Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Ukraine 'không phải trận chiến Đông Tây'

Ukraine 'không phải trận chiến Đông Tây'


BBC     Cập nhật: 03:08 GMT - thứ tư, 26 tháng 2, 2014
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry nói Ukraine không phải là nơi Đông-Tây giao đấu, trong khi căng thẳng gia tăng ở các khu vực nói tiếng Nga.
Ông Kerry nói đây không phải là trò thắng-thua (zero-sum game) và kêu gọi tất cả các nước đoàn kết để mang lại bình ổn cho Ukraine.
Chính phủ mới tại Kiev đang phải đương đầu với sự phản đối tiếp diễn từ các khu vực nói tiếng Nga của Ukraine.
Nga, vốn hậu thuẫn Tổng thống bị lật đổ Viktor Yanukovych, đã cảnh báo các nước khác không nên "thủ lợi" từ tình hình ở Ukraine.
Tuy nhiên, Ngoại trưởng Sergei Lavrov nói Nga vẫn tiếp tục chính sách không can thiệp [vào nội bộ nước khác].
Hôm thứ Hai 24/2, ông Kerry đã gặp Ngoại trưởng Anh William Hague tại Washington để bàn về tình hình ở Ukraine.
Sau cuộc gặp, ông ngoại trưởng nói: "Cả hai chúng tôi đều cam kết nỗ lực để hỗ trợ người dân Ukraine, những người đã tự lên tiếng với nhiệt huyết đòi được có một tương lai dân chủ".
"Đây không phải trò thắng-thua, đây không phải cuộc chiến phương Tây với phương Đông. Đây không phải Nga, không phải Hoa Kỳ, mà là chuyện của người dân Ukraine, lựa chọn của người Ukraine về tương lai của họ; và chúng tôi muốn hợp tác với Nga cũng như các nước khác, với tất cả mọi người, để bảo đảm rằng tiến trình này từ nay sẽ hòa bình".

Nguy cơ ly khai

Trước đó, Tổng thống tạm quyền của Ukraine, Olexander Turchynov, đã bày tỏ quan ngại về điều mà ông gọi là đe dọa nghiêm trọng của xu hướng ly khai theo sau việc lật đổ ông Yanukovych.
Phát biểu trước Quốc hội, ông nói ông sẽ gặp các cơ quan hành pháp để thảo luận nguy cơ ly khai tại các khu vực có đông người Nga.
Nhiều người nói tiếng Nga ở phía đông và nam Ukraine đã phản đối hành động của chính quyền lâm thời.
Tại cảng Sevastopol đã có tuần hành của người nói tiếng Nga
Hôm thứ Ba 25/2 tại cảng Sevastopol vùng Crimea, người nào đó đã thay cờ Ukraine trên một tòa nhà của chính quyền bằng cờ Nga.
Trong khi đó, Quốc hội tại Kiev đã tạm hoãn việc hình thành chính phủ cho tới thứ Năm 27/2.
Ông Turchynov nói tạm hoãn là để có thời gian tham vấn thêm.
Ông Yanukovych đã rời Kiev vào dịp cuối tuần và hiện còn chưa rõ ông đang ở chỗ nào.
Chính quyền lâm thời đã ra lệnh bắt ông và vào thứ Ba 25/2 Quốc hội cũng bỏ phiếu thông qua kế hoạch mang ông ra xét xử tại Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) ở The Hague.
Ông Yanukovych bị cáo buộc trách nhiệm trong cái chết của hơn 100 người biểu tình bị cảnh sát chống bạo động bắn.
Nga cho tới nay vẫn phản đối các thay đổi ở Ukraine, Thủ tướng Dmitry Medvedev hôm thứ Hai nói chính phủ mới ở Ukraine đã thực hiện một cuộc "binh biến có vũ trang".
Ngoại trưởng Lavrov thì nói Nga mong muốn Ukraine "trở thành một bộ phận của gia đình châu Âu rộng lớn hơn" nhưng "để cho các thành phần quá khích và dân tộc chủ nghĩa đang muốn chiếm vị trí trung tâm nổi lên" không có lợi cho Nga.
Tình trạng bất ổn tại Ukraine bắt đầu hồi tháng 11 năm ngoái khi ông Yanukovych bác một thỏa thuận thương mại quan trọng với EU để xích lại gần Nga.
Ukraine hiện đang gần lâm vào tình trạng phá sản khi khoản vay mà Nga hứa cấp xem ra không khả quan và các lãnh đạo mới đang tìm cách xin trợ giúp của phương Tây.

Source : BBC

Ianoukovitch đã vạch kế hoạch quy mô đàn áp biểu tình

Ianoukovitch đã vạch kế hoạch quy mô đàn áp biểu tình

Tổng thống bị truất phế Ianoukovitch có nguy cơ bị truy tố trước toà án quốc tế - AFP / BATKIVSCHCHYNA PARTY
Tổng thống bị truất phế Ianoukovitch có nguy cơ bị truy tố trước toà án quốc tế - AFP / BATKIVSCHCHYNA PARTY

Thụy My - RFI
Theo một tài liệu được phổ biến trên mạng hôm nay 25/02/2014, cựu Tổng thống Ukraina Viktot Ianoukovitch trước khi bị hạ bệ đã có sẵn kế hoạch đàn áp quy mô người biểu tình, huy động 22.000 cảnh sát cùng với xe bọc thép.

Các nhà báo Ukraina hiện đang nghiên cứu hàng ngàn tài liệu mà họ cho biết là tìm thấy được gần dinh cơ sang trọng của ông Ianoukovitch ở gần Kiev, sau khi ông này bỏ trốn đến miền đông. Dân biểu Hennadi Moskal, cựu Thứ trưởng Nội vụ, đã đưa lên mạng một tài liệu chi tiết về kế hoạch bao vây quảng trường Độc lập (Maidan), với các tay súng bắn tỉa phụ trách nhắm bắn vào những người biểu tình bên dưới.
Trong số 22.000 cảnh sát viên được huy động vào chiến dịch này, có 2.000 cảnh sát chống bạo động « Berkout ». Ông Hennadi Moskal, thành viên đảng Batkivchtchina của cựu Thủ tướng Ioulia Timochenko, nói rằng công bố tài liệu trên để gây áp lực lên chính quyền mới nhằm buộc Viktor Ianoukovitch phải trả lời trước pháp luật.
Một trong số các nhà báo đang nghiên cứu những tài liệu thu được từ tư dinh Ianoukovitch cho Reuters biết một số hồ sơ khác cũng sẽ được công bố trong tuần này.
Có ít nhất 88 người đã bị bắn chết vào tuần rồi trong các cuộc đụng độ giữa cảnh sát và những người biểu tình chống Ianoukovitch đã chiếm cứ quảng trường Độc lập tại trung tâm thủ đô Kiev suốt ba tháng qua.
Ông Ianoukovitch bỏ trốn khỏi Kiev vào tối thứ Sáu 21/02, Quốc hội phế truất ông hôm sau đó và tân chính quyền hôm qua 24/02 đã phát lệnh truy nã cựu Tổng thống vì tội « thảm sát tập thể ».

RFI

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Chim Chích Choè Của Kinh Tế Học


Tuesday, February 18, 2014

Chim Chích Choè Của Kinh Tế Học



Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 140217
"Kinh Tế Cũng Là Chính Trị"

Thành Tích Kinh Tế Của Barack Obama   

* Ngày 17 Tháng Hai 2009, Obama và khay bút ký đạo luật ARRA - mặt mày hớn hở !* 



Gần hai tháng sau khi tuyên thệ nhậm chức, ngày 17 Tháng Hai năm 2009, Tổng thống Barack Obama đã ký đạo luật kích thích kinh tế tên là ARRA (American Recovery and Reinvestment Act of 2009) trị giá hơn 800 tỷ Mỹ kim. Đạo luật được Hạ viện rồi Thượng viện của Quốc hội khóa 111 thông qua với đại đa số dân biểu nghị sĩ Dân Chủ - và lác đác vài lá phiếu Cộng Hoà.  

Đúng năm năm sau, người ta tiếp tục tranh luận về sự công hiệu, hay vô hiệu, của đạo luật.

Phía Cộng Hoà và các kinh tế gia thuộc trường phái tự do thì phê phán đạo luật là ít công hiệu, gây bội chi ngân sách và lãng phí qua nhiều mục chi có nội dung chính trị. Phe ủng hộ có kinh tế gia đã đoạt giải Nobel và là bình luận gia nổi tiếng thiên tả là Paul Krugman thì lý luận rằng đạo luật có giá trị, mà chỉ bằng một phần ba nhu cầu, nếu không thì còn tác động lớn hơn.

Trước sự thể đó, người thường như chúng ta nghĩ sao?

Vì kinh tế cũng là chính trị, người viết xin thành thật khai báo là không tin vào các chính trị gia mà cố tìm vào những con số khách quan từ đầu năm 2009 đến đầu năm 2014 để đánh giá. Sau đây là những số liệu kinh tế mới nhất, để quý độc giả rút lấy kết luận về truyện chích chòe trong kinh tế chính trị học.


***


Về đại thể, kể từ khi ông Obama nhậm chức, kinh tế Mỹ có tạo thêm hơn ba triệu việc làm và đẩy mức thất nghiệp từ 7,8% xuống 6,6%. Đó là con số của thành tích. Nhưng hơn 10 triệu người vẫn chưa có việc và gần bốn triệu bị thất nghiệp quá 27 tuần, tăng gần một triệu hai. Số thất nghiệp dài hạn, là quá 37 tuần, thì tăng gần gấp đôi con số đầu năm 2009.

Về chi tiết, số người tham gia thị trường lao động giảm 2,9 điểm bách phân, tới mức thấp nhất kể từ 1978. Có hai lý do giải thích tình trạng bi đát này, mà mỗi phe lại chấm một để biện giải.

Phe ủng hộ nói đến lớp người sinh sau Thế chiến II (từ 1946 đến 1964) đã đến tuổi về hưu, phe đả kích thì nhắc đến những người mất việc quá lâu nên nản chí hết muốn tìm việc. Ngoài ra còn một lý do thứ ba là nhiều người bất toàn về thể lực (disabled workers) có thêm phúc lợi, tăng 20% kể từ 2009, nên không cố tìm việc và ra khỏi thị trường lao động.
Bên cạnh yếu tố nhân dụng và việc làm, một chi tiết cũng cần chú ý: vật giá hay lạm phát.

Những người chống đối thì e bội chi ngân sách quá lớn có thể gây ra lạm phát. Sai bét, thật ra, một thước đo về vật giá là chỉ số giá tiêu thụ CPI chỉ tăng có 10,3%. Tức là rất ít lạm phát. Khi đó, ta cần nhớ thêm rằng sau đạo luật ARRA trị giá khoảng 838 tỷ, Ngân hàng Trung ương Mỹ bơm thêm hơn ba ngàn tỷ đô la trong năm năm để lại kích thích kinh tế mà vật giá và lãi suất không tăng. Những người làm chánh sách thì e kinh tế có thể bị nguy cơ giảm phát chứ không phải là lạm phát!

Chuyện thứ ba là bội chi ngân sách.

Trong bài diễn văn tháng trước về Tình hình Liên bang (SOTU), Tổng thống Obama khoe thành tích cắt giảm bội chi ngân sách. Sự thật thì bội chi vẫn ở mức kỷ lục của lịch sử và đang chồng chất thêm. Khi ngân sách bị bội chi, nhà nước phải đi vay. Tổng số nợ của khu vực công quyền liên bang hiện đang ở mức 17 ngàn tỷ 300 triệu đô la, tăng 63% so với khi Obama nhậm chức.

Chi tiết kỹ thuật là trong số này có cả khoản tiền nhà nước tự vay - đa số là quỹ An sinh Xã hội, nội dung của một bài khác. Yếu tố đáng chú ý hơn vì có hậu quả kinh tế trong trung hạn là khoản tiền nhà nước nợ công chúng: thêm 12,3 ngàn tỷ, tăng 95% trong năm năm đầu của Chính quyền Obama. Với đà này, khoản công trái của chính quyền nợ tư nhân sẽ tăng gấp đôi trong hai nhiệm kỳ Obama. Đấy cũng là một cách đánh giá hiệu ứng của đạo luật kích thích: kết quả thì ít mà gánh nợ thì nhiều.

Khi vay tiền thì phải trả tiền lời, một phí tổn ở khoảng 6,5% của số tổng chi. Theo cơ quan độc lập CBO của Quốc hội (Congressional Budget Office), tiền lời sẽ ngốn một khoản lớn hơn của số tồng chi và khi lãi suất sẽ tăng sau này thì phí tổn đi vay của nhà nước còn tăng nữa. Diễn giải cho dễ hiểu: vay tiền mua thuốc bổ mà bệnh không giảm thì... đã nghèo mà lại mắc eo.

Trong cả bi kịch kinh tế này, có một thành phần lại rất hài lòng – mà ít nói ra.

Đó là doanh gia và các doanh nghiệp lớn. Số doanh lợi mới nhất mà người ta có thì thuộc Quý Ba năm ngoái (từ Tháng Bảy đến Tháng Chín) và tăng một ngàn 900 tỷ đô la. Con số vô hồn này phản ảnh hai chuyện: 1) tăng 178% so với khi ông Obama nhậm chức, 2) cao gấp ba tam cá nguyệt trước khi Obama chấp chánh. Vị Tổng thống của dân nghèo là con cưng của giới tài phiệt – nên được họ sốt sắng ủng hộ.

Cùng với thành phần doanh gia, người có tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán cũng thấy hài lòng vì các chỉ số chứng khoán đều tăng hơn gấp đôi trong năm năm đầu của Obama. Tính đến giữa Tháng Giêng thì chỉ số Standard and Poor's 500 tăng 123%, chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 106% và chỉ số NASDAQ tăng gần gấp ba (190%). Cho dù thị trường chứng khoán Mỹ có thể điều chỉnh và mất giá chừng 10% trong mấy tháng tới thì giới đầu tư vẫn lời chán.

Khi ấy, ta nên chú ý đến một nghịch lý: thị trường cổ phiếu thường lên giá dưới thời Tổng thống Dân Chủ. Đấy là chuyện "một đồng một cốt"!

Nếu có ai thắc mắc thì xin nhớ lại ca khúc cho thiếu nhi của nhạc sĩ Đức Quỳnh. Một ca khúc ngụ ngôn ngộ nghĩnh:

Chim chích chòe nó kêu chích choè
Tôi ném hòn sành lăn cổ xuống ao...
Đem về vừa xáo vừa xào được ba bát đầy
Ông Thầy ăn một, bà Cốt ăn hai
Còn đầu còn tai đem về biếu Chúa,
Chúa hỏi chim gì? Là chim chích choè!

Trong chế độ dân chủ thì Chúa ở đây là người chủ. Là quần chúng nhân dân! Trước hết là dân nghèo, và thành phần trung lưu vẫn được Tổng thống Obama nhắc tới? Họ được hưởng cái đầu cái tai ra sao?

Suốt năm năm qua, lương bổng cho công nhân viên chức tại Mỹ không tăng mạnh. Tính theo lương tuần thì sau khi khấu trừ vật giá chỉ tăng có 0,3%. Đầu và tai chim, là vậy! Thế còn cái tổ?

Số người có nhà thì giảm 2,4 điểm bách phân, tới mức tiêu điều là 65,1% so với thời cực thịnh là 69,4% vào năm 2004. Số người lãnh trợ cấp lương thực (food stamps) lên tới mức kỷ lục là hơn 47 triệu người, 15% dân số toàn quốc, so với năm 2012 thì giảm chút đỉnh mà vẫn là tăng 48,3% so với năm đầu của Obama. 
Năm 2012, cựu Dân biểu Newt Gingrich đả kích Obama là "Tổng thống Tem phiếu". Hơi oan, mà hơi thôi.

Oan vì trong hai nhiệm kỳ của Tổng thống Georges W. Bush, số dân lãnh tem phiếu tăng 14,7 triệu, nay thì tăng 15,4 triệu. Nhưng hơi thôi vì trong đạo luật ARRA, một số biện pháp trợ cấp "nhất thời" cứ được tái tục nhiều lần cho tới Tháng 11 năm ngoái. Biện pháp cứu đói giảm nghèo không thấy "phê" cho người nghèo đói.

Vì giấy báo có hạn, bài viết xin dừng tại đây mà khỏi nói đến nhiều hiệu ứng quốc tế của đạo luật ARRA. Thí dụ như xuất cảng chỉ tăng có 34% so với chỉ tiêu của ông Obama là tăng gấp đôi. Hay sản lượng dầu thô và khí đốt của Hoa Kỳ tăng bất ngờ tới 60% và năng lượng nhập cảng giảm 51% - mà không nhờ chính sách của ông Obama....

Kết luận ở đây là nền dân chủ có tùy thuộc vào trình độ hiểu biết tối thiểu về kinh tế của người dân. Vì vậy mới có cột mục kinh tế này. 


Source : dainamax tribune

GS Thayer và câu chuyện Tháng Hai

GS Thayer và câu chuyện Tháng Hai

Huỳnh Phan (Thực hiện)
GS Carl Thayer. Ảnh: Huỳnh Phan
Nguyên nhân sâu xa chính là việc Việt Nam và Liên Xô ngày 3.11.1978 đã ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trong đó có điều 6 thoả thuận rằng "trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe doạ tiến công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước".


LTS: TVN xin đã gặp và phỏng vấn GS Carl Thayer của Học viện Quốc phòng Úc, nhân dịp ông sang Việt Nam tham gia đàm thoại trên VTV6. Câu chuyện bắt đầu từ lễ kỷ niệm bỏ cấm vận vừa được tổ chức ở Mỹ...

"Đến bù chiến tranh"?

Thưa ông, vừa rồi bên Mỹ có tổ chức rất hoành tráng ký niệm 20 năm quan hệ kinh tế Mỹ - Việt (người Mỹ không thích dùng từ gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế với Việt Nam - 3.2.1994). Trong suốt một thập kỷ rưỡi cấm vận kinh tế, ngoài lý do  rút quân khỏi Căm-pu-chia, người Mỹ đã yêu cầu Việt Nam phải đạt được thành tích tốt trong kiểm điểm quân nhân Mỹ mất tích tại Việt Nam. 

Mỹ đã tham gia nhiều cuộc chiến trên thế giới, chuyện chết không tìm thấy xác cũng thường tình trong chiến tranh, vậy tại sao kiểm điểm người Mỹ mất tích tại Việt Nam lại quan trọng như vậy, là điều kiện tiên quyết cho việc gỡ bỏ cấm vận kinh tế?

Bởi vì tại cuộc chiến tranh Việt Nam lần đầu tiên người Mỹ đã thua trong tủi nhục, và họ không chịu được chuyện đó. Họ dùng chuyện kiểm điểm những lính Mỹ mất tích làm một trong những cái cớ để làm khó Việt Nam, và cũng là cái cớ để xoa dịu những gia đình có người bị chết trong cuộc chiến bại này.

chiến tranh biên giới, cuộc chiến 1979, quan hệ Việt Mỹ, quan hệ Việt Trung
Bộ đội và dân quân Việt Nam sẵn sàng đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979. Ảnh tư liệu

Trong những năm 1976 -1978, việc Việt Nam bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, bằng cách đặt ra điều kiện tiên quyết cho việc này là Mỹ phải trả khoản 3,25 tỷ USD để tái thiết Việt Nam, theo tinh thần của Hiệp định Paris.Ông nghĩ về sự lỡ hẹn đó như thế nào?

Cũng là tâm lý của người thua cuộc thôi, bởi người Mỹ hiểu rằng khoản tiền này giống như tiền "đền bù chiến tranh" của nước thua cuộc. Và họ đã viện cớ chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã vi phạm hiệp định hòa bình Paris để giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

Còn phía Việt Nam thì không hiểu vai trò Quốc Hội ở Mỹ lại lớn như vậy, khi quyết định các khoản tín dụng như vậy, chứ không phải họ thực hiện theo ý chí của đảng cầm quyền.

Thế tại sao khi Việt Nam đã xuống nước, khi Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền đã tuyên bố ở Tokyo rằng sẵn sàng đàm phán bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ vô điều kiện vào tháng 7.1978, Mỹ lại từ chối?

Lúc này, Tổng thống Jimmy Carter đứng trước ba sự lựa chọn:

-       Bình thường hóa quan hệ đồng thời với cả Trung Quốc và Việt Nam.
-       Bình thường hóa với Trung Quốc trước.
-       Bình thường hóa với Việt Nam trước.

Do quyết tâm chơi với Trung Quốc để chống lại Liên Xô, Tổng thống Carter đã chọn khả năng thứ hai, và trong đó có vai trò đặc biệt của Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski. Và việc Việt Nam đưa quân sang Căm-pu-chia tháng 12.1978 và cuộc chiến ở biên giới phía Bắc sau đó 2 tháng đã làm thay đổi tất cả. Mỹ chống lại việc Việt Nam đưa quân vào Căm-pu-chia, và sự việc diễn tiến như thế nào thì anh biết rồi đó.

Nhưng chính quyền của Tổng thống Carter đã ủng hộ Đặng Tiểu Bình trong sự kiện đầu năm 1979?

Đây là sự nhầm lẫn hoàn toàn. Khi Đặng Tiểu Bình, từ Mỹ về qua Tokyo, đã tuyên bố như vậy, và Washington đã rất tức giận. Mỹ không ủng hộ một nước mang quân sang một nước khác.

Khi Đặng Tiểu Bình trong chuyến thăm một số nước Đông Nam Á vào tháng 11.1978 đã tuyên bố quan điểm của ông ta về Việt Nam, Cố vấn An ninh Quốc gia Brzezinski đã vui mừng nhắc lại với báo chí Mỹ cơ mà?

Brzezinski có quan điểm chống Việt Nam và Liên Xô rất quyết liệt. Lúc đó, Việt Nam vừa mới ký hiệp định đồng minh với Liên Xô.

Như vậy, trong sự kiện đầu năm 1979 ở biên giới phía Bắc Việt Nam, quan điểm của phía Mỹ thế nào?
Mỹ yêu cầu phía Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, và Việt Nam rút quân khỏi Căm-pu-chia.

Đó là trên lời nói?

Trên thực tế, cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Việt Nam, với Mỹ, là chuyện của hai nước cộng sản, không mấy đáng quan tâm với Mỹ.

Còn việc Việt Nam rút quân khỏi Căm-pu-chia là đòi hỏi có thực. Bởi ngoài ý nghĩa quân đội Việt Nam có mặt trên đất Căm-pu-chia, các nước ASEAN, nhất là Thái Lan, phản đối rất dữ dội, và họ sợ Việt Nam nhân đà làm tới. Một số nước lại là đồng minh của Mỹ.

Mỹ có ủng hộ Khmer Đỏ không?

Không. Tội ác diệt chủng của Khmer Đỏ khiến mọi người ghê tởm, và với chính quyền Mỹ cũng vậy.
Thế sao năm 1982, Mỹ ủng hộ Liên minh Dân chủ của Sihanouk, Son San và Khmer Đỏ giữ ghế của Căm-pu-chia trong Liên Hợp Quốc?

Liên minh này do Trung Quốc dựng lên nhằm lấy cái danh tiếng của Sihanouk và Son San để che đi cái tội ác của Khmer Đó. Nhưng Khmer Đỏ lại là lực lượng có thực lực duy nhất ở Căm-pu-chia trong cuộc chiến chống lại quân đội Việt Nam và chính quyền do Việt Nam dựng nên. Mỹ ủng hộ liên minh này vì lý do như vậy, nhưng chính quyền Mỹ đã ra lệnh cho các quan chức không được bắt tay với người của Khmer Đỏ.

Nguyên nhân sâu xa...

Theo ông, sự kiện ở biên giới phía Bắc Việt Nam đầu năm 1979 có hoàn toàn là sự trả đũa? 

Việc Việt Nam bất ngờ tấn công Khmer Đỏ và 7.1.1979 giải phóng Phnom - Penh chỉ là nguyên nhân trực tiếp.

Nguyên nhân sâu xa chính là việc Việt Nam và Liên Xô ngày 3.11.1978 đã ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trong đó có điều 6 thoả thuận rằng "trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe doạ tiến công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hoà bình và an ninh của hai nước".

Qua điều 6 của bản hiệp ước dường như người ta hiểu liên minh này nhằm ngăn ngừa mối họa từ đâu. Trong khi đó, Trung Quốc coi Liên Xô là kẻ thù trực tiếp và số một.

Thế những sự kiện trước đó, như vấn đề nạn kiều, hay việc Trung Quốc cắt hết viện trợ cho Việt Nam vào giữa năm 1978, được nhìn nhận thế nào?

Đó là những sức ép lên Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm làm cho tình hình Việt Nam thêm khó khăn, và bắt Việt Nam phải nhượng bộ. Thế nhưng, sau khi gia nhập khối Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế), do Trung Quốc cắt hoàn toàn viện trợ, Việt Nam đã ký hiệp ước liên minh với Liên Xô.

Chính vì vậy, tại Đại hội 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức vào 12 năm 1986, Việt Nam đã quyết định đổi mới, và trong chính sách đối ngoại đã xác định "Việt Nam là bạn với tất cả", đặc biệt là không liên minh với nước nào để chống một nước nào.

Lúc đó, hiệp ước với Liên Xô vẫn còn hiệu lực?

Đúng. Nhưng Liên Xô dưới thời Gorbachev (lên từ 3.1985) có đường lối hòa hoãn với Trung Quốc, chủ yếu tập trung cải cách trong nước.

Hiệp ước này, về mặt an ninh, không còn giá trị khi một số hòn đảo tại Trường Sa bị chiếm đóng đầu năm 1988.

Xin cám ơn ông!

Huỳnh Phan (Thực hiện)

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HOA KỲ - CHÚ GIẢI CÁC THUẬT NGỮ VÀ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chú giải các thuật ngữ và Danh mục tài liệu tham khảo



Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2004


Activism (judicial). Tính tích cực của thẩm phán. Việc một thẩm phán sẵn sàng đưa vào trong một vụ xét xử những đánh giá riêng của cá nhân ông/bà ta về chính sách nào là tốt và xấu. Cũng xem self-restraint (judicial).
Actus reus. Khách quan của tội phạm. Yếu tố cấu thành tội phạm, có thể là việc thực hiện một hành động bị cấm (ví dụ như ăn cướp), hoặc không tiến hành một hành động đòi hỏi (ví dụ như dừng xe và giúp đỡ nạn nhân trong một vụ tai nạn giao thông).
Adversarial process. Quá trình tranh tụng. Quá trình được sử dụng trong các tòa án Mỹ, tại đó phiên xét xử được coi như một trận chiến giữa hai bên đố i lập, và vai trò của thẩm phán là hành động như một trọ ng tài thụ động. Cũng xem inquistorial method.
Advisory oppions. Các ý kiến tư vấn. Đưa ra một phán quyết dựa trên một ý niệm trừu tượng hoặc một câu hỏi mang tính giả định (việc mà các tòa án Mỹ không được tiến hành).
Alternative dispute resolution (ADR). Giải quyết tranh chấp bằng phương thức khác. Các biện pháp giải quyết tranh chấp (thường là với sự giúp đỡ của các bên thứ ba trung lập) mà không cần xét xử. Trung gian hòa giải hoặc trọng tài là hai kỹ thuật ADR rất phổ biến.
Amicus curiae (Friend of the court). Thân hữu của tòa án. Một người (hoặc nhóm người), không phải là một bên trong một vụ kiện, đưa ra những quan điểm (thường dưới dạng các văn bản toát yếu ngắn) về việc nên quyết định vụ kiện như thế nào.
Answer. Trả lời. Văn bản trình bày chính thức của một bị đơn trả lời đối với một khiếu kiện dân sự và đưa ra những lý lẽ làm cơ sở để bảo vệ ông / bà ta.
Appellate jurisdiction. Thẩm quyền phúc thẩm. Thẩm quyền của một tòa án cấp cao được xem xét lại phán quyết của một tòa cấp dưới.
Arraignment. Sự luận tội. Quá trình trong đó bị cáo được đưa ra trước thẩm phán tại tòa, nơi ông / bà ta sẽ buộc phải trả lời phán quyết của bồi thẩm đoàn hoặc lời cáo trạng của công tố viên.
Bail. Tiền bảo lãnh. Khoản tiền mà bị cáo nộp cho tòa án để bảo đảm rằng ông/bà ta sẽ có mặt tại thời điểm xét xử.
Bench trial. Phiên xét xử bởi thẩm phán. Một phiên xét xử không có bồi thẩm đoàn, trong đó thẩm phán quyết định bên nào sẽ thắng.
Bill of attainder. Lệnh tước quyền công dân và tịch thu tài sản. Một đạo luật, đã bị Hiến pháp Hoa Kỳ cấm, khiến cho mọi hành động của một người (hoặc của một lớp người) bị coi là bất hợp pháp, nhưng không áp dụng đối với công chúng nói chung.
Bill of information. Đơn kiện của công tố. Một tuyên bố về những tội trạng chống lại người bị buộc tội do công tố viên soạn thảo. Đơn kiện này, nếu được thẩm phán thông qua, sẽ đòi hỏi người bị buộc tội phải ra trước tòa để xét xử về những tội bị cáo buộc. Biện pháp này được sử dụng tại các bang không có bồi thẩm đoàn.
Certification. Xác nhận. Một thủ tục theo đó một trong các tòa phúc thẩm của Hoa Kỳ đề nghị Tòa án tối cao chỉ dẫn hoặc làm rõ về một vấn đề pháp lý cụ thể. Các thẩm phán Tòa tối cao có thể chấp nhận yêu cầu này hoặc không, hoặc họ có thể đề nghị chuyển tất cả hồ sơ của vụ việc cho Tòa án tối cao để xem xét lại và đưa ra phán quyết cuối cùng.
Civil law. Luật dân sự. Luật điều chỉnh các quan hệ giữa một công dân này với một công dân khác, giữa một công dân với một tổ chức, hoặc giữa các tổ chức với nhau.
Class action. Hành động tập thể. Một vụ kiện được tiến hành bởi những người cùng phải chịu những thiệt hại tương tự chống lại một thể nhân; ví dụ, một nhóm người hút thuốc lá bị ung thư phổi khởi kiện một công ty sản xuất thuốc lá.
Collegial courts. Tòa cấp cao. Các tòa án có nhiều hơn một thẩm phán, thường là các tòa phúc thẩm.
Common law. Thông luật. Một hệ thống luật lệ thừa hưởng của nước Anh căn cứ trên các tiền lệ hoặc truyền thống luật pháp chứ không dựa trên các luật lệ theo quy định hoặc các bộ luật có tính hệ thống.
Complaint. Khiếu kiện. Một văn bản chính thức do nguyên đơn đệ trình khởi xướng một vụ kiện dân sự. Văn bản nà y nêu lên những sai phạm mà bị đơn bị cáo buộc đã phạm phải và yêu cầu sự giúp đỡ của tòa án.
Concurrent jurisdiction. Thẩm quyền tài phán đồng thời. Một tình huống trong đó hai tòa án có thẩm quyền pháp lý để xét xử cùng một vụ việc. Ví dụ, cả Tòa án tối cao Hoa Kỳ và tòa án sơ thẩm của Hoa Kỳ đều có thẩm quyền tài phán đồng thời trong một số vụ án nhất định được đệ trình bởi hoặc chống lại các đại sứ hoặc lãnh sự.
Concurring opinion. Ý kiến đồng thời. Một ý kiến do một thành viên tòa án đưa ra đồng tình với kết quả xét xử của một vụ việc, nhưng dựa trên lý lẽ riêng của mình để ủng hộ quyết định này.
Corpus juris. Luật đoàn thể. Toàn bộ luật lệ đối với một thực thể pháp lý cụ thể. Courtroom workgroup. Nhóm làm việc của tòa án. Những người tham gia thường xuyên trong các hoạt động thường ngày của một tòa án cụ thể. Những thành viên nổi bật nhất của các nhóm này là các thẩm phán, công tố viên và luật sư biện hộ.
Court of appeals. Tòa phúc thẩm. Một tòa án cấp cao hơn tòa sơ thẩm thông thường và có chức năng xem xét lại hoặc điều chỉnh các quyết định của các thẩm phán tòa sơ thẩm.
Crime. Tội lỗi. Một hành vi phạm tội chống lại bang có thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền, tống giam, hoặc tử hình.
Criminal law. Luật hình sự. Luật xử lý những vi phạm chống lại bản thân các bang, những hành vi có thể trực tiếp nhằm vào một người nhưng được coi là có tính phạm tội chống lại xã hội nói chung - ví dụ như cướp có vũ khí hoặc cưỡng hiếp.
Cross-examination. Đối chất. Các câu hỏi được đặt ra cho một nhân chứng được gọi ra trước tòa bởi luật sư của bên kia trong phiên xét xử.
Damages. Khoản đền bù thiệt hại. Khoản tiền mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn thắng kiện trong các vụ kiện dân sự để bồi thường cho nguyên đơn vì những thiệt hại của họ. Các khoản đền bù thiệt hại được đưa ra nhằm bù đắp thua lỗ thực tế của nguyên đơn; các khoản đền bù mang tính trừng phạt được đưa ra nhằm để trừng phạt bị đơn.
Declaratory judgment. Án văn tuyên nhận. Khi một phiên tòa nêu khái quát các quyền của các bên theo một quy định, một chúc thư, hoặc một hợp đồng.
Defendant. Bị đơn, bị cáo. Một người hoặc một tổ chức bị nguyên đơn kiện trong một vụ kiện dân sự; trong một vụ án hình sự, đây là người bị buộc tội là đã phạm tội.
Deposition. Lời khai. Một lời khai có tuyên thệ được ghi lại bởi một viên chức được ủy quyền theo luật pháp. Những lời khai như vậy thường được dùng để kiểm tra các nhân chứng tương lai trong quá trình tìm hiểu vụ việc.
Discovery. Tìm hiểu. Quá trình trong đó các luật sư tìm hiểu về vụ việc của phía bên kia để chuẩn bị cho phiên xét xử. Các công cụ thường được sử dụng trong quá trình tìm hiểu này bao gồm các lời khai có tuyên thệ, các lời cung và yêu cầu về tài liệu.
Dissenting opinion. Ý kiến phản đối. Một ý kiến của một thành viên của tòa án không nhất trí với kết quả của vụ việc mà tòa án đưa ra.
Diversity of citizenship suit. Vụ kiện giữa các công dân của các bang.Một vụ kiện dân sự được đưa ra bởi một công dân của một bang chống lại công dân của một bang khác.
En banc. (“In the bench” hoặc “as a full bench”). Thủ tục tố tụng toàn thẩm. Toàn thể các quan tòa. Các phiên tòa có toàn bộ thành viên của tòa án tham dự, chứ không phải chỉ có một nhóm nhỏ các thẩm phán.
Equity. Luật công bình. Một lĩnh vực luật pháp trong đó các thẩm phán có thể đưa ra một biện pháp mà có thể ngăn ngừa hoặc sửa chữa những sai lầm có thể xảy ra; ví dụ, một mệnh lệnh tòa án chống lại một cuộc đình công bất hợp pháp của một công đoàn.
Ex post facto law. Luật có hiệu lực hồi tố. Đã bị cấm bởi Hiến pháp Hoa Kỳ, luật này tuyên bố một hành vi là bất hợp pháp sau khi hành vi này đã diễn ra.
Federal question. Vấn đề liên bang. Nếu một vụ việc đưa ra trước tòa tập trung vào cách thức diễn giải một đạo luật của liên bang, Hiến pháp Hoa Kỳ, hoặc một hiệp ước, nó sẽ được coi là một vấn đề liên bang và vụ việc có thể sẽ được xét xử bởi một tòa án Hoa Kỳ.
Felony. Trọng tội. Một tội mà hình phạt dành cho nó có thể là tử hình hoặc phạt tù.
Grand jury. Bồi thẩm đoàn. Một nhóm gồm từ 16 tới 23 công dân, những người nghe các bằng chứng trong những lập luận buộc tội được đưa ra bởi công tố viên, và quyết định xem liệu có cơ sở để tin rằng một cá nhân đã phạm tội hay không. Cũng xem indictment.
Habeas corpus. Luật bảo thân. Một trát đòi (lệnh tòa án) thường được sử dụng để đưa một tù nhân ra trước tòa nhằm xác minh tính hợp pháp của hành động tống giam ông / bà ta.
Impeachment. Luận tội. Cách duy nhất theo đó một thẩm phán liên bang có thể bị cách chức. Hạ viện đưa ra lời buộc tội, và Thượng viện, sau khi xét xử, sẽ kết tội bằng hai phần ba số phiếu của các thành viên.
Indictment. Cáo trạng. Quyết định của một bồi thẩm đoàn buộc bị đơn / bị cáo phải ra trước tòa để xét xử bởi vì bồi thẩm đoàn tin rằng có lý do để tiến hành việc xét xử.
Inquisitorial method. Phương pháp điều tra. Thủ tục được sử dụng ở hầu hết các tòa án châu Âu và Mỹ Latinh, trong đó thẩm phán và bồi thẩm đoàn đóng vai trò tích cực trong phiên tòa, còn các luật sư chỉ hành động để hỗ trợ và bổ sung cho quá trình điều tra của tòa án. Cũng xem adversarial process.
Interrogatories. Câu chất vấn tranh tụng. Các câu hỏi bằng văn bản được một bên trong một vụ kiện dân sự gửi cho bên kia như một phần của quá trình tìm hiểu trước khi xét xử. Bên nhận được câu chất vấn tranh tụng được yêu cầu phải trả lời có tuyên thệ.
Judgment. Án văn. Quyết định chính thức của một phiên tòa cuối cùng giải quyết tranh chấp giữa các bên trong một vụ kiện.
Judicial review. Xem xét của tòa án. Thẩm quyền của ngành tư pháp được tuyên bố các hành động của các ngành hành pháp và lập pháp là không hợp hiến.
Jurisdiction. Thẩm quyền tài phán. Thẩm quyền của một tòa án được lắng nghe và quyết định các vụ tranh chấp pháp lý và cưỡng chế thực thi phán quyết mà nó đưa ra.
Justiciability. Phạm vi tài phán. Việc một thẩm phán cần nghe hoặc từ chối không nghe một số vụ việc nhất định. Nó khác với thẩm quyền tài phán, vốn liên quan tới quyền của một thẩm phán về mặt kỹ thuật trong việc lắng nghe một vụ việc. Ví dụ, các vụ kiện liên quan tới những vấn đề chính trị được xem như không thuộc phạm vi tài phán.
Law. Luật pháp. Một quy phạm xã hội được thừa nhận bằng cưỡng chế hoặc trên thực tế bởi việc thực thi sức mạnh vật chất. Bên thực thi sức mạnh vật chất được xã hội thừa nhận là có quyền lực này một cách hợp pháp, ví dụ như sĩ quan cảnh sát.
Magistrate. Thẩm phán hành chính địa phương, thẩm phán tiểu hình.Một quan chức tư pháp cấp thấp, người nhận những lời buộc tội sau một vụ bắt giữ. Một thẩm phán hành chính địa phương có nghĩa vụ thông báo cho người bị buộc tội về những tội trạng chống lại ông / bà ta và quyền pháp lý của họ.
Mandatory sentencing laws. Các luật xử phạt cưỡng chế. Các quy định đòi hỏi thời gian giam giữ tự động đối với một người phạm tội bị kết án, thường là trong một khoảng thời gian tối thiểu. Các luật này thường dành cho những tội có yếu tố bạo lực trong đó có sử dụng súng và dành cho những kẻ thường xuyên vi phạm.
Mens rea. Ý chí phạm tội, yếu tố chủ quan của tội phạm. Yếu tố cấu thành tội phạm, được dự định bởi một người phạm tội. Thông thường, yếu tố tinh thần càng có tính tự nguyện và có chủ định thì tội phạm càng nghiêm trọng.
Merit selection. Tuyển lựa theo công trạng. Một phương pháp tuyển chọn các thẩm phán bang đòi hỏi thống đốc phải bổ nhiệm các thẩm phán từ một danh sách lựa chọn những cái tên được đệ trình bởi một ủy ban đặc biệt được thành lập vì mục đích này. Sau khi phục vụ được một thời gian ngắn, thẩm phán này sẽ phải tranh cử trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm. Lúc đó, những người bỏ phiếu sẽ quyết định liệu thẩm phán có được tín nhiệm để làm hết nhiệm kỳ đầy đủ hay không.
Misdemeanor. Khinh tội. Một tội nhỏ. Hình phạt thường là quản thúc trong một thành phố hoặc bị giam tại hạt trong khoảng thời gian ít hơn một năm.
Moot. Vụ việc có thể tranh luận. Miêu tả một vụ kiện khi các dữ kiện cơ bản hoặc vị thế của các bên có sự thay đổi quan trọng trong khoảng thời gian từ khi vụ kiện được đệ trình lên tòa tới khi nó được đưa ra xét xử trước các thẩm phán.
Nolo contendere. (“No contest”). Không tranh cãi. Một lời biện hộ của bị cáo hình sự trong đó ông / bà ta không phủ nhận những thực tiễn của vụ án, nhưng nói rằng ông / bà ta không phạm phải bất cứ tội nào, hoặc điều đó có thể có nghĩa rằng bị cáo không hiểu những lời buộc tội. Opinion of the court. Ý kiến của tòa án. Một lời giải thích bằng văn bản của thẩm phán về quyết định của tòa án. Bởi vì vụ việc có thể được xét xử bởi một ban thẩm phán trong một tòa phúc thẩm, nên ý kiến này có thể ở hai dạng. Nếu tất cả các thẩm phán đều nhất trí với phán quyết, một thẩm phán sẽ viết ý kiến này cho tất cả mọi người. Nếu không phải tất cả các thẩm phán đều nhất trí, quyết định chính thức sẽ được dựa trên quan điểm của đa số, và một thành viên của đa số sẽ viết ra quyết định này.
Oral argument. Tranh luận miệng. Một cơ hội để các luật sư tóm tắt quan điểm của họ trước tòa và trả lời những câu hỏi của thẩm phán. Ordinance-making power. Thẩm quyền ra các sắc lệnh tạo bố cục. Quyền của các thống đốc bang được điền vào các chi tiết của một đạo luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp bang.
Original jurisdiction. Thẩm quyền tài phán ban đầu. Tòa án mà theo luật quy định phải là nơi đầu tiên xét xử một loại vụ việc nhất định. Ví dụ, trong những vụ kiện mà giá trị tranh chấp ít nhất là 75.000 USD giữa các công dân của các bang khác nhau, các tòa án hạt của liên bang là tòa có thẩm quyền tài phán ban đầu.
Per curiam. (“By the court”). Theo tòa. Một ý kiến không được ký tên của tòa án, thường là ý kiến vắn tắt.
Peremptory challenge. Khước biện võ đoán, phản đối suy đoán. Lời phản đối mà một luật sư có thể đưa ra đối với một hội thẩm viên tương lai. Hội thẩm viên này có thể bị gạt ra khỏi bồi thẩm đoàn mà không cần luật sư phải đưa ra một lý do công khai cho việc phản đối. Số lượng những sự phản đối theo kiểu này bị hạn chế theo luật pháp.
Petit jury (hoặc trial jury). Bồi thẩm đoàn. Một nhóm công dân, những người lắng nghe các chứng cứ được cả hai bên đưa ra trước một phiên tòa và quyết định những thực tiễn đang được tranh cãi.
Plaintiff. Nguyên đơn. Người khởi kiện trong một vụ kiện dân sự. Plea bargain. Thương lượng về bào chữa, thỏa thuận lời khai. Một sự thương lượng hoặc thỏa thuận được tiến hành giữa công tố viên và luật sư biện hộ của bị cáo, theo đó bị cáo sẽ thay đổi lời biện hộ từ vô tội sang có tội để đổi lại một mức độ khoan dung nào đó.
Political question. Vấn đề chính trị. Khi các tòa án từ chối phán quyết bởi họ tin rằng khi soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ, những nhà sáng lập đất nước đã hàm ý rằng vấn đề đang xem xét cần phải được xử lý bởi Quốc hội hoặc tổng thống.
Private law. Tư pháp. Luật pháp liên quan tới quyền và nghĩa vụ mà các cá nhân và các thể chế tư nhân phải có trong mối quan hệ với các cá nhân và các thể chế tư nhân khác.
Probation. Tù treo. Hình phạt cho một tội lỗi, cho phé p người phạm tội vẫn được ở trong cộng đồng và không phải vào tù miễn là ông / bà ta tuân theo những chỉ dẫn có tính mệnh lệ nh của tòa án về hành vi của mình.
Pro bono publico (“For the public good”). Vì lợi ích công. Thường dùng để chỉ sự đại diện pháp lý được tiến hành mà không cần phải trả phí vì một số mục đích từ thiện hoặc mục đích công.
Public law. Công pháp. Những mối quan hệ mà các cá nhân có với bang với tư cách một thực thể có chủ quyền - ví dụ, luật thuế, luật hình sự và luật về An sinh xã hội.
Recess appointment. Bổ nhiệm khi ngừng họp. Sự bổ nhiệm do tổng thống tiến hành trong thời gian Quốc hội ngừng họp. Những người được bổ nhiệm theo cách thức này có thể chỉ đảm nhiệm chức vụ khi nào Quốc hội nhóm họp lại.
Reversible error. Sai lầm cần phải sửa chữa. Một sai lầm phạm phải tại tòa án cấp sơ thẩm nghiêm trọng tới mức nó đòi hỏi tòa phúc thẩm phải đảo ngược phán quyết của thẩm phán tòa sơ thẩm.
Rule of four. Quy tắc bốn người. Tại Tòa án tối cao, phải có ít nhất bốn thẩm phán nhất trí đưa một vụ việc ra trước Tòa án thì vụ việc mới được đưa ra xem xét trước tòa.
Rule of 80. Quy tắc 80. Khi tổng số tuổi và số năm đảm nhiệm chức vụ thẩm phán của một thẩm phán liên bang là 80, Quốc hội sẽ cho phép thẩm phán này được nghỉ hưu mà vẫn giữ nguyên lương và phúc lợi.
Self-restraint (judicial). Sự tự hạn chế của thẩm phán. Sự lưỡng lự của một thẩm phán trong việc đưa vào trong một vụ việc ý kiến riêng của ông / bà ta về những chính sách công nào là tốt hay xấu. Cũng xem activism (judicial).
Senatorial courtesy. Quyền ưu tiên của thượng nghị sĩ. Theo thông lệ này, các thượng nghị sĩ cùng đảng chính trị với tổng thống, những người phản đối một ứng cử viên mà tổng thống muốn đề cử vào chức vụ thẩm phán của hạt tại bang của họ, sẽ có quyền phủ quyết chính thức đối với việc bổ nhiệm này.
Sequestration (of jury). Sự cách ly (bồi thẩm đoàn). Trong những vụ việc rất quan trọng hoặc có tính chất nghiêm trọng, thẩm phán có thể cách ly bồi thẩm đoàn khỏi con mắt của công chúng, và việc này thường có nghĩa là bồi thẩm đoàn sẽ được tập trung tại một nơi và được cung cấp nơi ăn chỗ ở với chi phí do chính quyền chi trả.
Socialization (judicial). Hòa nhập (của thẩm phán). Quá trình mà theo đó một thẩm phán mới được đào tạo chính thức và không chính thức để hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể của một thẩm phán.
Standing. Vị thế tranh chấp. Vị thế của một người muốn đưa đơn kiện. Để có vị thế tranh chấp, người này phải (hoặc có nguy cơ trước mắt) bị thiệt hại trực tiếp và đáng kể. Stare decisis, the doctrine of. Học thuyết về “tôn trọng việc đã xử”. Trên thực tế, đây là truyền thống tôn trọng và tuân theo các quyết định trước đó của tòa án và những điểm đã được thiết lập trong luật pháp.
Statutory law. Luật thành văn. Luật được ban hành bởi một cơ quan lập pháp, ví dụ như Quốc hội, một cơ quan lập pháp bang, hoặc một hội đồng thành phố.
Three-judge panels (of appellate courts). Ủy ban ba thẩm phán (của các tòa phúc thẩm). Phần lớn các quyết định của các tòa phúc thẩm Hoa Kỳ không được đưa ra bởi toàn bộ các thành viên tòa án ngồi cùng nhau, mà do ba thẩm phán, thường là được lựa chọn ngẫu nhiên, nghe các vụ xét xử.
Three-judge district courts. Các tòa án hạt với ba thẩm phán. Với một số vụ việc quan trọng, Quốc hội đã tuyên bố rằng vụ việc không thể được xét xử chỉ bởi một thẩm phán tòa sơ thẩm hành động đơn nhất, mà phải được quyết định bởi một ủy ban gồm ba thẩm phán, một trong số họ phải là thẩm phán của tòa phúc thẩm.
Tort. Sự xâm hại, trách nhiệm ngoài hợp đồng. Sự xâm phạm quyền lợi dân sự hoặc vi phạm các nghĩa vụ đối với người khác.
Trial de novo. Phiên xử mới. Một phiên xét xử mới trong đó toàn bộ vụ việc được xem xét lại như chưa từng được xét xử trước đó. Venue. Pháp đình. Địa điểm về mặt địa lý trong đó một vụ việc được xét xử.
Voir dire. Thẩm tra sơ khởi. Một thủ tục theo đó các luật sư của bên đối lập đặt câu hỏi cho các thành viên bồi thẩm đoàn tương lai trong một phiên tòa để xác định xem liệu hội thẩm viên có thành kiến đối với vụ việc cụ thể của họ hay không.
Warrant. Trát đòi. Được đưa ra sau khi một đơn kiện, do một người nộp lên để kiện người khác, đã được đệ trình và xem xét bởi một thẩm phán hành chính địa phương, người nhận thấy có cơ sở cho việc bắt giữ. Writ of certiorari. Lệnh chuyển hồ sơ lên tòa cấp trên, lệnh lấy lên xét xử lại. Lệnh của Tòa án tối cao Hoa Kỳ yêu cầu tòa cấp dưới chuyển hồ sơ của một vụ việc mà Tòa tối cao sẽ tiến hành xét xử phúc thẩm.
Writ of mandamus. Lệnh thi hành, lệnh yêu cầu thực hiện. Lệnh của tòa án buộc một quan chức nhà nước phải hoàn thành nghĩa vụ của ông/bà ta.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách

Văn phòng hành chính của Các tòa án bang Hoa Kỳ. United States Courts: Their Jurisdiction and Work. Washington, DC: 1989.
Fallon, Richard H., Hart, Henry Melvin, và Wechsler, Herbert. Hart and Wechsler’ s the Federal Courts and the Federal System, ấn bản lần thứ 5. New York, NY: Foundation Press, 2003.
Baum, Lawrence. American Courts: Process and Policy, ấn bản lần thứ 5. Boston, MA: Houghton Mifflin, 2001.
Chemerinsky, Erwin. Federal Jurisdiction, ấn bản lần thứ 4. New York, NY: Aspen Publishers, 2003.
Feinman, Jay M. Law 101: Everything You Need to Know About the American Legal System. New York, NY: Oxford University Pres, Inc., 2000.
Franklin, Carl J. Constitutional Law for the Criminal Justice Professional. Boca Raton, FL: CRC Press, 1999.
Friedman, Lawrence Meir. Law in America: A Short Story. New York, NY: Modern Library, 2002.
Mullenix, Linda S., Martin Redish, và Georgene Vairo. Understanding Federal Courts and Jurisdiction. New York, NY: Matthew Bender, 1998.
Posner, Richard A. The Federal Courts: Challenge and Reform. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1996.
Stumpf, Harry P. American Judicial Politics, ấn bản lần thứ hai. Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall, 1998.

Website
Những thực tiễn của hệ thống tư pháp Hoa Kỳ hppt://www.abanet.org/media/fa ctbooks/judifact.pdf
Các tòa án liên bang và những gì chúng đảm nhiệm hppt://www.fjc.gov/public/pdf.ns f/lookup/FctsWhat.pdf/$file/Fcts What.pdf
Hệ thống tòa án liên bang ở Hoa Kỳ: Giới thiệu về các thẩm phán và viên chức hành chính tư pháp ở các nước khác. hppt://www.uscourts.gov/library/internationalbook-fedcts2.pdf
Giới thiệu Hoa Kỳ – Ngành tư pháp. hppt://usinfo.state.gov/usa/infou sa/politics/judbrac.htm
Giới thiệu hệ thống pháp lý hppt://www.cec.org/pubs_infore_ resource/law_treat_agree/summary_ enviro_law/publication/usdoc.c fm?varlan=english&topic=1
Hội thẩm viên: Hệ thống giáo dục tư pháp hppt://www.jurist.law.pitt.edu/
Trao đổi thông tin thư viện về luật pháp hppt://www.llrx.com/
Từ điển bách khoa luật pháp hppt://www.nolo.com/lawcenter/ ency/index.cmf
Thư viện Quốc hội: Hướng dẫn luật pháp trên mạng hppt://www.loc.gov/law/guide/ us.html
Trung tâm quốc gia về các tòa án bang - Cơ sở thông tin về tòa án hppt://www.ncsconline.org/WCD S/index.htm
Các công tố viên của các tòa án bang, 2001 hppt://www.ojp.usdoj.gov/bjs/pu b/pdf/psc01.pdf
Tòa án tối cao Hoa Kỳ hppt://www.supremecourtus.gov
Tìm hiểu các tòa án liên bang hppt://www.uscourts.gov/understand02/