo bỉ Pháp vị tịnh 雖 教 彼 法 未 淨
Sanh kế độ tự cao diệu 生 計 度 自 高 妙



Bài kệ 17
Đế trú thích tự tại tác 諦 住 釋 自 在 作
Tuy thượng thế diệc hữu loạn 雖 上 世 亦 有 亂
Khí nhất thiết sở tác niệm 棄 一 切 所 作 念
Diệu bất tác hữu sở tác 妙 不 作 有 所 作

_________________________

Source : LÀNG MAI

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011

thơ nhã ca

thơ nhã ca


Từ Nhã Ca Mới
Tới Nhã Ca Thơ

Năm 1960, tại miền Nam Việt Nam, những bài thơ Nhã Ca thứ nhất xuất hiện lần đầu trên tạp chí Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương. Năm 1964, thơ được ấn hành thành sách Nhã Ca Mới, với Nguyên Sa đề tựa, Dương Nghiễm Mậu viết bạt, Nghiêu Đề vẽ bìa, Duy Thanh, Nguyễn Trung vẽ chân dung, Đằng Giao, Cù Nguyễn, Viên Linh vẽ phụ bản. Tập thơ được trao giải Thi Ca Toàn Quốc. Năm 1972, Thơ Nhã Ca in lần thứ hai tại Sàigòn, gồm thi tập đầu tay, thêm một số bài mới. Khi Cộng Sản chiếm miền Nam năm 1975, tác giả bị cầm tù, nhà cửa tan nát, sách vở bản thảo bị tịch thu. Cả hai tập thơ đều tuyệt bản.

Năm 1989, lần đầu tới Hoa Kỳ, Nhã Ca được tặng một cuốn sách nhỏ bó giây thung, sách bị mối mọt ăn ruỗng, không tờ nào dính tờ nào. Đó chính là tập thơ Nhã Ca Mới, bản in năm 1964.

Năm 1999, Nhã Ca Thơ được ấn hành lần đầu tiên tại Hoa Kỳ, ấn bản tưởng nhớ đến nhà thơ Nguyên Sa và họa sĩ Nghiêu Đề.

(Trích từ Nhã Ca Thơ, Vietbook, USA: 1999)

Những bài thơ được chọn dưới đây, trừ bài Tháng Giêng sáng tác năm 1990, có lẽ có thể đối chiếu với bài Khai Bút, Dặn Vợ, trong cột thơ Trần Dạ Từ ở số này, đều được sáng tác trong thập niên 1960-1970.



Bìa của Thơ Nhã Ca Mới (xuất bản năm 1964) bị mối mọt ăn.

Đi Trong Tuổi Nhỏ

Nàng đã đứng dậy, nàng đã đi
Gió biển mênh mông và nước mắt
Nước mắt tan trong thân thể nàng
Nàng ướt sũng
Và trí nhớ bốc hơi
Trời thì xanh và cao
Nàng thì bé bỏng
Biển xô nàng xuống

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
có một bầy ngựa
Khu vườn rộng, cẳng ngựa dài
Mỗi buổi chiều
Bầy ngựa nô giỡn cùng cô bé
Những buổi chiều không bao giờ tắt

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
có một người đàn bà
Người đàn bà điên và chiếc thanh la
Đi vòng quanh, đi vòng quanh
la hét cùng cô bé
Những tiếng la không bao giờ tắt

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
có mặt trời
Mặt trời và những chàng hiệp sĩ
Những đứa trẻ bụng to hơn đầu
Những người đàn ông đầu to hơn bụng
Và những người đàn bà tong teo
Ngậm kín như miệng hến những nụ cười nhẫn nhục
tất cả được mặt trời nuôi sống

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
có một con đường
Con đường trôi ra biển
Với hai hàng phi lao
Lặp lại những lời ru của mẹ
Hai hàng phi lao và những ghe cá mắm
Cá và mắm ngọt ngào như hơi thở
Đến bây giờ chưa nguôi

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
Có những con rắn con
trườn mình dưới chân ngựa
Và người đàn bà có đôi đũa
Khi đôi đũa giơ lên
Bầy ngựa lồng lộn quanh vườn và mất hút
Những con rắn kêu than
Ngựa hồng ôi ngựa hồng
Ngựa hồng ta đâu, ngựa hồng ta đâu
Chiếc thanh la gào hốt hoảng

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng
có những con dã tràng
Những hòn sỏi trắng và cát vụn
Và rất nhiều những dấu chân bé bỏng
Những con ốc những con rù rì
Và rất nhiều hang hốc
trò chuyện mãi không thôi

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng có tất cả
Tất cả những gì mọi người có thể nghĩ ra
Sự giáo dục buông thả thổi lớn cô bé

Bầy ngựa dạy nàng sự hung hãn
Người đàn bà điên dạy nàng những ảo tưởng
Con rắn dạy nàng sự khôn ngoan
Bầy dã tràng dạy nàng sự tan vỡ
Mặt trời dạy nàng sự nhẫn nhục
Và biển dạy cho nàng khóc lóc

Nàng đã đứng dậy, nàng đã đi
Đi hung hãn đi khôn ngoan đi tan vỡ
đi nhẫn nhục đi khóc lóc
đi trên con đường trôi ra biển

Nàng hỏi thăm bạn bè và biển dịu dàng
Biển dịu dàng trả lời bằng cơn bão mùa đông
Mùa đông ôi mùa đông
Mùa đông làm những bạn bè nàng trốn hết

Nàng đã đứng dậy nàng đã đi
Đi dần về cái chết.

——————————————————————————–

Tháng Giêng
Cỏ lười muốn ngủ vùi trong tuyết
Cây cành trơ trụi khoe xương
Ở Thụy Điển, tháng Tư mới xuân mà
Sao băng giá kéo đi đâu vội vã

Ô hay, vườn ta
Còn sớm sủa gì nữa
Trái oan khiên mới đó, xanh ròn
Muốn chín.
Anh rung cành, em hái trái
Cùng cắn ngập răng
Trái nghiệp chướng đắng nghét, hấp dẫn

Trúng độc rồi, phải không
Cùng tử thương
Chết nhé

Chết đâu có dễ, anh bảo
Còn bao nhiêu là việc
Đành chờ

Sống tiếp hả anh
Ôi môi lửa
Đêm tháng giêng xứ người
Ăn nốt trái oan đang chín đỏ.

——————————————————————————–

Vết Thẹo

Đứa trẻ gái ra đời mang vết thẹo cô đơn
Giữa thời không đói không no không mùi vị
Tôi sống tự do trong thân thể mình
Nghe vết thẹo lớn dần và mọc rễ

Tuổi ấu thơ rồi thoắt tuổi thành niên
Ôi đầu mình tay chân thời trẻ dại
Tôi lớn lên quen mùi vị ái tình
Bước một bước qua hết thời con gái

Đứa trẻ gái ra đời không ai tưởng
Tôi một mình trong vết thẹo thâm sâu
Thân thể rỗng lưu thông từng mảnh vụn
Vết sẹo đau thương lau sậy lút đầu

Không nói không nhìn không tất cả
Tôi mang tính tình mình trong suốt từng ấy năm
Từng ấy năm ngó đời như kẻ lạ
Cuộc chiến trong tôi tiếp diễn lạnh lùng.

——————————————————————————–

Tiếng Chuông Thiên Mụ

Tôi lớn lên bên này sông Hương
Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ
Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ
Cửa từ bi vồn vã bước chân sông
Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng
Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn
Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn
Những sáng chim chiều dế canh gà
Tiếng chuông buồn vui dợn thấu trong da
Người với chuông như chiều với tối

Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi
Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông
Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn
Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy
Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan
Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em
Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền
Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố
Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ
Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời
Đổi họ thay tên viết văn làm báo
Cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo
Của từ bi xưa mất dấu đứa con hư
Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù
Giòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục
Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc
Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da
Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ
Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ
Tiếng chuông xưa bừng sống lại trong tôi
Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi
Chuông òa vỡ trong tôi nghìn tiếng nói
Nhũng mảnh đồng đen như da đêm tối
Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình
Những mảnh đồng đen như máu phục sinh
Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi
Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi
Thức dậy thực sự rồi
Thức dậy cùng giông bão
Thức dậy cùng tan vỡ
Thức dậy cùng lịch sử

Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay
Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay
Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ
Cho con trở về đứng mê sảng ngó.

——————————————————————————–

Đàn Bà Là Mặt Trời

Vườn hoa nào cũng ở trước mặt chúng ta
Mùa xuân nào cũng nở cho ta những bông hồng
Hỡi các chị, chúng ta đều sáng như mặt trời
tinh khiết như bình minh
vì chúng ta làm ra ái tình
ra hoa lá và sự sống trên trái đất

Những người nam đã tán tỉnh chúng ta
và mỗi chúng ta
đã chọn cho lòng mình
một ông vua
trong những người nam đã gặp

Hỡi các chị đến gần tôi coi
Đến gần tôi và cùng rực rỡ
Chúng ta đã tạo nhiều thiên đường
đã tạo nhiều vị vua
Bởi chúng ta đẹp đẽ và xinh tươi
Vì những ham muốn đã tắm rửa chúng ta
Xui chúng ta nóng bỏng như lửa
Và lửa từ mặt trời
thúc dục ta rực rỡ

Chị có đôi mắt sâu như giếng nước phương Nam
Chị có tóc mun đen như giòng sông đêm Ai Cập
Chị có lòng nồng nàn, dữ dội như biển đông
Chị có ái tình ngọt như mật ong
Tôi sẽ tới van xin các chị
nài nỉ cho tôi mượn tất cả
để tôi khoe với chàng
đem tới cho chàng
dâng hiến chàng
để chàng nâng niu
coi tôi như công chúa

Người đàn bà nào cũng đẹp
Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta
Chúng ta ban phát ái tình
Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi
Chúng ta mua từ núi cao
những màu xanh rất non
mua từ rừng
những lá cây rất vàng
mua từ đất
những giếng nước rất ngọt
và từ biển
trân châu cùng ngọc bích
để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ
Chúng ta góp sông biển núi đồi trên thân thể
và rừng trong tóc
Tôi sẽ hỏi mượn các chị
mọi thứ xinh đẹp và nóng bỏng
tôi sẽ gõ các cánh cửa im lặng thật nhẹ
để chàng kinh hoàng nhận ra tôi

Tôi sẽ làm rụng những giọt sương
đang lóng lánh trong hồn chàng
những giọt sương sẽ rụng và làm nên hài nhi
cùng sự sống
cho thiên đàng của chúng ta đông đúc và vui tươi

Tôi sẽ là mặt trời trong lòng chàng
Buổi mai nào cũng lộng lẫy rực rỡ
Tôi sẽ mát như trăng nhưng cũng nóng hơn lửa
hơn cát ở sa mạc
hơn cả cơn giận của trận hồng thủy trong thánh kinh
Bởi tôi là đàn bà
người đàn bà nào cũng xinh đẹp
cũng làm ra sự sống

Hỡi các chị chúng ta nối tiếp nhau đẹp mãi
Để những bóng hoa của mùa xuân
phải quanh quẩn chiêm ngưỡng
Hỡi các chị hãy đến đây và làm điên đảo
sự quay cuồng vui thú của trái đất

Chúng ta luôn luôn xinh đẹp và ở trên cao
Các chị có đôi vú ngọc bích
Có da sữa, tóc dài
Có má hiền, môi mật
Đừng để những kẻ đi săn lạc đường
Hãy dẫn dắt và tội nghiệp họ
Hãy hung dữ với họ như sư tử
Hãy dịu dàng với họ như nai
Để họ quay như trái đất quanh mặt trời
là chúng ta, mãi mãi
Và chúng ta cho họ đủ ngày đêm sáng tối
Tôi sẽ lùa bóng tối thật đầy vào đêm của chàng
nhũng ánh sáng nóng bỏng cho ngày của chàng

Chúng ta là những người nữ xinh đẹp
Xinh đẹp hơn mọi loài trên trái đất
Chúng ta có lòng ghen mạnh như bão
Chúng ta có sự tinh khiết trong như trăng
Chúng ta có thịt da, có núi, có rừng
Chúng ta đỏ như mặt trời
đen như đêm
và vàng như lửa

Tôi cũng có một ông vua cho ái tình tôi
Tôi đã chọn chàng
để sự sống tràn trên trái đất
Tôi sẽ đi góp nhặt từ mặt trời
từ phương đông, phương tây,
từ những buổi sớm mai
những sữa, kem và mật để làm nên rượu ngọt
để pha hương thơm lên thân thể mãi mãi
trên da thịt tôi mà chàng yêu dấu

Cám ơn Thương Đế đã cho tôi đôi vú
cho tôi da mịn và tóc dài
cho tôi rực rỡ như mặt trời
Để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt
tràn trên trái đất

Hỡi các chị hãy đến nhìn tôi coi
Hỡi các chị vô cùng khả ái và xinh tươi
Hãy đến nhìn tôi coi
Tôi đang đỏ, đang đen
đang làm ra nước làm ra lửa.

——————————————————————————–

Đêm 64

Một đêm tối mở mắt trên nền trời
Không còn tiếng động nào ngoài tiếng ì ầm
trong lòng dân phố
Không một tiếng động nào trong chúng tôi
Trong đám đông đen như đêm đồng lõa

Đêm thì dầy và mượt như nhung
Đất thì tối và sần như núi
Đám đông thì đen và dài như sông
Tôi thì trơn và trườn như rắn

Không phải ghế nào trong công viên
cũng có người
Những người ngồi trên đó
Không nói không ngủ và không ăn

Tất cả thở trong đêm nhừ tử
Thở trong đêm và thở trong tôi
Thở trong lịch sử

Ôi Việt Nam Việt Nam
Sao thức hoài không ngủ.

——————————————————————————–

Một Cảnh Cúp Điện

Hòn bi lăn trên đá hoa xanh
quả bong bóng nhẩy cỡn
dưới gầm bàn con búp bê cụt tay
dương mắt nhìn
một chú kiến lạnh lùng đang bò tới.

Ăn thua gì tôi, cớ chi tôi ngó mãi
ngọn điện tắt.

Thôi hãy thắp một cây nến
Một cây nến trên bàn
Cây nến lúc lắc cháy và nghe
nghe rồi sợ hãi tắt

Gió thả cửa xóa căn phòng mênh mông
và bây giờ chỉ còn
Con thạch sùng đang đắc thắng chắc lưỡi.

——————————————————————————–

Vết Chân Con

Tôi bây giờ đứng thu thân
Sống cam phận nhỏ chia phần an vui
Cây mang nặng vết thương người
Phố xưa tiếng động đã vùi lấp anh
Cổng rào nhỏ dấu chim xanh
Nỗi bi thương cũ xin dành phút giây
Vết chân con lẫn bóng ngày
Lá bi quan thoắt rơi đầy tuổi thơ.

——————————————————————————–

Lời Dỗ Cho Con

Những ánh nến sáng lên rồi vụt tắt
con nằm yên và ngủ nghìn năm
ngủ trong nôi đời và trong mái đất
nhà của con dun dế đến trông nom

Mặt trời sẽ tới thăm con buổi sáng
dỗ dành con và tắm gội cho con
trên mộ đá nở một loài hoa đỏ
nâng mưa sương và ủ nắng vàng

Và đêm tối, bầy dế sẽ dẫn con đi dạo
bầy đom đóm thắp đèn cho con soi đường
mùa hạ có ve sầu hòa nhạc
mùa thu có biết bao tơ trời để thả diều
biết bao lá vàng để làm thuyền
còn đất ôm con, âu yếm con luôn luôn
đất sẽ tắm rửa cho con bằng nước mắt
cùng bài ca của mẹ chưa kịp ru con ngủ

Gió sẽ mang đi rất xa
ván rồi cũng mục
nhưng con không bao giờ lớn
cũng không bao giờ già

Con có ngày có đêm
Con vĩnh cửu như đất.

nhã ca
♦ 30.06.2007


Source : damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu ♦

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Trần Ngọc Cư - “Thoảng bay theo gió” của Bob Dylan...

Nghệ thuậtÂm nhạc

Trần Ngọc Cư
“Thoảng bay theo gió” của Bob Dylan - Bài hát dành cho giới cầm quyền vô cảm

Bob Dylan sinh năm 1941, mang tên Robert Zimmerman. Xuất thân từ một địa phương khiêm tốn, thị trấn Duluth thuộc bang Minnesota, Bob Dylan bắt đầu hành trình âm nhạc của mình bằng cách chơi guitar và harmonica ở các quán cà phê và các hội quán khác chung quanh khu học xá cuả đại học Minnesota. Tài nghệ “cây nhà lá vườn” của ông có kẻ khen, người chê. Nhưng nếu ông chỉ nấn ná ở một góc quê hương mà không gặp nhạc sĩ dân ca nổi tiếng Woody Guthrie ở New York thì chắc đời ông cũng chỉ kết thúc âm thầm và đơn độc như bao nhiêu người xuất thân nơi sinh quán của ông.

Vào thập niên 1960 Bob Dylan là thần tượng nhạc rock-dân-ca và là tác giả của bài hát phản kháng nổi tiếng của thời đại, “Blowin’ in the Wind". Ông đi theo truyền thống của những người viết nhạc phản kháng khác, tức là qua lời ca tiếng hát tìm cách đánh thức lương tâm của giới quyền lực và kêu đòi chấm dứt những tình trạng bất công và bất nhân trong xã hội. Cùng với Joan Baez và các nhạc sĩ dân ca nổi tiếng đương thời, tiếng hát của ông cổ vũ cho Phong trào tranh đấu đòi dân quyền và phản đối Chiến tranh Việt Nam.

Sau bốn mươi năm được hàng chục triệu người nghe khắp thế giới, ca từ của “Blowin’ in the Wind" vẫn còn rất đương đại, bởi vì chính trong Thời đại Thông tin này vẫn còn những giới thống trị tiếp tục thờ ơ vô cảm trước đau thương của đồng loại.

Cũng như ca từ của Trịnh Công Sơn, ca từ của Bob Dylan chứa đựng nhiều thi ảnh (poetic images), hay nói thế khác, có nhiều chất thơ. Người ta không thể phủ nhận rằng ca từ của nhiều bài hát cũng chính là thơ và có thể đây là dạng thức thi ca phù hợp nhất trong Thời đại Thông tin này. Một phần nhờ âm nhạc trợ lực, một phần vì chủ đích của người viết ca từ là trực tiếp tác động cảm thức của người nghe, nên thơ trong ca từ luôn luôn có tham vọng nhắm vào đại chúng. Thơ không chỉ sống bằng “con chữ”, mà tồn tại được cũng nhờ “con âm”, nói theo nhà thơ Dương Tường. Ca từ không đòi hỏi người nghe phải động não để giải mã các biểu tượng như họ gặp phải khi đọc các bài thơ theo chủ nghĩa hiện đại (modernism).

Blowin' in The Wind
(Thoảng bay theo gió, bản dịch của Trần Ngọc Cư)

How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
How many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, 'n' how many times must the cannon balls fly
Before they're forever banned?
The answer, my friend, is blowin' in the wind,
The answer is blowin' in the wind.

Bao nhiêu nẻo đường một kẻ ngược xuôi
Trước khi bạn mới gọi nó là người?
Bao nhiêu biển khơi bồ câu sải cánh
Trước khi về nằm trong cát ngủ vùi?
Phải bao nhiêu lần tên bay đạn bắn
Trước khi vũ khí bị cấm đời đời?
Lời đáp, bạn ơi, thoảng bay theo gió,
Câu trả lời đà theo gió thoảng bay.

Yes, 'n' how many years can a mountain exist
Before it's washed to the sea?
Yes, 'n' how many years can some people exist
Before they're allowed to be free?
Yes, 'n' how many times can a man turn his head,
Pretending he just doesn't see?
The answer, my friend, is blowin' in the wind,
The answer is blowin' in the wind.

Phải bao nhiêu năm hòn núi ù lì
Trước khi núi kia bị trôi xuống biển?
Phải bao nhiêu năm người ta hiện diện
Trước khi được làm những kẻ tự do?
Biết bao nhiêu lần một người ngoảnh mặt
Giả vờ như là không thấy không nghe?
Lời đáp, bạn ơi, thoảng bay theo gió,
Câu trả lời đà theo gió thoảng bay.

Yes, 'n' how many times must a man look up
Before he can see the sky?
Yes, 'n' how many ears must one man have
Before he can hear people cry?
Yes, 'n' how many deaths will it take till he knows
That too many people have died?
The answer, my friend, is blowin' in the wind,
The answer is blowin' in the wind.

Phải bao nhiêu lần một kẻ ngó lên
Mới nhìn thấy ra bầu trời xanh thắm?
Bao nhiêu lỗ tai một người phải sắm
Mới nghe được là có tiếng kêu than?
Bao nhiêu mạng người phải chịu thác oan
Hắn mới hiểu ra quá nhiều người chết?
Lời đáp, bạn ơi, thoảng bay theo gió,
Câu trả lời đà theo gió thoảng bay.


TNC -8/2007
Source : Talawas

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011

Liu Xiaobo - I Have No Enemies: My Final Statement

The Nobel Peace Prize 2010
Liu Xiaobo


I Have No Enemies: My Final Statement

Apell (Oslo, 10. desember, 2010)

[TRANSLATION BY HRIC*]

In the course of my life, for more than half a century, June 1989 was the major turning point. Up to that point, I was a member of the first class to enter university when college entrance examinations were reinstated following the Cultural Revolution (Class of ‘'77). From BA to MA and on to PhD, my academic career was all smooth sailing. Upon receiving my degrees, I stayed on to teach at Beijing NormalUniversity. As a teacher, I was well received by the students. At the same time, I was a public intellectual, writing articles and books that created quite a stir during the 1980s, frequently receiving invitations to give talks around the country, and going abroad as a visiting scholar upon invitation from Europe and America. What I demanded of myself was this: whether as a person or as a writer, I would lead a life of honesty, responsibility, and dignity. After that, because I had returned from the U.S. to take part in the 1989 Movement, I was thrown into prison for "the crime of counter﷓revolutionary propaganda and incitement." I also lost my beloved lectern and could no longer publish essays or give talks in China. Merely for publishing different political views and taking part in a peaceful democracy movement, a teacher lost his lectern, a writer lost his right to publish, and a public intellectual lost the opportunity to give talks publicly. This is a tragedy, both for me personally and for a China that has already seen thirty years of Reform and Opening Up.
When I think about it, my most dramatic experiences after June Fourth have been, surprisingly, associated with courts: My two opportunities to address the public have both been provided by trial sessions at the Beijing Municipal Intermediate People's Court, once in January 1991, and again today. Although the crimes I have been charged with on the
Twenty years have passed, but the ghosts of June Fourth have not yet been laid to rest. Upon release from Qincheng Prison in 1991, I, who had been led onto the path of political dissent by the psychological chains of June Fourth, lost the right to speak publicly in my own country and could only speak through the foreign media. Because of this, I was subjected to year﷓round monitoring, kept under residential surveillance (May 1995 to January 1996) and sent to Reeducation﷓Through﷓Labor (October 1996 to October 1999). And now I have been once again shoved into the dock by the enemy mentality of the regime. But I still want to say to this regime, which is depriving me of my freedom, that I stand by the convictions I expressed in my "June Second Hunger Strike Declaration" twenty years ago ﷓ I have no enemies and no hatred. None of the police who monitored, arrested, and interrogated me, none of the prosecutors who indicted me, and none of the judges who judged me are my enemies. Although there is no way I can accept your monitoring, arrests, indictments, and verdicts, I respect your professions and your integrity, including those of the two prosecutors, Zhang Rongge and Pan Xueqing, who are now bringing charges against me on behalf of the prosecution. During interrogation on December 3, I could sense your respect and your good faith.
Hatred can rot away at a person's intelligence and conscience. Enemy mentality will poison the spirit of a nation, incite cruel mortal struggles, destroy a society's tolerance and humanity, and hinder a nation's progress toward freedom and democracy. That is why I hope to be able to transcend my personal experiences as i look upon our nation's development and social change, to counter the regime's hostility with utmost goodwill, and to dispel hatred with love.
Everyone knows that it was Reform and Opening Up that brought about our country's development and social change. In my view, Reform and Opening Up began with the abandonment of the "using class struggle as guiding principle" government policy of the Mao era and, in its place, a commitment to economic development and social harmony. The process of abandoning the "philosophy of struggle" was also a process of gradual weakening of the enemy mentality and elimination of the psychology of hatred, and a process of squeezing out the "wolf's milk" that had seeped into human nature. It was this process that provided a relaxed climate, at home and abroad, for Reform and Opening Up, gentle and humane grounds for restoring mutual affection among people and peaceful coexistence among those with different interests and values, thereby providing encouragement in keeping with humanity for the bursting forth of creativity and the restoration of compassion among our countrymen. One could say that relinquishing the "anti﷓imperialist and anti﷓revisionist" stance in foreign relations and "class struggle" at home has been the basic premise that has enabled Reform and Opening Up to continue to this very day. The market trend in the economy, the diversification of culture, and the gradual shift in social order toward the rule of law have all benefitted from the weakening of the “enemy mentality." Even in the political arena, where progress is slowest, the weakening of the enemy mentality has led to an ever﷓growing tolerance for social pluralism on the part of the regime and substantial decrease in the force of persecution of political dissidents, and the official designation of the 1989 Movement has also been changed from "turmoil and riot" to "political disturbance." The weakening of the enemy mentality has paved the way for the regime to gradually accept the universality of human rights. In [1997 and] 1998 the Chinese government made a commitment to sign two major United Nations international human rights covenants, signaling China's acceptance of universal human rights standards. In 2004, the National People's Congress (NPC) amended the Constitution, writing into the Constitution for the first time that "the state respects and guarantees human rights," signaling that human rights have already become one of the fundamental principles of China's rule of law. At the same time, the current regime puts forth the ideas of “putting people first" and "Creating a harmonious society," signaling progress in the CPC's concept of rule.
I have also been able to feel this progress on the macro level through my own personal experience since my arrest.
Although I continue to maintain that I am innocent and that the charges against me are unconstitutional, during the one plus year since I have lost my freedom, I have been locked up at two different locations and gone through four pretrial police interrogators, three prosecutors, and two judges, but in handling my case, they have not been disrespectful, overstepped time limitations, or tried to force a confession. Their manner has been moderate and reasonable; moreover, they have often shown goodwill. On June 23, I was moved from a location where I was kept under residential surveillance to the Beijing Municipal Public Security Bureau's No. 1 Detention Center, known as "Beikan." During my six months at Beikan, I saw improvements in prison management.
In 1996, I spent time at the old Beikan (located at Banbuqiao). Compared to the old Beikan of more than a decade ago, the present Beikan is a huge improvement, both in terms of the "hardware" ﷓ the facilities ﷓ and the "software" ﷓ the management. In particular, the humane management pioneered by the new Beikan, based on respect for the rights an integrity of detainees, has brought flexible management to bear on every aspect of the behavior of the correctional staff, and has found expression in the "comforting broadcasts," Repentancemagazine, and music before meals, on waking and at bedtime. This style of management allows detainees to experience a sense of dignity and warmth, and stirs their consciousness in maintaining prison order and opposing the bullies among inmates. Not only has it provided a humane living environment for detainees, it has also greatly improved the environment for their litigation to take place and their state of mind. I've had close contact with correctional officer Liu Zheng, who has been in charge of me in my cell, and his respect and care for detainees could be seen in every detail of his work, permeating his every word and deed, and giving one a warm feeling. It was perhaps my good fortune to have gotten to know this sincere, honest, conscientious, and kind correctional officer during my time at Beikan.
It is precisely because of such convictions and personal experience that I firmly believe that China's political progress will not stop, and I, filled with optimism, look forward to the advent of a future free China. For there is no force that can put an end to the human quest for freedom, and China will in the end become.a nation ruled by law, where human rights reign supreme. I also hope that this sort of progress can be reflected in this trial as I await the impartial ruling of the
collegial bench ﷓ a ruling that will withstand the test of history.
If I may be permitted to say so, the most fortunate experience of these past twenty years has been the selfless love I have received from my wife, Liu Xia. She could not be present as an observer in court today, but I still want to say to you, my dear, that I firmly believe your love for me will remain the same as it has always been. Throughout all these years that I have lived without freedom, our love was full of bitterness imposed by outside circumstances, but as I savor its aftertaste, it remains boundless. I am serving my sentence in a tangible prison, while you wait in the intangible prison of the heart. Your love is the sunlight that leaps over high walls and penetrates the iron bars of my prison window, stroking every inch of my skin, warming every cell of my body, allowing me to always keep peace, openness, and brightness in my heart, and filling every minute of my time in prison with meaning. My love for you, on the other hand, is so full of remorse and regret that it at times makes me stagger under its weight. I am an insensate stone in the wilderness, whipped by fierce wind and torrential rain, so cold that no one dares touch me. But my love is solid and sharp, capable of piercing through any obstacle. Even if I were crushed into powder, I would still use my ashes to embrace you.
My dear, with your love I can calmly face my impending trial, having no regrets about the choices I've made and optimistically awaiting tomorrow. I look forward to [the day] when my country is a land with freedom of expression, where the speech of every citizen will be treated equally well; where different values, ideas, beliefs, and political views ... can both compete with each other and peacefully coexist; where both majority and minority views will be equally guaranteed, and where the political views that differ from those currently in power, in particular, will be fully respected and protected; where all political views will spread out under the sun for people to choose from, where every citizen can state political views without fear, and where no one can under any circumstances suffer political persecution for voicing divergent political views. I hope that I will be the last victim of China's endless literary inquisitions and that from now on no one will be incriminated because of speech.
Freedom of expression is the foundation of human rights, the source of humanity, and the mother of truth. To strangle freedom of speech is to trample on human rights, stifle humanity, and suppress truth.
In order to exercise the right to freedom of speech conferred by the Constitution, one should fulfill the social responsibility of a Chinese citizen. There is nothing criminal in anything I have done. [But] if charges are brought against me because of this, I have no complaints.
Thank you, everyone.

Translator's Notes
Based on a translation by J. Latourelle.

Copyright © The Nobel Foundation 2010

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Nguyên Sa

tiểu luận

Khánh Phương








NGUYÊN SA



Nhà thơ Nguyên Sa không chỉ đem đến cho thơ ca miền Nam và thi ca tiếng Việt nói chung của nửa sau thế kỷ XX một giọng trữ tình mới mẻ, nồng hậu, thừa thãi xúc cảm và rúng động, không hề chủ trương chừng mực, mà còn là người sớm cách tân thơ từ tâm thức hiện sinh nóng bỏng nỗi lo âu của đời sống đương thời.

Rất ít tiếp nhận những ảnh hưởng thi ca tượng trưng hay siêu thực của thế giới kể từ cuối thế kỷ XIX tới nửa đầu thế kỷ XX, thơ Nguyên Sa là dòng chảy tự nhiên hướng tới sự nhuần nhị, từ một vài lối thi tứ Đông phương kết hợp với lối tạo hình ảnh trực quan, “vật thể hoá”, ý tưởng hoá, tiến xa khỏi ngôn ngữ ước lệ cổ thi hay cảm quan hiện đại khởi đầu của các nhà thơ tiền chiến, như một cách thức tự nhiên bộc lộ tâm thế trong trẻo hồn hậu và những tổn thương chưa từng có của con người Việt Nam trong thời cuộc mới.

Nguyên Sa chủ trương sáng tạo thi ca thoát khỏi đơn vị “âm vận” để đạt tới lối thơ tự do, bao hàm nhạc điệu nội tại tuôn chảy nhờ vào ám ảnh và những vận động riêng của tâm thức nhà thơ. Cũng trong quá trình này, sự đổi mới về mặt hình ảnh cũng như ý tưởng đồng thời xảy đến, phần nào ngoài tầm ý thức của nhà thơ, như một bước chuyển hoá tất yếu của thế giới thơ.



* * *



Bài thơ đầu tiên được công bố rộng rãi của Nguyên Sa, “Tiễn biệt”, viết năm 1953. “Paris” và “Paris có gì lạ không em” viết năm 1954, 1955. “Nga”, “Nga đầy ắp Paris là bài thơ tình đầu tiên” năm 1955. Nhưng có thể xem sự nghiệp thơ Nguyên Sa chính thức được khởi đi từ năm 1956, khi ông từ Paris trở về miền Nam Việt Nam. “Thơ tình của những ngày tháng hôn nhân đến trước thơ tình tuổi học trò”. “Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba, Tháng Sáu trời mưa, trình làng ở Sáng Tạo những năm 56- 57”. (Theo Hồi ký Nguyên Sa) Viết lại những bài thơ tình, kể từ thơ tình học trò hay những hồi ức ở thời điểm quan trọng khác, ít phụ thuộc vào thực trạng và tuổi tác người viết hiện tại, với một bút pháp nhuần nhị, tương đối ổn định, là biểu hiện sự trưởng thành về mặt ý thức nhà thơ.[1]

Nguyên Sa là một trong những giọng thơ đầu tiên, sớm nhất khơi nguồn dòng chảy thơ miền Nam (thơ miền Nam như một cách định danh mang tính chất văn học sử chứ không thể hiện tính khu biệt về địa lý). Vừa tiếp nối những giá trị của thơ tiền chiến: giải phóng khỏi lối cảm xúc ước lệ, mô tả thế giới trong hiện thực trực quan, bước đầu khám phá thế giới của tiềm thức và giấc mơ, nhưng đồng thời cũng tạo ra khoảng cách đối với dòng thơ tiền chiến bằng những giá trị riêng biệt, ngay khi các vị chủ suý của dòng thơ ấy vẫn còn tiếp tục đồng hành trên thi đàn, như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng...

Thoát khỏi một kiểu chủ thể phiếm định nhân danh các giá trị tinh thần của đời sống Trung đại (nho phong, lãng tử, nhân nghĩa, chí khí, mệnh bạc, chinh an, viễn xứ...) các nhà thơ tiền chiến mặc lòng khơi ngỏ thế giới đầy hương sắc thi vị của xúc cảm và rúng động, nhất là trong luyến ái hay những lãnh địa phiêu bồng của giác quan: say, điên, mơ... Nhưng ngay cả khi để lại dấu tích cá nhân hay cố gắng cá nhân hoá con người trong thi ca, nhà thơ tiền chiến vẫn chưa dời xa khỏi việc bộc lộ con người thi ca căn bản bằng những biểu hiện ước lệ.[2]

Con người thi ca được cá nhân hoá tối đa,[3] gắn liền với thể trạng, tâm tính, biến cố, tri thức, vận mệnh của người làm thơ trong những mối liên hệ với thời đại, sớm xuất hiện trong thơ miền Nam từ những năm cuối thập kỷ 1950.

“Con người ấy” đem cả những hoang mang thời cuộc, dưới góc độ cá nhân, hay những sự kiện riêng tư vào thơ.

Vì thế, nói đời thơ Nguyên Sa trực tiếp gắn liền với thời kỳ ông sống và viết ở miền Nam, và từ sau 1975 trở đi, ở hải ngoại, là nói tới một tâm thức sáng tạo nảy nở từ chính miếng ăn, hơi thở, từ tồn tại bao gồm cả con người sinh vật, con người thời cuộc và con người tinh tuý... để làm thành thi ca.

Con người trong thơ miền Nam không chỉ có luyến ái và những rúng động tinh khiết hay đau thương cao quý như thời kỳ thơ tiền chiến, mà còn là con người yếu lòng, thất bại, bi thảm hay hàm chứa bản năng sinh vật. Nghĩa là con người với “tính người” rộng lớn hơn.

Ngay từ những bài thơ tình của thời kỳ đầu thơ Nguyên Sa, như “Áo lụa Hà Đông” ra đời vào tháng 5- 1957, “Mưa tháng Sáu”..., nhà thơ đã bộc lộ con người cá nhân yêu đương và chứng nghiệm một cách dốc lòng, cuồng phóng, không hề ý thức về bất cứ một giới định nào, đan xen không phân biệt với con người luôn thảng thốt, hồ nghi, tự vấn về tồn tại. Đó là hai mặt của cùng một bản thể đã bị tước mất nơi trú ẩn về tâm tưởng, tước mất cảm giác hài hoà yên ổn của lòng tin vào cái bền vững, có thực, bản thể chênh vênh, vô hướng, bị đe doạ và dồn đuổi đến những giới hạn.

Khởi đầu là không gian tâm tưởng thuần khiết mang những dấu ấn thực tại:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng...

Thoạt tiên câu thơ tưởng như chỉ là lời xưng tụng thi vị hoá.

Nhưng chưa ai thực hiện cú ẩn dụ lạ lùng bằng địa danh như Nguyên Sa. Không phải địa danh phiếm chỉ, nhằm nói sự chia cách trong luyến ái (Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào - Nguyễn Bính), ý nghĩa địa- văn hoá có thực của “Sài Gòn” hay “Hà Đông” khiến cho câu thơ không còn là những liên tưởng đơn thuần, hay sự tương đồng về cảm giác. Nó đặt người đọc trước một hiện tại rõ ràng chứ không nệ vào khả năng làm đầy những gì thiếu hụt, xoá nhoà ranh giới địa vật lý vốn dồi dào của tâm tưởng để tuỳ thích tạo ra mộng ảo.

Hình bóng người tình trong thơ Nguyên Sa hết sức lạ thường:

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn / Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh ...

Mượn lối hình ảnh đăng đối trong thơ cổ, Nguyên Sa tạo nên một thực tại khác lạ, không còn ranh giới giữa hiện hữu với ý niệm trừu tượng. Cái mơ hồ của ý niệm được thay thế bằng cảm giác vật chất có thực để trở nên gần gũi, mang đậm những dấu ấn giác quan.

Em không nói đã nghe lừng giai điệu / Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh

Một lối liên tưởng quen thuộc, nhưng vẫn đậm vẻ cực đoan, không tưởng, tạo ra thực tại khả thể của tâm trí.[4]

Sau này, ý tưởng ít nhiều hiện sinh đó tương đồng và trở lại trong cảm quan siêu hình Đông phương nhuần nhị với ca từ Trịnh Công Sơn những năm 1960:

... Dù em khẽ bước không thành tiếng / cõi đời bao la vẫn ngân dài

(“Vẫn có em bên đời”)
... Người đi vẫn đi / chiều qua vẫn qua

(“Hành hương trên đồi cao”)
Con người trong thơ Nguyên Sa vừa bị đẩy vào tình thế phải hồ nghi tồn tại và nhận biết của bản thân, vừa chủ động tạo ra những tồn tại mới:

Người về đêm nay hay đêm mai / Người sắp đi chưa hay đi rồi ... Sao người đi sâu vào không gian trong / Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông / Và sao lòng tôi không là vô tận / Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song ... Người về, lòng tôi buồn , hay lòng tôi vui / Áo không có màu nên áo cũng chưa phai / Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ / Tôi đưa người hay tôi đưa tôi ?

Không còn cảm giác chắc chắn về tồn tại, Nguyên Sa biến cái mênh mông vô định mà ông khát khao chứng nghiệm, cầm nắm, thành những sự vật vừa cụ thể vừa mơ hồ, đứng ngoài luật định của cả hiện hữu lẫn vô hình: bức tường dày mênh mông, áo không có màu...

Ông tạo ra cho con người những khả thể tồn tại để tương xứng với cái mênh mông của cõi đời:

... Và hãy nói năng những lời vô nghĩa / Hãy cười bằng mắt ngủ bằng vai / Hãy để môi rót rượu vào môi / Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn ... Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt / Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan / Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn / Nếu em sợ thời gian dài vô tận ...

... Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng / Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân ...

Nỗi “bấn loạn” của kẻ đang yêu tới mức không còn tự chủ, hoặc là trước hạnh phúc ngoài sức tưởng tượng, hoặc trước một nguy cơ chưa biết, bộc lộ chính trạng thái bản năng, bị dồn đuổi bởi những khao khát và bất ổn của tồn tại. Sự hoán đổi trạng thái và các giác quan đem lại một thực tại rạn vỡ khỏi nhận biết thông thường, một thế giới phải chấp nhận xáo trộn và bất ổn, đến từ xáo trộn của tâm can.

Dừng ở ngưỡng cửa cảm xúc nhục thể mà không bận tâm hơn đến những biểu hiện của nó, nhà thơ muốn khắc hoạ tình yêu và con người ở trạng thái ham muốn, khao khát chứ không phải đã chứng nghiệm hay được thoả mãn.[5] Tình yêu ở dạng “ẩn ức” mới là khoảnh khắc hiệu nghiệm để con người giác ngộ cùng lúc ý nghĩa tuyệt vọng, không bao giờ có thể viên mãn của tồn tại, ý nghĩa chớp thoáng của hiện hữu trong vô cùng không gian và lớp lớp thời gian.

Tuy nhiên, khoảnh khắc khám phá bùng nổ về cảm giác hiện sinh có sức mạnh đẩy lùi xoá nhoà những ám ảnh trừu tượng, vô biên như “cuộc đời”, “thời gian dài vô tận”, “ánh sáng”, “mùa xuân”...

Con người trong thơ Nguyên Sa coi những hệ luỵ, phiền não, thậm chí cả đoạ đày về tinh thần lẫn thể xác là điều bình thường của tình yêu cũng như cõi sống, chứ không hi vọng một cõi của lạc thú hay thống khổ đều thanh cao như quan niệm trước đây:

... Em đã khóc , anh đã khóc và chúng mình đã khóc / Bước chân lê trên những hè phố không quen / Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim / Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới lễ xin ...

(“Nga”)
Để cuộc nghênh đón ta được thêm phần trọng thể: những người con gái ngây thơ hãy trở về nhà đi ngủ sau khi đánh răng rửa mặt chải đầu và đọc kinh cầu nguyện ban đêm / Những nhà phê bình văn nghệ rẻ tiền , những thầy giáo chạy điểm trong kỳ thi trốn ngay vào bóng tối...

(“Hịch”)
Đam mê luyến ái là nguồn động lực, xung năng sống quan trọng. Trong thơ Nguyên Sa, nó trở thành biểu hiện huy hoàng nhất mà cũng bao hàm khía cạnh thống khổ, sầu luỵ, với những đen tối chưa lường trước của tồn tại, bởi nó là thứ tình yêu được báo động bằng kết cuộc bi thảm tất yếu.

Con người luyến ái và con người bàng hoàng, âu lo về tồn tại trong thơ Nguyên Sa không phân biệt, bởi cùng xuất phát từ một bản thể với hai mặt, một mặt là khao khát sống trong lành, tráng kiện, mặt kia là cảm thức về nguy cơ, cái chết, sự đày ải điếm nhục.



* * *



Thơ Nguyên Sa tràn đầy những sự kiện cá nhân.

Mùa xuân buồn lắm em ơi / Anh vẫn đạp xe từ Sài Gòn lên trường đua Phú Thọ / Đạp xe qua nhà em / Nhìn vào ngưỡng cửa / Nhà số 20 / Anh nhớ má em hồng...

... Bởi vì từ Sài Gòn lên tận trường đua Phú Thọ / Hết cả tiền uống một ly nước mía / Mà cũng không gặp em / Nên khát đắng linh hồn...

(“Mùa xuân buồn lắm em ơi”)
... Tôi mời em vứt bỏ lại đằng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ Tú tài ...

... Em có thể đến đây với đôi giày cao gót để tưởng mình em vóc hạc / Nhưng nếu em vội vã thì em cứ đi chân không? Tôi sẽ bọc mười đầu ngón chân với tất cả linh hồn say đắm yêu em...

(“Mời”)
Tôi đợi em ở một góc công trường .... Tôi đợi em từ 8 giờ, bây giờ đã 9 / Có lẽ đã 9 giờ 5 phút ...

(“Đêm mưa”)
Không bị ràng buộc phải tạo ra văn cảnh ít nhiều “giống cái thực có” như văn xuôi, ngôn ngữ thơ trước đó mượn lối nói ước lệ, hình ảnh, để truyền đạt nhanh và hiệu quả nhất tới người đọc tâm hồn, trạng thái “nội tại” của nhà thơ. “Sự kiện hoá” đồng nghĩa với việc gia tăng tính tự sự (khác với kể chuyện bằng thơ) nhằm từng bước thoát khỏi hệ thống ngôn ngữ thơ ước lệ, hướng tới những cách thức mang đậm dấu ấn sáng tạo cá nhân.

Những sự kiện- riêng tư công nhiên đẩy lùi nội dung, thẩm mỹ ước lệ, trả lại cho thơ ý nghĩa chân xác từ những thông tin gắn liền với cá nhân người viết. Nó xác định tâm hồn một nhà thơ bằng hiện hữu riêng tư, duy nhất của chính nhà thơ đó, chứ không phải những giá trị chung chung mà nhà thơ tự nguyện hoá thân, đại diện.

Trường hợp “sự kiện cá nhân” vẫn là tưởng tượng hư cấu cũng có thể xảy ra, thậm chí phổ biến; tương tự như trường hợp sự kiện “có thực”, quan trọng, nó được xem như một nỗ lực của tâm trí người viết thoát khỏi phạm vi những hình dung có sẵn, hướng tới những bản chất khác của đối tượng mô tả.

Sự xuất hiện sự kiện cá nhân đồng thời bộc lộ lòng tự tin của con người vào bản chất duy nhất, riêng lẻ, nhỏ bé của mình trước thế giới vốn được xem là cao siêu trừu tượng bao quát của thơ ca.

Khi tham dự phần riêng mình vào thơ như một cá thể, rất tự nhiên con người khó lòng gạt bỏ phần vận mệnh trong vận mệnh thời cuộc, dân tộc, quê hương. Vận mệnh trong thời cuộc, của dân tộc, là phần không thể xoá trắng, là tấm hộ chiếu không thể tẩy rửa của người viết, ngay cả với những nhà văn lưu vong, để bước ra với khái niệm chung nhân loại. Không có một khái niệm “loài người” chung chung nào nhất thiết loại trừ một hay một số bản sắc riêng lẻ.

Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn thái độ “làm người” trong sáng tạo của nhà văn với việc cố ý sử dụng văn học như một phương tiện cho những mục tiêu chính trị xã hội ngoài văn chương.

Thơ ca trung đại cũng đã có truyền thống bộc lộ con người thời cuộc, con người công dân của người viết, thông qua những “chí làm trai”, “tấc lòng ưu ái”, “tấc son”, hay phê phán “thói đời” đen bạc xảo trá, sự xói mòn đạo đức... tuy nhiên vẫn dừng ở nhân danh những giá trị tinh thần của cộng đồng. Văn xuôi tiền chiến đã xuất hiện cái nhìn phê phán mạnh mẽ với cái ác và bất công xã hội, xuất phát từ giá trị nhân đạo và bênh vực quyền sống, (cũng có cái nhìn “phê phán” xuất phát từ sự bảo thủ)... thể hiện ý thức xã hội rõ rệt của người viết. Nhưng với thơ ca hiện thời, khi sự thể hiện con người cá nhân riêng tư được xem như phẩm chất trước tiên, thì con người thời cuộc trong sự thể hiện riêng tư này là điều tinh tế và đặc biệt.

Con người cá nhân trong thời cuộc của Nguyên Sa là con người phê phán một cách sòng phẳng, nghĩa khí:

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta... Sợi vu oan dưới gáy / Sợi bè phái đâm ngang / Sợi ghen tuông đứng dọc / Sợi xích chiến xa , sợi dây thòng lọng / Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt / Sợi nấp trong hầm / Sợi ngồi trong hố / Sợi đau xót như dây dù chẳng mở / Sợi treo cổ tình yêu , sợi trói tay hy vọng / Cắt cho ta... / Cắt cho ta, hãy cắt cho ta / Sợi Hà Nội khóc trong mưa / Sợi Sài Gòn buồn trong nắng / Sợi dậy học chán phè / Sợi làm thơ thiểu não / Sợi đặc như dùi cui / Sợi rỗng như khẩu hiệu ... Sợi cắt đứt tim chồng / Sợi chặt đôi ruột vợ / Sợi nhố nhăng như cuộc đời / Sợi ngu si như lịch sử / Sợi đợi những ngón tay đi qua / Sợi đợi những ngón tay chẳng đến... Hãy cắt... Cho cả những thằng sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền / Cho cả những thằng xẻo thịt non sông / Cho cả những thằng băm vằm tổ quốc / ... Cho chính bản thân ta bơi trong tội lỗi ... Hãy cắt tóc và nhìn / Mặt quê hương đổi mới

(“Cắt tóc ăn Tết” - phần II, Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương,
trong Thơ Nguyên Sa, tập II)
Gần như không có dụng ý “cách tân” nào trong những dòng viết bộc phát, tuôn trào theo mạch cảm thức đau thương, u uất. Trong ẩn dụ bao quát toàn bài thơ “Hãy cắt tóc và nhìn / Mặt quê hương đổi mới” là những cặp so sánh tương xứng chính xác và nghiêm khắc không khoan thứ. Ẩn sau những hình ảnh so sánh, ẩn dụ là dòng ý tưởng sắc bén được bộc lộ trong thái độ cương liệt và độ lượng sâu sắc, làm lay động tâm can:

Vu oan / bè phái / ghen tuông / xích chiến xa / dây thòng lọng / hưu chiến mỏng manh / hận thù buộc chặt / đau xót dây dù chẳng mở / treo cổ tình yêu / trói tay hy vọng / nhố nhăng cuộc đời / ngu si lịch sử... Không miêu tả những sự kiện riêng lẻ, cụ thể, không “bên này” hay “bên kia” chiến tuyến, thơ Nguyên Sa đứng trên góc độ những đau đớn, tổn thương của nhân tính và nhân phẩm con người để lên án chiến tranh, sự đầu độc huỷ hoại đời sống bình thường đang lan nhanh từng ngày từng giờ khắp mọi nơi, và tính chất đen tối của lịch sử.

Những bài thơ được viết trong khoảng năm 1966 đến 1975, thời điểm mà cuộc chiến tranh lan rộng với chạy đua cao trào, chết chóc, đau thương nhiễm độc không khí từ thành thị tới nông thôn, cũng là thời điểm bùng nổ phong trào phản chiến ở miền Nam Việt nam. Những bài thơ, truyện ngắn mô tả hiện thực chiến tranh phi lý, tàn khốc ghê rợn, những tiếng nói văn chương, âm nhạc giãi bày nỗi đau khổ thống thiết và khát vọng hoà bình cháy bỏng. Nhưng dám lên án trực diện kẻ gây ra tội ác huỷ diệt đời sống và con người, nhận định đúng động cơ chiến cuộc (xẻo thịt non sông, băm vằm tổ quốc), dám đường hoàng chỉ ra và lên án đoạn đường tăm tối mê muội của lịch sử, là dũng khí và tầm nhìn mà không phải người viết văn làm thơ nào cũng có được.

Nhà thơ cảm nhận về cái mất mát, bị huỷ diệt của đời sống bằng chính những xói mòn, rời rã, tê liệt của tâm trạng và cảm thức riêng mình.

Đau buồn trong thơ Nguyên Sa cũng là những ám ảnh vật thể, bằng xương thịt:

Gặp em không thể chào bằng tay / Em sẽ chê là năm cành cây / Em sẽ chê là năm nòng súng lạnh / Bởi vì đau hai mươi năm nay... Gặp em không thể chào bằng mắt / Em sẽ không thể ngủ được ban đêm / Em sẽ nằm trong cơn thù hận / Em sẽ chìm sâu trong cơn điên... Gặp em ta sẽ chào như loài kiến / Chào như loài dế chào như loài giun? Chạm tóc vào nhau ta gục đầu xuống / Như đồng bào ta nằm trong đất đen...

Sáng tạo những hình ảnh đậm tính trực cảm, khơi dậy trực giác vật thể ở người đọc cũng là một cách thức cá nhân hóa cao độ trong viết thơ, ở thời điểm hiện tại (thời điểm nhà thơ Nguyên Sa viết thơ) cũng như trong dòng chảy thơ sau này, tùy thuộc tài năng của người viết.

“ Tôi mơ hồ cảm thấy tôi không muốn trở thành một nhà thơ dấn thân. Tôi cũng mơ hồ cảm thấy tôi không phải một đệ tử trung thành của nghệ thuật vị nghệ thuật. Tôi là người làm thơ, thơ tình, mà vẫn xúc động trước những khổ đau của quê hương, dân tộc tôi”

(Hồi ký Nguyên Sa)
Một cảm thức thi ca gắn liền với rúng động và thăng trầm của đời sống, vận mệnh lịch sử của dân tộc, là hệ thẩm mỹ gắn liền với giá trị nhân sinh, với thông tin và ý nghĩa có thực, duy nhất của một thời đại. Nó có thể bị “ràng buộc” bởi tính chất lịch sử nhưng không vì thế mà trở thành một kiểu giá trị thời sự, khép kín. Nó vẫn bao hàm những tín hiệu của không gian thơ ca và thẩm mỹ rộng lớn.

“Khi chân lý không ở ngoài tầm những gương mặt hóa trang /... Khi ngực hai mươi ở trong tầm viên đạn”, tiên cảm về cái chết trong thơ Nguyên Sa như vận mệnh chung cuộc đến sớm, có báo trước, cái chết như một khả thể của đời sống.

Không phải “một mai tôi chết bên khe Ngọc tuyền” (Hàn Mặc Tử) - cái chết còn cho con người cơ hội, “chết” với Nguyên Sa là một thực tại bỗng nhiên chuyển thành cõi chết:

Anh cúi mặt hôn lên lòng đất / Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng / Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không / Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh ...

... Lúc ra đi hai chân anh đằng trước / Mắt đi sau còn vương vất cuộc đời ...

... Anh chợt ngứa nơi bàn chân cỏ mọc / Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya ...

(“Lúc chết”)
Cõi chết không phải nơi được giải thoát khỏi gánh nặng sự sống, mà nó là một dạng “sự sống” khác đau buồn phiền lụy theo cách khác. Chết chính là một hình dung lạ thường của thực tại, một nỗi khổ lụy lạ lùng mà con người tình nguyện nếm trải, còn hơn chấp nhận những gì đang diễn ra.

Viết tưởng niệm một người bạn, “Đám tang Nguyễn Duy Diễn”, không phải tiếc thương:

... Chúng tôi nhảy múa hò reo / Thế là nó thoát, thế là nó thoát /... Thoát khỏi ngủ, thoát khỏi ăn, khỏi thở / Khỏi đêm, khỏi ngày, khỏi tháng, khỏi năm / Khỏi chờ, khỏi đợi / Khỏi nhìn tình ái đội nón ra đi / ... Khỏi bốn mươi giờ dạy học mỗi tuần / Khỏi viết ban đêm, khỏi đến nhà in buổi sáng / Khỏi phải nhìn, khỏi phải nghe, phải thấy... Sự thật có phải bao giờ cũng tối như đêm / Tình ái có phải suốt đời là canh bạc lận / Lịch sử, rút lại có phải là thằng mù sờ soạng...

Sự giải thoát ở đây chỉ có nghĩa mỉa mai. Chết nghĩa là hối thúc đặt lại những câu hỏi nghi ngờ đời sống, chết như một ngã ngũ, một phương án thay thế cho tất cả những gì tâm trí nhận thức không thể giải đáp nổi, một hy vọng theo nghĩa mỉa mai đối với những vô vọng của sự sống.

Sống, là chung sống với cái chết, là ngạc nhiên khi bản thân còn tồn tại những năng lực sống:

... mùa xuân đã trôi qua / mùa hạ đã trôi qua / mùa thu đã trôi qua / bây giờ là mùa đông / ... Lá chết ở trên cành / cành chết ở trên cây / cây chết ở trên đường thành phố / ... thành phố trống vắng / quê hương trống vắng / con giun xéo đã quằn / anh vẫn đi ở đó / mà vẫn còn yêu em...

(Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương)
Nguyên Sa từng nói tới cái chết “bình thường”, tự nhiên:

... Có bao giờ thèm khát vô biên / Có bao giờ anh mong đừng chết- dù để làm thơ / Nên tất cả chỉ là yêu em và làm thơ cho đến chết...

Cảm nhận bất thường về cái chết thực chất là cảm nhận về một đời sống trái với tự nhiên, không còn gì biện hộ, không còn cơ may, cả cái chết cũng trở nên tuyệt vọng.



* * *



Từ những cảm nhận trực quan, vật thể, thơ Nguyên Sa tiến gần tới lối bộc lộ ý tưởng, nói cách khác, lối viết sự vật và sự kiện hóa trong thơ là tiến trình hiện thực hóa ý tưởng.

Chim đã bay / Đã tới / Nàng có đi cùng không / Đã tới / Chắc nàng phải mặc áo nhẹ / Đã tới / Chắc ta phải mặc áo nhẹ / Chắc ta phải để lại tất cả / Để lại đầu / Để lại tay / Không chừng để lại nàng / Để lại mắt / Để lại vai / Ôi đôi vai / Nàng có nhớ...

(“Chim” - Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương)
Từ cảm thức đan xen chuyển hóa trừu tượng và vật thể, nhà thơ đã tiến xa tới việc khai thác toàn bộ sự vật và tiến trình sự kiện như một cách mô tả khách quan trực quan, cấu tứ lại không gian trực quan ấy để nó hiện lên như một ý tưởng, một tâm trạng.

Cuộc du hành tưởng tượng cùng cánh chim, du hành của mất mát, tan vỡ, lìa bỏ, hủy diệt được hình dung như một chuyến lên đường thực thụ, có “bay”, có “tới”, nhưng thay vì mang theo là “để lại” “đầu, tay, không chừng... nàng, mắt, vai...”, một hành trình không tưởng đến cõi “âm” của các sự kiện và giá trị. Cái nhìn từ quan sát vật thể sang ý tưởng không tưởng là một bước vừa liền kề vừa táo bạo, đẩy người ta đi hết ranh giới những hình dung có sẵn.

Giống như sự quan sát và mô tả hành động một cách cơ giới, bề ngoài, loại trừ toàn bộ những hình dung từ, tính từ mà thường chỉ dừng ở việc gợi lại sự vật trong mối quan hệ khá hời hợt với nội tâm người viết, cố ý tạo ra nội dung thông báo khô khan, cộc lốc, viết thơ đồng thời là phơi bày một tiến trình cô đọng của hiện thực và ý tưởng. Vì chủ yếu nhằm tới ý nghĩa thông báo chứ không biểu đạt (lý giải, phân tích theo những hình dung sẵn có về đời sống), mô tả “trực quan hóa sự kiện” có thể bao hàm nhiều nội dung thông tin khác nhau, nhiều hệ hình (tầng lớp) giá trị khác nhau.

Năm ngón tay / Trên bàn tay năm ngón / Có ngón dài ngón ngắn / Có ngón chỉ đường đi / Có ngón tay đeo nhẫn / Ngón tay tô môi / Ngón tay đánh phấn / Ngón tay chải đầu / Ngón tay đếm tiền / Ngón tay lái xe / Ngón tay thử coorse / Ngón tay cài khuy áo / Em còn ngón tay nào / Để giữ lấy tay anh

(“Năm ngón tay” - Thơ Nguyên Sa , tập 1)
Chưa hoàn toàn thoát khỏi lối liên tưởng tương đồng theo thi pháp cũ, nhưng nhà thơ Nguyên Sa đã ý thức được sức nặng nhiều tầng lớp của lối mô tả trực quan, tính chất biểu tượng tràn đầy thông tin nhiều chiều của nó để thay thế ngoạn mục cho hình ảnh ẩn dụ một chiều.

Nguyên Sa viết thơ bằng nhịp điệu và cấu tứ câu văn xuôi từ rất sớm:

Khi xứ sở mùa xuân ở ngoài tầm cánh chim bay / Khi những đám mây hy vọng ở ngoài tầm những giờ thao thức ban đêm / Khi con tàu tương lai ở ngoài tầm ngọn hải đăng chờ đợi / Khi hình ảnh đôi giày đầu tiên, thầy giáo trường làng chân thực, những cánh đồng tuổi trẻ ở ngoài tầm kỷ niệm...

(“Ngoài tầm”)
1. Rồi trong ngôi nhà ký ức em sẽ đặt anh ở vị trí nào? Bên cạnh lớp học ngày xưa hay khu vườn tuổi nhỏ? Bên cạnh hình ảnh đôi guốc cao gót đầu tiên hay con búp bê gẫy tay trên gác bếp? ...

... Em dư biết giá trị liều thuốc an thần của những bài thơ nói về tình yêu kiếp khác, sao còn bắt anh chèo thuyền trong ảo tưởng? ...

3. Anh từ chối chiếc bánh còn thừa, tự do hứa hẹn, chân lý lưỡi lê và những lời an ủi...

4. Tuổi ba mươi và bấy nhiêu lần luỹ thừa đau khổ / Nhân danh cánh tay mọc trái nghi ngờ / Nhân danh vầng trán quê hương lo ngại / Nhân danh mái tóc chờ mưa sa mạc...

(“Bài giã biệt mới”)
Sự kéo dài kích thước câu thơ đến câu văn xuôi, nhịp điệu văn xuôi uyển chuyển linh hoạt thay thế nhịp điệu thơ ngắt quãng ngắn, theo một vài lối cố định, đã tạo ra ở người đọc một tâm thức đọc khác với tâm thức đọc thơ thông thường. Không phải chờ đón cái du dương, nhịp nhàng, đều đặn (kể cả với thơ không vần) có tác dụng dẫn dắt vào tâm thái và cảm xúc quen thuộc, mà là sự tỉnh thức khách quan để nhận biết, theo dõi, liên kết, chờ đợi “cú sốc” (nếu có) và hình thành phán đoán suy lý. Câu thơ văn xuôi chuyên chở nhiều sự kiện và tạo điều kiện đặt ra những vấn đề suy tưởng, ý tưởng, gia tăng ý nghĩa suy lý và tri thức cho sáng tạo thơ.

Ý tưởng trong thơ Nguyên Sa nhiều lúc còn nảy sinh từ tâm trạng nung nấu bộc phát:

Thằng Chúc bây giờ nằm trong nhà tù / Thằng Thịnh bị mang đi làm nông trường / Thằng Văn lang thang những bờ biển xa / Em nó ở nhà bán báo vỉa hè... Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau / Câu hỏi đã lớn mỗi ngày một lớn / Những đứa sát nhân vu oan giá hoạ / Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ / Mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân / bạn bè dần hết theo tỉ lệ nghịch... / ... Chỉ còn câu hỏi, chỉ còn câu hỏi / Trong óc, trong mắt, trong tay, trên môi / Bao giờ thằng Chúc ra khỏi nhà tù / Và những thằng Chúc ra khỏi nhà tù / Bao giờ thằng Thịnh ở nông trường về / Và những thằng Thịnh ở nông trường về / Bao giờ thằng Văn cầm tay quê hương / Và những thằng Văn cầm tay quê hương / Bao giờ, bao giờ, bao giờ?

(“Bao giờ”)
Câu thơ chuyển thành dạng thức lời nói thường không chút làm đẹp với toàn bộ nội dung thông báo cũng như ý tưởng, không hề còn lại một hình ảnh. Nó cho thấy một thẩm mỹ khác xuất hiện trong quan niệm và nghệ thuật thơ, sẽ bị bỏ quãng và tái xuất hiện, bùng nổ vào những năm thơ ca tiếng Việt “đuổi kịp” hành trình đương đại. Đó là thẩm mỹ hướng về cái bé mọn, “tầm thường”, xấu xí, cái bị kỳ thị và rẻ rúng, áp chế.

Hành trình thơ Nguyên Sa là hành trình tự nhiên của con người kiếm tìm tình yêu và chân lý của cái đẹp cũng như của cuộc đời, chân lý như một khát vọng không bao giờ đứng lại, chứ không phải một nội dung nhất định. Sống giữa cuộc đời hệ luỵ, mệt nhọc, bị tước đoạt dần những thụ cảm tự nhiên, bình thường vốn dĩ, trong lòng một dân tộc đau khổ, bất hạnh, với những bi kịch mù loà, Nguyên Sa là một nhà thơ đắm đuối và hết lòng với thi ca như với cuộc đời, để đi qua cuộc đời, cất trọn chén sống một cách an nhiên, đường hoàng và can đảm.



Khánh Phương




----------

Ghi chú:

- Bài viết chỉ khảo sát thơ Nguyên Sa trong phạm vi trước tác chủ yếu từ năm 1953 cho đến 1975, tập hợp trong 2 thi tuyển, Thơ Nguyên Sa, tập I; Thơ Nguyên Sa, tập II, phần II, Nhìn em Nhìn thành phố Nhìn quê hương, NXB Đời, 2000. Đây là phần trước tác của nhà thơ thuộc về dòng chảy cảm hứng và thi pháp thơ miền Nam.

- Vì điều kiện trích dẫn phục vụ ý tưởng đọc liền mạch của bài viết nên một số phần dẫn chứng thơ Nguyên Sa không giữ được trình bày nguyên gốc của tác giả, xin thành thật cáo lỗi cùng bạn đọc.

- Bài viết có tham khảo một số tư liệu về lý luận văn học và bài viết, khảo cứu về văn học miền Nam của các tác giả, bạn bè...





_________________________

[1]Sáng tạo, khi chủ thể chưa có ý thức tự “giãn cách” đối với bản thân, ít nhiều mang tính chất tự phát. Khi chủ thể có sự “lùi xa” đối với bản thân, phải vượt qua khoảng cách thời gian, vận dụng năng lực hồi ức, tưởng tượng, suy tưởng để khôi phục “cái tôi quá vãng” hoặc kiến tạo hình tượng “vị lai”, đó là thể hiện nỗ lực sáng tạo lại thực tại và con người. Trong khi thơ ca được lý luận văn học hiện đại xem như thể loại ràng buộc mật thiết hơn cả với thân thế, thực trạng người viết, thì ý thức tự giãn cách và năng lực vươn tới giá trị tri thức của nhà thơ vẫn phải được kể đến như là ý nghĩa cơ bản của sáng tạo, đây là hai mặt của vấn đề. Con người cá thể, đơn nhất, “được quyền” song hành, chuyển hoá với con người tri thức phổ quát, tạo ra những giá trị mới.

[2]Thơ ca trung đại dù mang những thông tin cá nhân vẫn là những cá thể ước lệ:

Ới thị Bằng ơi đã mất rồi
Ới tình ới nghĩa ới duyên ơi
(“Khóc thị Bằng” - Vua Tự Đức)
Chưa bao giờ có sự hình dung trực quan cụ thể như trong thơ tiền chiến:
“Trong trẻo như Nguyễn Nhược Pháp” (theo Hoài Thanh- Hoài Chân):
Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo dải yếm đào / Quần lĩnh, áo the mới / Tay cầm nón quai thao
(“Đi chùa Hương”)
Nhưng là khai thác chất thơ trong thể loại “kể chuyện bằng thơ”.
Tái hiện sống động như Vũ Hoàng Chương:
Âm ba gờn gợn nhỏ / Ánh sáng phai phai dần / Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân / Lui đôi vai, tiến đôi thân / Riết đôi tay, ngả đôi thân / Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió...
Nhưng vẫn trong vòng những giá trị ước lệ:
Đất trời nghiêng ngửa / Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ / Đất trời nghiêng ngửa / Thành Sầu không sụp đổ, em ơi!
(“Say đi em”)
Men khói đêm nay sầu dựng mộ / Bia đề tháng sáu ghi mười hai / Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc / Tố của Hoàng nay Tố của ai
(“Mười hai tháng Sáu”)
[3]Vấn đề “cá nhân hoá tối đa” có sự trùng hợp và có điểm khác với vấn đề phong cách cá nhân. Nếu như phong cách cá nhân được hiểu là tập hợp những thành quả sáng tạo về mặt nghệ thuật của một cá nhân, tạo thành những điểm khác biệt đặc thù, đóng góp, làm mới cho đặc trưng thể loại, thì sự cá nhân hoá được nhìn nhận về mặt ý thức và tâm thức sáng tạo. Con người trong thơ ca càng được cá nhân hoá bao nhiêu, thì những đặc điểm phong cách càng đậm nét bấy nhiêu. Thơ ca trung đại không đa dạng, không đậm nét những đặc thù phong cách cá nhân. Nếu không có những chú dẫn về thân thế, thì thơ thiền của các tác giả khác nhau, thơ “thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, hay Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Siêu... rất khó phân biệt. Trong khi đó, để đạt tới phong cách mẫu mực sách vở như Bà Huyện Thanh Quan hay sự phá cách theo thẩm mỹ dân gian như Hồ Xuân Hương (?) là trường hợp vô cùng hiếm hoi. Đường thi cũng có thể quy tập về một hệ thống thi pháp đặc thù, nhưng những phong cách cá nhân nổi trội nhờ dấu ấn cá nhân hoá ở mức độ rõ rệt, không nhiều.

[4]

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
(Vua Tự Đức)
trong cổ thi, hay:
Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im / hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim / Còn cứ run hoài trong chiếc lá / sau khi trận gió đã im lìm (Xuân Diệu)
Ta quá say rồi! / Sắc ngã màu trôi... / Gian phòng không đứng vững / Có ai ghì hư ảnh sát kề môi? (Vũ Hoàng Chương)
của thơ tiền chiến chưa xuất hiện cái không tưởng như trong thơ Nguyên Sa. Không tưởng bỏ cách quãng cái thực có, cao hơn liên tưởng, biến cái không hình bóng thành khả thể.
[5]Khảo sát một số bài thơ khác của Nguyên Sa công bố trong khoảng những năm 1956- 1975, biểu hiện tương tự.




Source : TIEN VE

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2011

Nguyễn Viện - Bài ca cho tự do

Nguyễn Viện
Bài ca cho tự do


Gửi Ai Cập xa xôi...

Rồi họ đã đứng lên
nói tiếng nói của mình
đòi cái quyền của mình
Tự do. Tự do.
Chúng ta không bao giờ chết
Nhân dân không bao giờ chết
Tự do. Tự do.
Họ đã đứng ở đó xuyên qua đêm
Xuyên qua thời gian
Xuyên qua lệnh giới nghiêm và mọi điều cấm đoán khác
Bởi họ là lửa
Và sự phán xét thuộc về họ
Và công lý thuộc về họ
Và lịch sử thuộc về họ
Không ai cướp được của chúng ta niềm hy vọng
Không ai trói được chúng ta trong sợ hãi
Tự do. Tự do.
Họ đã đứng lên như sóng dựng
Tràn qua mặt địa cầu
Những tượng đài sẽ đổ
Chúng ta không đòi máu
Chúng ta muốn ánh sáng thay cho tối tăm
Chúng ta muốn sự khác biệt thay cho chuyên chế
Chúng ta muốn được lựa chọn
Chúng ta muốn được nói như chúng ta muốn
Bởi chúng ta là tự do
Bởi chúng ta là con người

1.2.2011

TS TRẦN VĂN THỌ - Kinh tế Việt Nam trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

Source : thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN



Số 19 - Tháng 7/2010





Kinh tế Việt Nam
trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trần Văn Thọ



Mở đầu: Vấn đề gì cần đặt ra?
1. Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong sản xuất và xuất khẩu
2. Cơ cấu mậu dịch Việt Trung
3. Vài hàm ý về mặt lý luận
Thay lời kết: Con đường để Việt Nam thoát khỏi nguy cơ


Mở đầu: Vấn đề gì cần đặt ra?

Với qui mô dân số và với tốc độ phát triển nhanh kéo dài hàng chục năm, kinh tế Trung Quốc đã tác động mạnh đến kinh tế thế giới trên nhiều phương diện. Sự tác động đó lớn hay nhỏ, nhất thời hay làm ảnh hưởng sâu sắc đến con đường phát triển của nước khác là tùy theo trình độ phát triển và cơ cấu kinh tế của nước chịu tác động.

Tại Đông Á, Nhật và Hàn Quốc cũng bàn đến sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động của hiện tượng nầy đến con đường phát triển của nước họ. Nhưng trình độ phát triển của hai nước nầy cao hơn Trung Quốc nhiều, GDP đầu người còn lớn hơn Trung Quốc 9-10 lần (Nhật) hoặc 5-6 lần (Hàn Quốc), về chất lượng thể chế, tiềm năng khoa học, công nghệ của họ còn đi trước Trung Quốc nhiều chục năm. Do đó, Nhật và Hàn Quốc ý thức về sự trỗi dậy của Trung Quốc để vừa nỗ lực hơn trong việc củng cố lợi thế hiện tại và lợi dụng cơ hội từ thị trường Trung Quốc.

Cũng là nước lân cận với Trung Quốc nhưng vị thế của Việt Nam hoàn toàn tương phản. Nhìn từ nhiều mặt, Việt Nam ở trình độ phát triên thấp hơn Trung Quốc. GDP đầu người của Việt Nam năm 2009 chỉ bằng 1/3 của Trung Quốc, chất lượng giáo dục, trình độ phát triển khoa học, công nghệ cũng đi sau nước nầy. Thêm vào đó, về qui mô, kinh tế Trung Quốc lớn áp đảo, tốc độ phát triển cũng nhanh hơn Việt Nam. Từ nhận định nầy ai cũng thấy thách thức của sự trỗi dậy của Trung Quốc đối với con đường phát triển của Việt Nam là vô cùng lớn. Việt Nam cần nghiên cứu sâu tác động của sự trỗi dậy của Trung Quốc để có chiến lược, chính sách phát triển thích hợp.

Đây là một đề tài lớn. Bài viết nầy chỉ xoay quanh vấn đề phát triển công nghiệp. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: sự trỗi dậy của Trung Quốc trong sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp đang và sẽ tác động như thế nào đến con đường công nghiệp hóa của Việt Nam?

Dưới đây, sau khi điểm qua các đặc trưng trong sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc (Tiết 1), bài viết sẽ phân tích quan hệ ngoại thương Việt Trung (Tiết 2) và nhìn từ một số lý thuyết về mậu dịch để rút ra vài hàm ý đối với vấn đề công nghiệp hóa của ta (Tiết 3). Các phân tích nầy sẽ cho thấy, cùng với trào lưu tự do mậu dịch ở Đông Á hiện nay, sự tác động của Trung Quốc đối với kinh tế Việt Nam sẽ rất sâu sắc và có thể tạo ra nguy cơ lâu dài. Cuối cùng, trong phần kết luận, bài viết sẽ đề cập đến một số chiến lược, chính sách để Việt Nam có thể tránh được nguy cơ từ sự trỗi dậy của Trung Quốc.

1. Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp

Từ đầu thập niên 1980 đến nay, kinh tế Trung Quốc phát triển trung bình gần 10%. Kết quả là hiện nay nước nầy vươn lên vị trí thứ hai thế giới về GDP và mậu dịch và có lượng dự trữ ngoại tệ nhiều nhất thế giới.

Từ góc độ quan tâm của bài viết nầy ta thấy sự trỗi dậy của Trung Quốc có một số đặc điểm sau: thứ nhất, đó là quá trình công nghiệp hóa tiến nhanh trên quy mô lớn. Nhiều ngành trong công nghiệp chế biến, chế tác (manufacturing) phát triển trên dưới 20% mỗi năm như đồ điện gia dụng, xe hơi, máy tính cá nhân và nhiều loại máy móc khác. Trong nhiều mặt hàng thuộc các ngành này, Trung Quốc chiếm tới trên dưới 40% sản lượng thế giới. Vì vậy mà Trung Quốc được xem là công xưởng của thế giới.

Thứ hai, phát triển của Trung Quốc ngày càng dựa vào xuất khẩu. Xuất khẩu ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong qúa trình công nghiệp hóa của nước nầy. Tỉ trọng của xuất khẩu trong GDP chỉ có 7 % vào năm 1980 nhưng đã tăng lên 33% năm 2008. Xuất khẩu của Trung Quốc hiện nay cũng hầu hết là hàng công nghiệp. Vào những năm mới mở cửa, tỉ trọng của hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc chưa tới 50% nhưng từ năm 2001 con số đó đã lên trên 90%. Như vậy trong quá trình phát triển, Trung Quốc ngày càng hướng ngoại và chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng hàng công nghiệp.

Thứ ba, phát triển của Trung Quốc còn có đặc tính là dựa nhiều vào đầu tư. Trước năm 1992 tỉ lệ của đầu tư trên GDP vào khoảng 30% nhưng năm 2002 tăng lên 40% và mấy năm gần đây lên tới 50%. Các tỉnh cạnh tranh đầu tư và sản xuất hàng công nghiệp, gây nên hiện tượng đầu tư trùng lặp và sản xuất thừa làm kém hiệu suất của toàn nền kịnh tế. Nhưng đối với Việt nam và các nước có nền kinh tế còn nhỏ ở Đông Nam Á, hiện tượng sản xuất thừa của Trung Quốc là một trong những nguyên nhân chính làm tràn ngập hàng công nghiệp giá rẻ vào thị trường các nước nầy.

Thứ tư, cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc ngày càng chuyển dịch lên cao. Khuynh hướng nầy phản ảnh rõ trong cơ cấu xuất khẩu. Biểu 1 chia các mặt hàng thành 5 nhóm, trong đó 3 nhóm được chia theo 3 trình độ liên quan đến kỹ năng (skill) của lao động. Những sản phẩm có hàm lượng công nghệ càng cao càng cần nhiều lao động có kỹ năng cao và do đó để sản xuất và xuất khẩu được những mặt hàng này đòi hỏi nền giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học phải cung cấp đủ nguồn nhân lực có trình độ tương ứng.

Biểu 1 cho thấy hiện nay (2008) có tới trên 30% kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc thuộc nhóm hàng công nghiệp có kỹ năng cao (high skill) như máy tính, máy móc về viễn thông, về y tế, dược phẩm, v.v.. . Nếu kể cả nhóm hàng dùng nhiều kỹ năng vừa phải (medium skill) như xe hơi, xe máy, đồ điện gia dụng, kim khí, v.v.. thì tỉ trọng của 2 nhóm hàng nầy chiếm tới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Một điểm đáng chú ý là các mặt hàng có hàm lượng kỹ năng thấp như may mặc, giày dép, dụng cụ lữ hành, v.v.. vẫn còn chiếm một tỉ trọng lớn. Tỉ trọng trong xuất khẩu của Trung Quốc chỉ giảm đáng kể trong hai lãnh vực nông sản và nguyên liệu. Điều nầy cho thấy các loại hàng công nghiệp, từ trình độ thấp đến trình độ cao Trung Quốc đều hiện diện trên thị trường thế giới với số lượng lớn.



Nhìn ở một khía cạnh khác, sự trỗi dậy của Trung Quốc không phải chỉ tạo ra thách thức đối với khu vực Á châu và thế giới. Trung Quốc phát triển mạnh không phải chỉ nhập khẩu tài nguyên, năng lượng mà còn trở thành một thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp nhập khẩu từ nước ngoài. Như Biểu 2 cho thấy, từ năm 1990 đến 2008, nhập khẩu của Trung Quốc tăng 18 lần. Trong 983 tỉ USD nhập khẩu năm 2008, hàng công nghiệp chiếm trên 60%, đặc biệt riêng các loại máy móc chiếm khoảng 40%. Từ cùng nguồn tư liệu như trong Biểu 2, ta tính thử tỉ trọng của các loại máy móc trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc thì thấy con số đó là 47.5%. Nhìn từ hàm lượng kỹ năng trong hàng xuất khẩu, Biểu 1 cũng cho thấy khuynh hướng tương tự. Máy móc là các loại sản phẩm có nhiều bộ phận, linh kiện, công đoạn nên trong nội bộ mỗi ngành, các công ty đa quốc gia (MNCs) triển khai phân công lao động trên qui mô toàn cầu, hình thành các chuỗi cung ứng (supply chain).[1] Từ đầu thập niên 1990, Trung Quốc đã thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) tập trung trong các ngành chế tạo các loại máy móc từ trung cấp (như đồ điện gia dụng) đến cao cấp (như máy tính, máy chụp hình kỹ thuật số) làm thành các cụm công nghiệp ở các tỉnh ven biển, nhất là ở tam giác sông Châu Giang tỉnh Quảng Đông. Qua đó, Trung Quốc tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu các mặt hàng thuộc nội bộ các ngành nầy, Hiện nay có hơn 50% kim ngạch xuất và nhập khẩu của Trung Quốc do MNCs thực hiện, nhất là MNCs có gốc Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan.



Phân tích ở trên cho thấy Trung Quốc đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp trên quy mô lớn và triển khai hầu như toàn diện trong các lãnh vực, từ sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp đến các sản phẩm có hàm lượng kỹ năng cao, công nghệ cao; đồng thời Trung Quốc triển khai phân công hàng ngang (horizontal trade), phân công nội ngành (intra-industry trade) với các nước khác trong các mặt hàng chế tạo các loại máy móc, là những lãnh vực chủ đạo trong mậu dịch quốc tế hiện nay. Với tính chất nầy, các nước phát triển ở trình độ cao hơn Trung Quốc như Nhật, Hàn Quốc, hoặc các nước đã thành công trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu (như Malayssia, Thái Lan,…) có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc những mặt hàng có hàm lượng kỹ năng cao hoặc trung bình. Nhưng đối với các nước ở trình độ phát triển thấp hơn, sự trỗi dậy của Trung Quốc là một thách thức lớn vì vừa bị Trung Quốc cạnh tranh mạnh trong những mặt hàng có hàm lượng kỹ năng thấp nhưng lại chưa có năng lực triển khai phân công hàng ngang với Trung Quốc trong những nhóm hàng công nghiệp có kỹ năng trung và cao cấp.

2. Cơ cấu mậu dịch Việt Trung

Hiện nay trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam tuy hàng công nghiệp chiếm khoảng 60% nhưng chủ yếu là những ngành dùng nhiều lao động giản đơn. Thêm vào đó, sản xuất các mặt hàng này phải phụ thuộc vào nguyên liệu và sản phẩm trung gian nhập khẩu. Các loại máy móc, những sản phẩm có hàm lượng kỹ năng lao động cao, chỉ chiếm độ 10% tổng xuất khẩu. Trở lại Biểu 1, so sánh cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam với Trung Quốc ta thấy Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào nông sản, nguyên liệu, và trong các sản phẩm công nghiệp thì Việt Nam phải cạnh tranh với Trung Quốc trong những mặt hàng dùng công nghệ thấp và dùng nhiều lao động kỹ năng thấp. Tỉ trọng các mặt hàng đòi hỏi lao động có kỹ năng cao chỉ bằng Trung Quốc vào năm 1990.

Riêng mậu dịch với Trung Quốc, cơ cấu của Việt Nam còn yếu hơn nữa.

Mậu dịch hai nước tăng nhanh từ năm 2000 nhưng ngày càng mất quân bình. Từ năm 2000 đến năm 2009, đối với Trung Quốc, nhập khẩu của Việt Nam tăng 11 lần nhưng xuất khẩu chỉ tăng 5 lần. Từ năm 2003 Trung Quốc vượt Nhật trở thành nước có thị phần lớn nhất trong tổng nhập khẩu của Việt Nam và sau đó ngày càng bỏ xa Nhật Bản. Do nhập khẩu tăng nhanh, nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc ngày càng mở rộng. Năm 2009, riêng nhập siêu vơi Trung Quốc (11,5 tỉ USD) chiếm tới 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.

Nhìn cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc ta thấy nguyên liệu và nông sản phẩm chiếm vị trí áp đảo. Theo Biểu 3 (Biểu nầy dựa trên thống kê nhập khẩu của Trung Quốc), 7 mặt hàng (SITC 3 con số) [2]xuất khẩu sang Trung Quốc có kim ngạch cao nhất (năm 2007) đều nằm trong 2 nhóm nguyên liệu và nông phẩm. Riêng than đá đã chiếm gần 30%. Hàng công nghiệp chỉ chiếm 12% (năm 2007). Cơ cấu này hầu như không thay đổi trong 10 năm qua. Các loại máy móc (và linh kiện) dùng cho văn phòng, cho công nghệ thông tin, cho điện lực,… gần đây bắt đầu xuất khẩu sang Trung Quốc do kết quả của chiến lược triển khai chuỗi cung ứng của các công ty Nhật như Canon, Sumiden, Hitachi (các công ty nầy đầu tư vào miền Bắc Việt Nam để bổ sung vào mạng lưới sản xuất của họ ở vùng Hoa Nam Trung Quốc). Tuy nhiên, những sản phẩm nầy mới chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc.



Nhìn sang cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc ta thấy hàng công nghiệp chiếm vị trí áp đảo (chiếm tới 75% vào năm 2007). Tất cả 20 mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu nhiều nhất đều là hàng công nghiệp (Biểu 4).

Các loại hàng nầy có thể chia ra thành 3 nhóm: thứ nhất là nguyên vật liệu hoặc sản phẩm trung gian như thép để chế biến thành phẩm tiêu dùng, hai là các loại máy móc (và bộ phận, linh kiện) như xe hơi, khí cụ dùng cho bưu chính viễn thông, và nhóm thứ ba là các loại sản phẩm trung gian ngành dệt may như tơ sợi tổng hợp, vải bông, vải may nội y,… Điều nầy cho thấy nền công nghiệp Việt Nam quá mỏng manh, phụ thuộc nhiều vào sản phẩm trung gian nhập từ Trung Quốc. Nếu xét đến quá trình phát triển kinh tế, Việt Nam lẽ ra phải có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực vải sợi (trừ loại sợi cao cấp chủng loại đặc biệt như tơ sợi tổng hợp). Tuy nhiên trên thực tế, các sản phẩm như vải dệt may hay dệt kim hầu hết Việt Nam phải nhập từ Trung Quốc.Trong vài ngành nằm trong dây chuyền cung ứng toàn cầu của các công ty đa quốc gia (các loại máy dùng cho văn phòng như máy tính xách tay, máy in, …) Việt Nam có xuất khẩu sang Trung Quốc nhưng kim ngạch còn rất nhỏ.



Mậu dịch ở biên giới qua 3 cửa khẩu chính cũng mang tính chất tương tự. Tại cửa khẩu Lào-Cai-Hà Khẩu (Vân Nam), Việt Nam xuất khẩu nông lâm thủy sản và nhập phân bón, thuốc trừ sâu, v.v.. Lạng Sơn-Bằng Tường (Quảng Tây) là cửa khẩu chuyên nhập các loại máy móc, thiết bị từ Trung Quốc vào Việt Nam. Tại của khẩu Mông Cái-Đông Hưng (Quảng Tây) Việt Nam xuất khẩu than và nhập hàng công nghiệp tiêu dùng.

Cơ cấu ngoại thương Việt Trung như phân tích ở trên đã hình thành từ những năm 1990 và hiện nay cơ cấu nầy vẫn như cũ. Từ năm 2002 tôi đã gọi đây là cơ cấu mậu dịch có tính Nam Bắc, nghĩa là cơ cấu giữa nước chậm phát triển và nước tiên tiến.[3]

Với cơ cấu nầy, khi Hiệp định thương mại tự do ASEAN Trung Quốc (ACFTA) được thực thi hoàn toàn thì áp lực của Trung Quốc đối với Việt Nam còn mạnh hơn nữa. ACFTA ký kết vào tháng 11 năm 2002 và có hiệu lực từ tháng 7 năm 2005 (thuế suất bắt đầu cắt giảm). Đối với các thành viên mới trong khối ASEAN như Việt Nam, thời hạn hoàn thành thời khóa biểu cắt giảm thuế đối với hàng nhập từ Trung Quốc là đầu năm 2015, nghĩa là chỉ còn hơn 4 năm nữa, chỉ trừ một số mặt hàng nằm trong danh mục nhạy cảm, tất cả hàng công nghiệp nhập khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam sẽ không bị đánh thuế. Thêm vào đó, thuế suất của phần lớn những mặt hàng trong danh mục nhạy cảm cũng sẽ phải giảm xuống dưới 5% trước năm 2020. Đặc biệt so với thuế suất hiện hành mà Việt Nam áp dụng đối với hàng nhập từ các nước thành viên WTO, thuế suất cắt giảm đối với hàng nhập từ Trung Quốc theo khuôn khổ ACFTA sẽ rất lớn đối với hàng công nghiệp trong các lãnh vực như tơ sợi và vải, các loại hóa chất, đồ điện gia dụng và sản phẩm phụ trợ, xe hơi và sản phẩm phụ trợ.[4] Như đã thấy ở trên, đây là những mặt hàng mà Việt Nam hiện nay nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc dù thuế suất cao. Do đó, khi ACFTA hoàn thành những mặt hàng nầy sẽ tràn sang Việt Nam nhiều hơn nữa.

3. Vài hàm ý về mặt lý luận

Thử bàn thêm về quan hệ kinh tế Việt Trung nhìn từ một số lý thuyết về mậu dịch để thấy rõ hơn những vấn đề của Việt Nam.

Trước hết là mô hình về lực dẫn (gravity model). Theo mô hình nầy, mậu dịch giữa hai nước tùy thuộc vào lực dẫn của nước nầy đối với nước kia. Lực dẫn lớn hay nhỏ tùy theo quy mô thị trường (đo bằng GDP) và khoảng cách địa lý giữa hai nước. Khoảng cách địa lý càng nhỏ thì phí tổn chuyển chở hàng hóa và các dịch vụ như bảo hiểm càng thấp và thông tin về thị trường cũng dễ thu thập. GDP lớn và tăng nhanh cũng tăng sức mua đối với hàng hóa của nước ngoài.

Việt Nam và Trung Quốc là hai nền kinh tế phát triển với tốc độ cao hoặc tương đối cao, lại ở cạnh nhau nên hội đủ cấc yếu tố thuận lợi trong mô hình về lực dẫn. Đặc biệt đối với Việt Nam, Trung Quốc là nền kinh tế lớn và phát triển nhanh. Thế nhưng như đã phân tích trong Tiết 1 và 2, Việt Nam không tận dụng được thế mạnh nầy, chỉ xuất khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế trong khi các nước khác đẩy mạnh được xuất khẩu hàng công nghiệp sang nước nầy. Nguyên nhân chỉ có thể được giải thích bằng năng lực cung cấp yếu và hạn chế của phía Việt Nam. Mô hình về lực dẫn chỉ chú ý đến mặt cầu. Cần phải phân tích mặt cung nữa.

Lý luận thứ hai liên quan đến điều kiện giao dịch (terms of trade), tức là quan hệ tương đối giữa giá hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu. Từ giữa thập niên 1950, các nhà nghiên cứu về kinh tế phát triển hầu như thống nhất nhận định cho rằng điều kiện giao dịch của các nước xuất khẩu nông phẩm và nguyên liệu tức sản phẩm khai thác từ tài nguyên luôn bất lợi vì nhu cầu của các sản phẩm nầy tăng ít, giá cả lại biến động, trong khi đó nhu cầu và giá cả của hàng công nghiệp luôn tăng nhanh vì có đàn tính thu nhập cao (thu nhập của người dân càng tăng thì nhu cầu về các mặt hàng ấy càng tăng, tăng hơn cả thu nhập). Do đó, điều kiện giao dịch của các nước sản xuất và xuất khẩu sản phẩm khai thác từ tài nguyên sẽ càng bất lợi và các nước nầy càng tăng xuất khẩu càng giảm sức mua. Nhận định nầy đã trở thành cơ sở cho chủ trương là các nước xuất khẩu tài nguyên phải công nghiệp hóa thì kinh tế mới phát triển.

Về quan hệ mậu dịch Việt Trung, Việt Nam cũng xuất khẩu nguyên liệu, nông sản. Theo ý kiến chính thống trong lý luận về kinh tế phát triển thì Việt Nam bất lợi trong điều kiện giao dịch với Trung Quốc. Tuy nhiên, có ý kiến ngược lại cho rằng kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ với quy mô lớn nên nhu cầu về nguyên liệu luôn tăng, do đó các nước xuất khẩu nguyên liệu có lợi từ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cụ thể là điều kiện giao dịch với Trung Quốc chẳng những không bất lợi mà ngược lại.[5]

Điểm nầy cần được kiểm chứng. Rất tiếc người viết bài nầy chưa có điều kiện về thì giờ cho việc kiểm chứng nầy nhưng có thể suy đoán là điều kiện giao dịch của Việt Nam không bất lợi vì các lý do sau:

Thứ nhất, giá cả trên thì trường thế giới về những mặt hàng chủ yếu mà Việt Nam xuất sang Trung Quốc trong 10 năm qua có khuynh hướng tăng, đặc biệt, như Hình 1 cho thấy, các mặt hàng nguyên liệu, năng lượng như than đá, dầu thô từ khoảng năm 2002 đến năm 2008 đã tăng gấp 3-4 lần. Tình trạng săn lùng tài nguyên của Trung Quốc trên khắp châu Phi, châu Á và Nam Mỹ cho thấy nhu cầu của nước nầy rất cao và ngày càng tăng.

Hình 1 Biến động giá trên thị trường thế giới của một số nguyên liệu


Tư liệu: Datastream.

Thứ hai, các mặt hàng công nghiệp Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam giá thường rẻ. Trên thế giới Trung Quốc còn bị phê phán là bán phá giá. Tại Việt Nam hàng Trung Quốc cũng nổi tiếng giá rẻ. Như đã nói đến ở Tiết 1, các tỉnh ở Trung Quốc cạnh tranh nhau trong đầu tư sản xuất gây ra vấn đề sản xuất thừa.

Tuy nhiên dù cho điều kiện giao dịch đang theo chiều hướng thuận lợi, một nước đông dân như Việt Nam không thể phát triển dựa trên khai thác và xuất khẩu tài nguyên. Không kể khả năng tài nguyên sẽ cạn kiệt, mô hình phát triển nầy sẽ không kích thích, không khuyến khích việc xây dựng nguồn nhân lực có tri thức, có kỹ năng cao, những điều kiện cần để có một nền kinh tế phát triển bền vững. Thu nhập qua việc khai thác tài nguyên cũng thường được phân phối giữa những người thuộc tầng lớp lãnh đạo hoặc quan chức và doanh nghiệp liên hệ. Đây là hiện tượng liên quan đến giả thuyết về lời nguyền của tài nguyên (resource curse) đã được phân tích nhiều cả về lý luận và thực chứng.[6]

Vấn đề ở đây là dù biết xuất khẩu tài nguyên là bất lợi trên đường phát triển nhưng với quy mô sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp quá lớn, và nhu cầu tiêu thụ tài nguyên với quy mô lớn và đang tăng mạnh của Trung Quốc, thách thức đối với Việt Nam là rất lớn. Thêm vào đó, trong quan hệ mậu dich Việt Trung, còn một điểm nữa về mặt lý luận cũng đáng quan tâm. Đó là ảnh hưởng của trào lưu mậu dịch tự do hiện nay.

Ở Đông Á hiện nay, Hiệp định tự do mậu dịch (FTA) và Hiệp định hợp tác kinh tế (EPA) đang trở thành trào lưu chính trong quan hệ kinh tế giữa các nước. Mục tiêu chính của các hiệp định là cắt giảm hoặc bãi bỏ các hàng rào quan thuế và phi quan thuế, đẩy mạnh phân công lao động, tăng mậu dịch và đầu tư. Đối với các nước thành viên, do thị trường mở rộng, và do các yếu tố sản xuất như lao động, tư bản dịch chuyển nhanh sang các ngành có lợi thế so sánh, kinh tế phát triển nhanh hơn và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong các hiệp định tự do mậu dịch mà trình độ phát triển giữa các nước thành viên quá khác biệt, cơ hội và thách thức đối với các nước sẽ không giống nhau. Đối với các nước còn ở trình độ phát triển thấp, thách thức lớn hơn cơ hội nếu không nỗ lực nhanh chóng hình thành và thực hiện các chiến lược, chính sách phát triển thích hợp trước khi hiệp định được thực thi hoàn toàn. Khác với kinh nghiệm của những nước đã phát triển (như Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, v.v..), các nước đang phát triển ngày nay không đủ thời gian để bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ, ít thời gian để chuẩn bị chuyển dịch sang một lợi thế so sánh mới. Do đó, trong khi chưa có các chính sách, chiến lược hiệu quả, trong khuôn khổ của FTA hoặc EPA, hàng công nghiệp từ các nươc phát triển trước sẽ tràn ngập vào các nước phát triển sau. Trong quá trình hội nhập, lợi thế so sánh hiện tại của các nước đi sau có khả năng sẽ bị cố định hóa. Tôi đã có dịp bàn vấn đề nầy chi tiết hơn trên Thời Đại mới (TV Thọ 2006) và đưa ra thuật ngữ Cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do trên Thời báo kinh tế Saigon để nói về thách thức mà Việt Nam phải trực diện trên đường hội nhập (TV Thọ 2007).

Đối với Việt Nam, ảnh hưởng của Hiệp định mậu dịch ASEAN Trung Quốc (ACFTA) là đáng lo ngại. Như đã phân tích ở Tiết 2, chỉ còn hơn 3 năm nữa thì hiệp định nầy sẽ được thực hiện hoàn toàn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hiệp định nầy sẽ làm cho tác động từ sự trỗi dậy của Trung Quốc đối với Việt Nam càng mạnh mẽ hơn. Cơ cấu về lợi thế so sánh của Việt Nam sẽ bị cố định hóa, nghĩa là cơ cấu xuất nhập khẩu hiện tại (các Biểu 1, 3 và 4) của Việt Nam có nguy cơ sẽ kéo dài nhiều năm trong tương lai. Việt Nam có nguy cơ sẽ trở thành thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp của Trung Quốc và cung cấp tài nguyên và các sản phẩm nông lâm, ngư nghiệp cho nước nầy.

Thay lời kết: Con đường để Việt Nam thoát ra khỏi nguy cơ

Phân tích trên đây cho thấy sự trỗi dậy của Trung Quốc đang gây tác động lớn, đang trở thành trở lực lớn trên con đường công nghiệp hóa của Việt Nam. Mặt khác, nhìn tình trạng và chính sách kinh tế, chính sách giáo dục của Việt Nam hiện nay, ta không thể không bi quan. Nếu lãnh đạo hiện nay không ý thức đầy đủ thách thức nầy và khẩn trương đưa ra các chiến lược, chính sách thích hợp và dốc toàn lực thực hiện các biện pháp liên hệ thì nguy cơ đến từ dòng thác công nghiệp Trung Quốc cộng với cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do chắc chắn sẽ xảy ra.

Đâu là con đường để Việt Nam thoát khỏi nguy cơ nầy? Đề tài nầy sẽ được bàn đến trong một dịp khác. Bài viết nầy chỉ có chủ đích phân tích hiện trạng để thấy rõ hơn bản chất của sự trỗi dậy của Trung Quốc và xét xem sự trỗi dậy đó ảnh hưởng như thế nào đến con đường phát triển của Việt Nam. Tuy nhiên, để kết thúc bài viết, ta thử nêu vài điểm liên quan đến chiến lược, chính sách của Việt Nam nhằm đối phó với nguy cơ nầy.

Thứ nhất, trước mắt và trong trung hạn (độ 3 năm), cần có ngay các chính sách tăng sức cạnh tranh quốc tế của những mặt hàng đang có lợi thế so sánh (nhóm hàng có hàm lượng kỹ năng thấp trong Biểu 1) và chuẩn bị tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong các mặt hàng có hàm lượng kỹ năng trung bình. Chính sách nầy gồm rất nhiều bộ phận. Một là phải tạo điều kiện khai thông thị trường vốn, thị trường lao động để doanh nghiệp tiếp cận được đến các yếu tố sản xuất (hiện nay có tình trạng khu công nghiệp thiếu lao động trong khi lao động dư thừa ở nông thôn; doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa không có vốn để đầu tư thay đổi công nghệ). Chính sách hạ tầng xã hội liên quan đến đời sống của người lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng phải được quan tâm. Hai là phải cải thiện ngay các điều kiện về hạ tầng, ưu tiên cung cấp điện cho sản xuất, đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng giao thông liên quan trực tiếp đến sản xuất công nghiệp. Ba là phải cải thiện các khâu liên quan thủ tục hành chánh ở bến cảng, ở khu công nghiệp và những nơi có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.

Những vấn đề nầy có thể thực hiện được ngay. Nhưng vấn đề là lãnh đạo phải có quyết tâm và quan chức liên hệ phải có năng lực và tinh thần trách nhiệm.

Thứ hai, trong dài hạn phải có chiến lược chuẩn bị điều kiện để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp lên cao hơn, tham gia được vào sự phân công hàng ngang với Trung Quốc và các nước khác ở Đông Á trong những mặt hàng có hàm lượng kỹ năng cao. Có hai điểm quan trọng liên quan đến chiến lược nầy. Một là triệt để cải cách giáo dục và đầu tư thích đáng cho giáo dục và nghiên cứu khoa học, công nghệ để cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công nghiệp như đã nói. Hai là có chiến lược chọn lựa, thu hút dòng đầu tư nước ngoài (FDI) có chất lượng cao để nhanh chóng tham gia vào mạng lưới phân công lao động trong các ngành có hàm lượng công nghệ cao, đòi hỏi kỹ năng lao động cao. Nếu không có các chính sách nầy, Việt Nam sẽ không bao giờ theo kịp Trung Quốc và sẽ sa vào một cái bẫy khác, cái bẫy của nước thu nhập trung bình.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang và sẽ tác động mạnh đến kinh tế Việt Nam. Tránh được nguy cơ nầy hay không tùy thuộc vào bản lãnh, quyết tâm của lãnh đạo và quan chức Việt Nam.



Tư liệu có trích dẫn

Ando, Michiyo (2006), Fragmentation and Vertical Intra-Industry Trade in East Asia, North American Journal of Economics and Finance, 17, Issue 3 (December), pp. 257-281.

Athukorala, Prema-chandra (2009), The Rise of China and East Asian Export Performance: Is the Crowding –Out Fear Warranted? , The World Economy, 32-2, pp. 234-266.

Coxhead, Ian (2007), A New Resource Curse? Impacts of China’s Boom on Comparative Advantage and Resource Dependence in Southeast Asia, World Development, Vol. 35 No. 7, pp. 1099-1119.

Coxhead, Ian and Sisira Jayasuriya (2009), China, India and the Commodity Boom: Economic and Environmental Implications for Low-Income Countries, The World Economy, pp. 1-27.

Kimura Fukunari and Michiyo Ando (2005), Two-Dimensional Fragmentation in East Asia: Conceptual Framework and Empirics, International Review of Economics and Finance, 14, Issue 3, pp. 317-348.

Kwan, C. Hung (2010), China As Number One, Toyo Keizai Shinpo-sha, Tokyo.

Trần Văn Thọ (2002), Tính chất bắc-Nam trong quan hệ kinh tế Việt Trung, Thời báo kinh tế Saigon, số báo Tết Nhâm Ngọ, pp. 17-18.

Trần Văn Thọ (2006), Cộng đồng kinh tế Đông Á nhìn từ các nước đi sau, Thời đại mới số 8 (tháng 7). .

Trần Văn Thọ (2007), Việt Nam trước cái bẫy của trào lưu mậu dịch tự do, Thời báo kinh tế Saigon (31/12/2007)

Trần Văn Thọ (2009), Xác lập tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt Trung, Diễn Dàn (Tết Kỷ Sửu), bổ sung và đăng lại ở Tuanvietnam (Vietnamnet) ngày 6/1/2010.

Tran Van Tho & Kunichika Matsumoto (2010), Chugoku to Betonamu no Boueki no Jittai (Thực thể ngoại thương Việt Trung), Ch. 2 trong Viện nghiên cứu Việt Nam (2010), Chíến lược, chính sách nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của công nghiệp Việt Nam trước sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc, Đại học Waseda, Tokyo.


Chú thích

[1] Hiện tượng nầy gần đây được phân tích bằng lý luận về sự phân khúc hoặc phân đoạn (fragmentation theory). Xem, chẳng hạn Kimura and Ando (2005), Ando (2006). Từ góc độ nầy, phân tích của Athukorala (2008) cho thấy sự trỗi dậy của Trung Quốc đẩy mạnh phân công nội ngành với các nước Á châu khác.

[2] SITC: Mã số tiêu chuẩn phân loại của thống kê Liên Hiệp Quốc.

[3] Xem Trần Văn Thọ (2002). Vấn đề nầy được phân tích trở lại trong Trần Văn Thọ (2009).

[4] Theo kết quả tính toán trong Tran & Matsumoto (2010).

[5] Điển hình cho ý kiến nầy là Kwan (2010). Ông ta cho rằng trong quá trình trỗi dậy của TQ những nước có vai trò bổ sung (xuất khẩu nguyên liệu) thì được lợi và những nước ở vị trí cạnh tranh (cùng xuất khẩu hang công nghiệp như TQ) thì bất lợi.

[6] Về vấn đề nầy, tư liệu khá nhiều. Riêng bàn về ảnh hưởng của Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á, xem, chẳng hạn, Coxhead (2007).





© Thời Đại Mới