Chữ
SONG THAO
Chủ Nhật, Ngày 26 tháng 9-2010
Chữ là thứ những người viết chúng tôi vầy vò hàng ngày. Nhà văn Hồ Đình Nghiêm dùng chữ "vọc". Viết văn, làm thơ là công việc "vọc chữ"! Nghe ra như trò chơi của con trẻ. Ngẫm ra thì đúng là một trò chơi. Ngẫm vào thì trò chơi này quả là mệt. Những con chữ như những con lươn. Chúng trườn, lách, quẫy, lủi bằng cái thân hình nhơn nhớt trơn tuột. Nắm được chúng mệt bở hơi tai. Chắc vì vậy nên chẳng có mấy nhà văn nhà thơ có được một bộ vó đầy đặn!
Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc còn làm tới hơn. Ông mổ những con chữ để vạch bụng chúng ra xem trong bụng chúng có những gì mà rắc rối như vậy. Chẳng hạn như một chữ thông thường chúng ta gặp hàng ngày là chữ "vợ chồng". Chúng ta nói và nghe, người nói và người nghe ai cũng hiểu vợ chồng là cái chi chi. Như vậy chữ "vợ chồng" đã làm tròn nhiệm vụ của nó là biểu thị một ý niệm mà khi nói lên ai cũng hiểu. Dễ tính như chúng ta thì như vậy là đóng hồ sơ! Chẳng có gì phải bàn. Nhưng rắc rối như ông Nguyễn Hưng Quốc thì phải dò cho tới ngọn nguồn rạch sông. Do đâu mà việc hai người kết hợp với nhau trong hôn nhân lại được chỉ thị là "vợ" và "chồng". Theo Giáo sư Nguyễn Văn Trung thì "chồng" là chồng lên trên. Còn "chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi, theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?" Nghe ra cũng có lý. Nhưng ông Quốc vẫn còn ngờ vực. Ông đi tìm thêm. Ông đọc cuốn "Phương Ngữ Bình Trị Thiên" của Võ Xuân Trang mới biết là ở Bình Trị Thiên người ta thường nói trại âm "v" ra âm "b". Thí dụ như "vú" biến thành "bụ", "vá" áo biến thành "bá" áo, "vả" vào miệng biến thành "bả" vào miệng. Như vậy có sự hoán chuyển trong âm "v" và "b". Sự hoán chuyển này xảy ra rất thường trong những từ Hán Việt như "bái" chữ Hán sang "vái" chữ Việt, chữ "bích" sang "vách", chữ "bút" sang "viết" chẳng hạn. Ông Quốc lại đọc trong cuốn "Giáo Trình Lịch Sử Ngữ Âm Tiếng Việt" của Nguyễn Tài Cẩn để biết là sự hoán chuyễn "b / v" kéo dài khá lâu cho tới tận bây giờ vẫn còn có những từ tồn tại song song với nhau như "băm" và "vằm" thịt, "be" và "ve" rượu, "bíu" và "víu", "béo" và "véo" (đùi non?)! Và ông Nguyễn Hưng Quốc kết lại: " ‘Vợ chồng’ như thế thực chất là "bợ chồng". "Bợ": từ dưới nâng lên; "chồng": từ trên úp xuống. Danh từ "bợ chồng" diễn tả tư thế thân mật giữa hai người nam nữ khi ăn ở với nhau. Cách gọi tên khá thật thà như thế kể cũng thú vị đấy chứ?". Thú vị quá đi chứ. Tôi khoái chữ "bợ" này. Nó chỉ thị sự hưởng ứng tích cực của người…bợ!
Ông Nguyễn Hưng Quốc còn viết nhiều bài rất thú vị trên blog của ông nằm trong website của đài VOA để chẻ chữ ra. Như bụng, cọp và chó. Nhưng nếu cứ mải miết đi theo ông Giáo sư tài hoa này thì đến tết Congo cũng chưa hết chuyện. Nhưng bỏ thì tiếc nên theo ông một bước nữa thôi, bước…đút vào, rút ra! Chúng ta theo ông: "Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ "đút" trong một câu văn không có gì đặc biệt: "Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần..." Từ chữ "đút" ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ "rút": cả hai từ làm thành một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra).Ðiều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: "-ÚT". Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm "đ-" (đút) và một chữ bằng phụ âm "r- " (rút). Hơn nữa, cả từ "đút" lẫn từ "rút", tuy phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển từ không gian này sang không gian khác. "Ðút" cái gì vào túi hay "rút" cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không gian ngoài túi hoặc ngược lại. Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần "-ÚT" khác trong tiếng Việt và thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. "Hút" là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. "Mút" cũng là động tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác "hút" ở chỗ vật thể được "mút" thường là cái gì đặc. "Trút" là đổ cái gì xuống. "Vút" là bay từ dưới lên trên. "Cút" là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. "Nút" hay "gút" là cái gì chặn lại, phân làm hai không gian khác nhau. "Sút" là tuột, là suy, là giảm so với một điểm chuẩn nào đó.Thay dấu sắc (ÚT) bằng dấu nặng (ỤT), ý nghĩa chung ở trên vẫn không thay đổi. "Trụt" hay "tụt" là di chuyển từ trên xuống dưới. "Vụt" là di chuyển thật nhanh, thường là theo chiều ngang. "Lụt" là nước dâng lên quá một giới hạn không gian nào đó. "Cụt" là bị cắt ngang, không cho phát triển trong không gian. "Ðụt" (mưa) là núp ở một không gian nào đó, nhỏ hơn, để tránh mưa ngoài trời".
Đút và rút, chúng ta làm rất thường và rất…vô tư! Nay vừa làm vừa phân tích coi bộ lấn cấn dữ. Nhưng phải công nhận là ông Nguyễn Hưng Quốc có cái nhìn rất tinh tế đánh thức chữ nghĩa dậy. Nhưng cũng rắc rối hơn! Chơi với chữ hàng ngày như chúng tôi tưởng nhẹ nhàng nay có phần vất vả. Ông Quốc bồi thêm: "Nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ phát hiện trong những chữ quen thuộc chúng ta thường sử dụng hàng ngày ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng. Tính chất bí ẩn ấy có thể nói là vô cùng vô tận, dẫu tìm kiếm cả đời cũng không hết được. Điều này khiến cho không ai có thể an tâm là mình am tường tiếng Việt. Ngay cả những nhà văn hay nhà thơ thuộc loại lừng lẫy nhất vẫn luôn luôn có cảm tưởng ngôn ngữ là một cái gì lạ lùng vô hạn".
Nhà văn hài hước nổi tiếng người Đức Moritj Saphir là người nắm đầu được con chữ. Chữ đối với ông chắc chẳng có gì lạ lùng. Ông dùng chúng một cách…đanh đá. Một lần kia ông cãi vã với một nhà thơ vốn không thích chi ông. Ông nhà thơ trịnh trọng nói: "Thưa ngài Saphir, ngài viết chỉ vì tiền, còn tôi viết vì danh dự." Nhà văn Saphir đớp lại liền: " Vâng, mỗi chúng ta viết chính vì cái mà chúng ta thiếu!"
Chữ từ miệng nhà văn mang tính gây hấn nhưng chính những con chữ không gây hấn như vậy. Chữ cũng như cục bột mặc bàn tay con người nhào nặn. Hiền lành hay dữ dằn đều do tay con người. Khổ một cái là con người có chữ hay không có chữ đều muốn…vọc chữ. Chữ viết cũng như chữ nói. Một sư ông tu trên núi, mỗi tháng một lần, sư cưỡi con ngựa cái xuống chợ mua thực phẩm. Trên núi cao ít cỏ nên con ngựa gầy nhom, xương khu lồi ra làm lộ hẳn bộ phận giống cái của con ngựa. Sư ông ngồi trên ngựa, vừa tới làng mạc thì bị dân làng bỉ thử: "Coi kìa, ông lão cưỡi con ngựa cái ốm nhom giơ cả khu ra!". Là người tu hành nhưng sư ông vẫn tức khí. Khi tới chợ ông ghé vào tiệm bán giấy viết mua một xấp giấy súc, ghé hàng bún mua một gói bún. Ông trở ra, trét bún vào khu ngựa rồi vỗ giấy dán kín lên. Dân làng thấy lạ, bu lại coi, có người hỏi xách mé: "Này lão hòa thượng, ông làm cái quái chi vậy?" Ông sư chẳng buồn ngước mắt lên, nhỏ nhẹ trả lời: "Có gì lạ đâu mà hỏi. Tôi chỉ che miệng thế gian ấy mà!"
Chữ nghĩa như vậy kể là sắc. Chữ nghĩa của ông bố vợ dưới đây thật đáng…đấm. Mùng một tết, anh con rể, vốn làm trong hãng rượu, mang chai rượu quý tới biếu bố vợ. Anh cung kính nói: "Thưa ba, con mang chai rượu quý nhất trong hãng tới chúc tuổi ba để ba dùng trong những ngày xuân". Ông bố vợ nhìn chai rượu, cắc cớ hỏi lại: " Thế sau những ngày xuân thì tôi không được dùng rượu nữa à?" Không hiểu do đâu mà có câu "bố vợ phải đấm" chứ ông bố vợ này xứng đáng với món quà thượng cẳng tay là cái chắc!
Chữ có bên tối bên sáng. Bên sáng thì nói sao hiểu vậy, bên tối thì nói thẳng nhưng hiểu thì quanh co. Cái "miệng thế gian" của nhà sư xuống núi là một thứ chữ thuộc bên tối. Nói vậy mà không phải vậy. Chữ nghĩa như vậy là thứ lăng ba vi bộ. Nói bên này hiểu bên kia. Bến phà Cần Thơ nay đã bị khai tử khi chiếc cầu mới được khánh thành. Ngày còn phà, những cô bé bán hàng rong chạy đôn chạy đáo, vừa chạy vừa rao hàng. Cô bé bán ví bóp kháu khỉnh ngây thơ rao vang: "Bóp đi, bóp đi! Bóp trên 5 ngàn, bóp dưới 7 ngàn, bóp bên trái bóp bên phải cùng giá! Bóp da 7 ngàn, bóp lông 13 ngàn, bóp ngoài 3 ngàn, bóp trong 8 ngàn! Bóp đi, bóp đi! Mại dzô, mại dzô! Bóp em rẻ nhất rồi! Bóp đi, bóp đi". Chữ nghĩa của em bé nhẩy cẫng, tiếng rao là danh từ nhưng mọi người cười tủm tỉm. Trong đầu chữ đã hoán chuyển từ danh từ ra động từ. Bóp đi, bóp đi!
Viết là trải chữ trên giấy. Chữ nọ tiếp nối chữ kia. Nếu cứ trải liền tù tì thì chữ sẽ rối mù lên. Bởi vậy nên, trong cách viết, ngoài những con chữ còn có những thứ mà ta gọi là dấu để phân biệt ra câu ra đoạn. Thiếu chúng là chữ trở nên loạng quạng, nghĩa chữ sẽ vặn vẹo ra một hướng khác. Trong một nhà hàng ăn lớn và đắt khách, chủ nhân phải phân công cho các người làm bếp và phụ bếp rõ ràng hầu cho công việc chạy nhanh. Bản phân công trong bếp được viết rất chi tiết. Chỉ thiếu dấu. Người ta đọc được như sau: "Cô Lan cắt tiết anh Hùng nhổ lông cô Ngọc luộc trứng anh Sơn mổ bụng cô Đào lột da anh Hải rửa chim cô Lài bóp mềm cô Thắm bằm nhừ cô Tuyết xào giòn".
Ông chủ nhà hàng chữ nghĩa như vậy thì ông chủ garage sửa xe cũng chữ nghĩa không kém. Lại còn hơn đứt ở chỗ có dấu phân chia câu cú đàng hoàng. Ông chủ nhận xe của khách quen rồi ghi công việc phải làm trên bảng để công nhân cứ theo đó mà sửa. Nhìn lên tấm bảng, thấy như sau: " Thêm nhớt cho cô Liên. Hai lít / Bugi ông Hoàng yếu. Cạo / Bác Anh yếu điện. Sạc / Bà Thắm tuột dây ăm-bray-da. Thay / Rửa cô Hà".
Nếu đọc những hàng chữ trên mà bạn cười thì rõ ràng bạn đã không hiểu chữ nghĩa theo bên phải mà bẻ quẹo qua bên trái. Lỗi không tại chữ mà tại cái đầu bạn. Nhưng nếu cái đầu bạn cứ theo sát bên phải thì chán chết. Bạn biết đọc nhưng không thấu hết cái tinh quái của chữ.
Chữ là một thứ tinh quái. Có chữ…chính qui cũng như có chữ đi bên lề. Đó là trường hợp những chữ lóng. Chữ lóng là thứ chữ bạn bè với không gian và thời gian chúng được sản sinh. Thời nào có chữ đó. Như chữ "cảnh sát". Thời tây thuộc địa, cảnh sát luôn có cái dùi cui cài bên lưng, tiếng Pháp kêu là cái matraque. Cảnh sát dính liền với cái matraque nên ông cảnh sát biến thành "mã tà". Thời trước 75, sinh viên biểu tình liên miên khiến cảnh sát phải ra tay dẹp. Hình ảnh người cảnh sát đi đôi với sự hung hăng. Không khá! Bèn có sự…tâm lý chiến. Thành phố Sài Gòn bỗng nở rộ những tấm bích chương: "Cảnh sát là bạn dân". Anh bạn này khó thân quá nên tương kế tựu kế, để chỉ một ông mã tà, người ta mai mỉa dùng chữ "bạn dân"! Tới thời sau 75 thì mấy ông bạn dân này mất điểm nặng. Chuyên chặn xe đòi hối lộ, nhũng nhiễu dân và nhất là đuổi hàng rong. Cảnh sát thời này mặc quần áo vàng nên các anh chị em lao động bán hàng rong đã gọi mấy ông "bạn dân" này là "bò vàng". Nghe mà nhớ lại câu hát: một đàn bò vào thành phố!
Cuộc đổi đời tháng tư 75 kéo theo một loạt những chữ thấm thía. Để chỉ hành động của các cán bộ ngoài Bắc vào nhận họ hàng với những người trong Nam rồi xin đồ mang về, người ta có cụm từ: "người Nam nhận họ người Bắc nhận hàng". Chữ "họ hàng" được cắt ra một cách thâm thúy.
Có những từ mới do người Bắc mang vào. Người ta hay nhắc tới chữ KAMA do nhà văn Nguyễn Tuân mang vào Nam. KAMA không phài là tiếng ngoại quốc mà là chữ được ghép từ bốn chữ đầu của câu "không ai mời ai". Nghĩa là rủ đi ăn nhưng tiền ai nấy trả, hồn ai nấy giữ, cái mà dân chơi ngày xưa gọi là chơi theo lối Mỹ.
Dân Việt trong nước ngày nay rất sính nói tiếng Mỹ, thứ tiếng Mỹ rất sáng tạo. Có một chữ lóng trong nước tôi nghe được rất thường trong những lần về Việt Nam: chảnh! Lúc đầu nghe chẳng hiểu chi cả, được giải thích mới biết đó là chữ lóng có nghĩa là "kênh kiệu". Con nhỏ đó chảnh lắm! Với phong trào sính tiếng Mỹ cộng thêm với một chút óc…đố vui để học, chữ "chảnh" được Anh hóa thành "lemon question". Bạn có nhận ra chữ chảnh không? Đó là "chanh hỏi" thành ra chảnh!
Chữ nghĩa lang bang như vậy thật hết ý! Nhớ những ngảy mới ở tù gọi là cải tạo về, tôi cũng lang bang trong thành phố cũ của mình, không việc làm, không tiền bạc, không tương lai nhưng cái dạ dày của cả nhà vẫn đòi hỏi được lấp đầy mỗi ngày. Để lấy ngắn nuôi dài, chúng tôi chỉ còn có một việc làm: chà đồ nhôm! Đồ nhôm đâu mà chà. Đó là tiếng lóng của chữ "chôm đồ nhà". Gọi là chôm cho thêm phần bi thảm chứ thực ra mỗi ngày nhìn khắp quanh nhà xem có thứ gì bán được để mua…bo bo thì mang ra chợ trời phát mãi!
Chà đồ nhôm, chôm đồ nhà, thứ tiếng lóng này thực ra là tiếng nói lái. Hình thức chữ nghĩa vặn vẹo này đã có từ lâu. Chuyện nói lái nổi đình nổi đám nhất là chuyện bức hoành phi tặng Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm hồi tây lận. Chắc nhiều bạn đã biết chuyện này nhưng cứ kể lại cho chắc ăn. Nhân một ngày mừng chi đó của Thủ Tướng Tâm, một cụ đồ tặng Thủ Tướng một bức hoành phi trên đó có ghi bốn chữ Hán: Đại Điểm Quần Thần. Ông Thủ Tướng dân tây thích lắm, mang treo ở phòng khách. Sau có một vị thâm nho diễn nôm một cách vòng vo nhưng rất thâm thúy ý đồ của nhà nho tác giả bốn chữ hoành phi này. Dịch ra từng chữ: Đại là "to", Điểm là "chấm", Quần là "bầy", Thần là "tôi". "Chấm to" nói lái thành "chó Tâm", "bầy tôi" lái thành "bồi tây". Bức hoành phi là một câu mát mẻ: Chó Tâm bồi tây!
Đèo Ngang là cái đèo nằm ngang phè phè được Bà Huyện Thanh Quan bê vào văn học đâm ra nổi tiếng. Một anh cán bộ vượt đèo trên đường từ Bắc vào Nam chẳng thấy tiều cũng chẳng thấy rợ chi mà chỉ thấy vất vả. Bèn vặc: "Nước ta có cái đèo nằm ngang này nên làm ăn không khấm khá được! Đèo chó gì lại tên là Đèo Ngang! Vậy thì cả nước Đang Nghèo là phải. Chúng ta cần kiến nghị trên đổi tên coi có khấm khá hơn không?". Mọi người bàn cãi om sòm, một anh đề nghị: "Ta đổi quách thành Đèo Nghếch đi". Trước những bộ mặt ngơ ngác, anh giải thích: "Đèo Nghếch là Đếch Nghèo, thế thì nghèo thế đíu nào được!". Vậy là đổi tên. Cán bộ hết nghèo thiệt! Dân có còn nghèo hay không, đếch cần biết. Có tiền có bạc, ăn uống sung sướng, no cơm ấm cật dậm dật cả bầy. Vậy là bùng nổ dân số. Làm sao để kế hoạch? Lại phài tính tới chuyện đổi lại tên đèo. Anh cán bộ có sáng kiến đổi tên lần trước lại được hỏi ý kiến. Anh nhẩn nha: "Đổi quách là Đèo Đứng coi có khá hơn không?" Anh này lại chơi trò nói lái. Đèo Đứng! Không…trồng người thì làm sao ra baby được!
Bắc , Trung, Nam, qua ba miền đất nước chữ nghĩa cũng biến dạng. Biến tới mức xa lạ với nhau. Kể từ cuộc di cư từ Bắc vào miền Trung và Nam, con người Việt Nam cùng chung nòi giống nay mới có nhiều dịp chung chạ. Chữ nghĩa tuy khác biệt nhưng lòng người không khác biệt. Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa, em xứ Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mau cứ loạn xạ mần ăn với nhau. Khác mà vẫn hòa đồng. Chữ nghĩa không làm mặt lạ.
Lấy chồng răng gọi mụ o ?
Anh trai lấy vợ, mình thành mụ o
Mụ o hiền hậu khỏi lo
Mụ o nhiều chuyện là mụ o "dọn" mồm
Tối qua thì nói "khi hôm"
Hoàng hôn : "Chạng vạng", nghe run quá trời
Sớm mơi mang "chủi xuốt cươi"
Sài Gòn nghe thấy thì cười bò lăn
Đó là thơ Huế- Sàigòn của ông Cai Vĩnh. Đoạn thơ Sàigòn-Hà Nội sau đây không có tên tác giả tôi nhặt được trên net.
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy
Bắc quậy sướng phê, Nam rên đã quá!
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng
Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa.
Bắc vua bia bọt, Nam chúa la-de.
Chữ nghĩa khác biệt nhưng không đối nghịch. Sau nhiều năm sống bên nhau, tiếng Bắc, tiếng Trung, tiếng Nam hình như mất đi cái ranh giới địa lý mà chỉ còn thân cận nhau trong tình đồng hương. Tổ tiên làm chi có Trung Nam Bắc! Chữ nghĩa của tổ tiên mà chúng ta trìu mến gọi là tiếng mẹ đẻ đã theo chúng ta trong bước chân di tản. Chúng ta đã có cả một nền văn học bên ngoài chốn quê cha đất tổ. Và những người viết từng sống với chữ nghĩa sẽ chẳng bao giờ rời xa những con chữ.
Chữ nghĩa và tôi sẽ xuống mồ
Mai này cỏ mọc sắc xanh mơ
Ai đi ngang để cành hoa xuống
Là cũng cho đời một chút Thơ!
(Trần Vấn Lệ)
Song Thao
Copyright © 2008 www.hopluu.net. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010
Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010
Xristov, Boris : Nỗi buồn | Tiếng kèn đêm | Ký ức cuộc đời
Xristov, Boris Nỗi buồn | Tiếng kèn đêm | Ký ức cuộc đời
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
BORIS XRISTOV
(1945~)
Boris [Kirilov] Xristov (cũng viết là Hristov, Christov, hay Christoff) là một nhà thơ và nhà văn nổi tiếng của Bulgarie. Ông sinh ngày 14 tháng Tám 1945 tại Krapets, Pernik, tốt nghiệp ban ngôn ngữ và văn chương Bulgarie tại Đại học Veliko Tarnovo năm 1970. Ông từng dạy học ở Pernik [1971-1972], trước khi làm báo và làm biên tập cho các tạp chí văn chương và các xưởng phim, trong đó có Sofia Feature Film Studio. Ngoài tiểu thuyết, ông còn viết nhiều kịch bản cho phim truyện, phim tài liệu và phim hoạt hình. Sau tập thơ đầu tiên Tiếng kèn trompet đêm [“Вечерен тромпет”, Varna: G. Bakalov, 1977/2000], tiếp theo là Thánh giá [“Честен кръст”, Varna: G. Bakalov, 1982 – bản tiếng Anh xuất bản sau đó có tên là Holy Cross, 2000], Boris Xristov cho xuất bản Cha của trứng [“Бащата на яйцето”, tiểu thuyết, D. Danov, 1987], Con chó mù [“Сляпото куче“, tiểu thuyết ngắn, Varna: G. Bakalov, 1990], Thung lũng của những chiếc giày [“Долината на обувките”, Varna: G. Bakalov, 1990], Lời nói và graffiti [“Думи и графити”, 1991/2002], một số các tập thơ và truyện xuất bản bằng tiếng Anh như The Wings of the Messenger [Petrikov Publishers, 1991 - tập trung một số bài thơ trong hai tập Evening trumpet và Cross My Heart, một số bài thơ 3 dòng trong Mots et dessins, và tiểu thuyết ngắn Death Spots [“Смъртни петна”], Words on Words [“Думи върху други думи”, 1990/1992], Thơ [“Поезия”, 2004]... Kể từ tuyển tập mở đầu Ba nhà thơ trẻ [“Трима млади поети”, Sofia, 1975 – qui tụ ba thi sĩ hàng đầu của Bulgarie thời bấy giờ: Parushev Parush, Ekaterina Tomova và Boris Christoff] cho đến gần đây với tập Giấy đá [“Каменна книга“, Nxb. Helicon, 2006] thơ Xristov luôn nổi bật một tiếng nói chân thành từ trái tim nhà thơ, và từng được dịch ra tiếng Anh, Đức, Nga, Ý, Pháp và nhiều ngôn ngữ khác.
Những năm 90 ông khởi sự biên soạn một số tuyển tập văn học Bulgarie, trong đó có thể kể Tuyển tập truyện ngắn Bulgarie thế kỷ XX [“Български разкази на ХХ век”, 1995], Văn học dân gian [“Народни писмена”, 1995], Veda Slovena [*] [“Веда Словена”, 1998]... – và cùng thời gian này những tìm tòi của ông hướng tới những mô thức biểu hiện mới bắt đầu hình thành nơi tác phẩm ông một kết hợp đẹp đẽ thơ ca, âm nhạc và nghệ thuật tạo hình.[**]
Xristov từng nhận nhiều giải thưởng văn học, trong đó có Giải thưởng cho tiểu thuyết viết về những chủ đề hiện đại dành cho cuốn Cha của trứng – tác phẩm sau đó được chuyển thể cho kịch bản điện ảnh – và Giải thưởng lớn về Văn chương của Đại học Sofia Климент Охридски năm 2000. Từ nhiều năm nay ông sống với vợ và gia đình tại làng Leshten trên núi Rhodope thuộc thành phố Gotse Delchev ở Bulgarie. Cũng cần nhắc thêm Boris Xristov từng tham dự chương trình International Writer’s Program của Đại học Iowa và Hội thảo văn học Wheatland Foundation Conference ở San Francisco, đồng thời thường xuyên tham dự những buổi đọc thơ ở Washington D.C, New York, San Francisco, Toronto, Munich, Hamburg, Athens, Delhi...
Mặc dù vẫn được coi là gương mặt đại diện cho văn học hiện đại Bulgarie, và tác phẩm được đưa vào chương trình văn chương ở các trường học, ngày 26 tháng Năm 2010 vừa qua, khi nghe báo chí truyền thông đưa tin mình được Hội đồng Bộ trưởng quyết định trao Huân chương Cyril và Methodius hạng Nhất [St. Св. Кирил и Методий” – dành cho sự nghiệp xuất sắc trong lĩnh vực văn hóa], B. Xristov đã viết thư gửi chính phủ Bulgarie khước từ phần thưởng này, viện cớ là “đã từ lâu [ông] có quyết định không nhận bất cứ giải thưởng nào của Nhà nước, cho dù đảng cầm quyền là đảng nào...”
_________________________
[*]Veda Slovena là một tuyển tập những bài dân ca và truyền thuyết của người Bulgarie theo đạo Hồi.
[**]Ngoài tập The Wings of the Messenger của Nxb. Petrkov Publishers [1991] với nhiều tranh minh họa của Yana Levieva dành cho phần thơ 3 dòng, bạn đọc có thể theo dõi tác phẩm của Boris Xristov thực hiện qua CD và qua các ấn bản song ngữ tiếng Bungarie và tiếng Anh / tiếng Pháp như Mots et dessins, với minh họa của Milko Bojkov; Des Mots, de l'argile et des dessins, minh họa của Zahari Kaménov; Un Livre de pierre, với phần nhiếp ảnh của chính tác giả; Words on Words [bản dịch của Betty Grinberg, Roland Flint, Lyubomir Nicolov - với tranh minh họa của Anri Koulev], Nxb. Petrikov Publishers, 1990.
__________
Nỗi buồn
Chúng ta có thể đi đâu, có thể trốn ở đâu
trong thành phố này, trong trạm ga mùa hè này.
Chim trên trời không dám bay –
đánh một viên đá, một ngọn lửa sẽ cháy bùng.
Giờ khắc buổi chiều trôi qua chậm rãi,
như có ai đó đang học cách chơi,
và đâm thẳng vào những con tàu xanh
lồng ngực xăm hình của chúng ta.
Từng cặp từng cặp dưới vành nón cháy bỏng
của mặt trời, suốt ngày chúng ta lang thang,
mang trong lòng nỗi buồn ngàn năm chờ đợi
của những triết gia tỉnh lẻ.
Dòng sông đang cạn, giữa khi đứng dưới cầu,
chúng ta thẫn thờ trong im lặng cháy bỏng. Và chúng ta
cứ ở đấy tranh cãi và triết lý với nhau
về hệ thực vật và hệ động vật dưới lòng đại dương.
Tiếng kèn đêm[***]
Đời sống bắt chúng ta quay vòng dưới cái nóng thiêu đốt,
và còn nện chân chúng ta vào tảng đá nóng...
Thế nhưng khi đêm từ bầu trời rớt xuống,
tôi sẽ lấy kèn trompet và ra ngồi ở ngưỡng cửa.
Tôi đã nhiều lần thơ thẩn dọc theo những vách tường này
như âm thanh của một cái chuông vỡ.
Tôi phải thổi kèn. Tôi phải phá tan im lặng –
chỉ có tiếng thét mới cần được giữ lại.
Tôi muốn những ngọn gió nóng nổi thành sấm sét
và thổi tung mọi cánh cửa.
Tôi muốn đất một lần nữa lại theo
bước đi viễn chinh của loài dế.
Tôi muốn với bài ca của mình giật đứt hàng rào
kẽm gai chung quanh nhà bạn.
Tôi muốn người láng giềng của tôi vẫn tự coi là điếc,
nay có thể nghe thấy trở lại.
Tôi muốn tên cướp tự mình trói tay mình,
và người lính canh phải mua cho mình một trái tim.
Tôi muốn nhỏ ít giọt nước mắt của tôi
vào con mắt đang bị gỉ sét.
Tôi muốn ngày hội vui phải trở lại với chúng ta
và thổi tung hết bụi bặm.
Tôi muốn những người đang chết vì buồn nản,
giờ phải chết vì bị nhột và cười.
Tôi muốn chúng ta phải thức cầu kinh cho người chết,
và ngồi yên như vậy cho tới sáng.
Tôi muốn nói với hết những người đang ngủ rằng
ngủ cũng phải ngủ có giờ.
Tôi phải thổi kèn như thế cho tới tận đêm bít bùng
cho tới khi tôi có thể nghe vọng tới tôi
tiếng nói của cả ngàn kèn trompet xa xăm.
Hay của một vị tổng thiên thần vô hình nào đó.
Ký ức cuộc đời
Nằm dưới lòng đất và nhớ về cuộc đời –
những bữa ăn tối thịnh soạn và những đêm rỗi rãi trong vườn,
hay những Chủ nhật mùa đông khi nằm dài trên giường
anh ngao du mãi tận trang cuối một cuốn sách.
Nhớ lại sau khi anh chết, như thế nào những bà con thân thuộc,
vốn chẳng chuyện trò qua lại, nay gặp nhau và ngất lịm trong bếp,
như thế nào sau đó anh em đã đưa anh qua khắp đường phố
theo nhịp chậm của ban kèn đồng thành thị.
Nằm dưới lòng đất, và qua những nắm xương của mình,
như thế nào anh nghe nước chảy, nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc
là có được một người anh em họ xa đến giẫy cỏ
quanh mộ và nhỏ chút nước mắt cho anh.
Còn vợ anh, người anh từng điên cuồng tin cậy cho đến cùng,
cô ta đang mở cửa đón một người khác, thì con người vẫn thế,
và tiếng thì thầm từ căn phòng của anh giờ đây vọng đến tai anh –
không cách gì anh không lắng nghe hơi thở của hai người.
Tháng ngày vang ầm phía trên anh như những cái thùng rỗng,
nhưng người anh yêu lại thì thầm kêu tên anh những ngày Chủ nhật.
Rồi một chấm màu đỏ cam của vú nàng ôm quanh anh –
từ hai quả cam kia, cười cợt và tròn quay.
_________________________
[***]Bản Việt ngữ “Tiếng kèn đêm” được dịch cách nay đúng 17 năm trên đường đi từ Portland trở về Salt Lake City. Tập thơ The Wings of the Messenger là một trong những cuốn người dịch mua được vào một ngày cuối tuần ở Chợ Sách bày trên nền một công viên đẹp ở trung tâm thành phố này, không quá xa Nhà hát Portland Coliseum [nơi người Mỹ từng chào đón ban nhạc The Beatles: xem “Portland Coliseum” của Allen Ginsberg trên Tiền Vệ]. Người mua ở đây có thể thong thả vừa lục tìm sách đủ loại, vừa nhâm nhi một tách cà phê...
-----------------
“Nỗi buồn”, “Tiếng kèn đêm” và “Ký ức cuộc đời” dịch từ bản tiếng Anh “Sadness”, “Evening Trumpet” và “Memory of life” của Roland Flint và Lyubomir Nikolov trong Boris Xristov, The Wings of the Messenger (Sofia: Petrikov Publishers, 1991).
Source : Tiền Vệ
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
BORIS XRISTOV
(1945~)
Boris [Kirilov] Xristov (cũng viết là Hristov, Christov, hay Christoff) là một nhà thơ và nhà văn nổi tiếng của Bulgarie. Ông sinh ngày 14 tháng Tám 1945 tại Krapets, Pernik, tốt nghiệp ban ngôn ngữ và văn chương Bulgarie tại Đại học Veliko Tarnovo năm 1970. Ông từng dạy học ở Pernik [1971-1972], trước khi làm báo và làm biên tập cho các tạp chí văn chương và các xưởng phim, trong đó có Sofia Feature Film Studio. Ngoài tiểu thuyết, ông còn viết nhiều kịch bản cho phim truyện, phim tài liệu và phim hoạt hình. Sau tập thơ đầu tiên Tiếng kèn trompet đêm [“Вечерен тромпет”, Varna: G. Bakalov, 1977/2000], tiếp theo là Thánh giá [“Честен кръст”, Varna: G. Bakalov, 1982 – bản tiếng Anh xuất bản sau đó có tên là Holy Cross, 2000], Boris Xristov cho xuất bản Cha của trứng [“Бащата на яйцето”, tiểu thuyết, D. Danov, 1987], Con chó mù [“Сляпото куче“, tiểu thuyết ngắn, Varna: G. Bakalov, 1990], Thung lũng của những chiếc giày [“Долината на обувките”, Varna: G. Bakalov, 1990], Lời nói và graffiti [“Думи и графити”, 1991/2002], một số các tập thơ và truyện xuất bản bằng tiếng Anh như The Wings of the Messenger [Petrikov Publishers, 1991 - tập trung một số bài thơ trong hai tập Evening trumpet và Cross My Heart, một số bài thơ 3 dòng trong Mots et dessins, và tiểu thuyết ngắn Death Spots [“Смъртни петна”], Words on Words [“Думи върху други думи”, 1990/1992], Thơ [“Поезия”, 2004]... Kể từ tuyển tập mở đầu Ba nhà thơ trẻ [“Трима млади поети”, Sofia, 1975 – qui tụ ba thi sĩ hàng đầu của Bulgarie thời bấy giờ: Parushev Parush, Ekaterina Tomova và Boris Christoff] cho đến gần đây với tập Giấy đá [“Каменна книга“, Nxb. Helicon, 2006] thơ Xristov luôn nổi bật một tiếng nói chân thành từ trái tim nhà thơ, và từng được dịch ra tiếng Anh, Đức, Nga, Ý, Pháp và nhiều ngôn ngữ khác.
Những năm 90 ông khởi sự biên soạn một số tuyển tập văn học Bulgarie, trong đó có thể kể Tuyển tập truyện ngắn Bulgarie thế kỷ XX [“Български разкази на ХХ век”, 1995], Văn học dân gian [“Народни писмена”, 1995], Veda Slovena [*] [“Веда Словена”, 1998]... – và cùng thời gian này những tìm tòi của ông hướng tới những mô thức biểu hiện mới bắt đầu hình thành nơi tác phẩm ông một kết hợp đẹp đẽ thơ ca, âm nhạc và nghệ thuật tạo hình.[**]
Xristov từng nhận nhiều giải thưởng văn học, trong đó có Giải thưởng cho tiểu thuyết viết về những chủ đề hiện đại dành cho cuốn Cha của trứng – tác phẩm sau đó được chuyển thể cho kịch bản điện ảnh – và Giải thưởng lớn về Văn chương của Đại học Sofia Климент Охридски năm 2000. Từ nhiều năm nay ông sống với vợ và gia đình tại làng Leshten trên núi Rhodope thuộc thành phố Gotse Delchev ở Bulgarie. Cũng cần nhắc thêm Boris Xristov từng tham dự chương trình International Writer’s Program của Đại học Iowa và Hội thảo văn học Wheatland Foundation Conference ở San Francisco, đồng thời thường xuyên tham dự những buổi đọc thơ ở Washington D.C, New York, San Francisco, Toronto, Munich, Hamburg, Athens, Delhi...
Mặc dù vẫn được coi là gương mặt đại diện cho văn học hiện đại Bulgarie, và tác phẩm được đưa vào chương trình văn chương ở các trường học, ngày 26 tháng Năm 2010 vừa qua, khi nghe báo chí truyền thông đưa tin mình được Hội đồng Bộ trưởng quyết định trao Huân chương Cyril và Methodius hạng Nhất [St. Св. Кирил и Методий” – dành cho sự nghiệp xuất sắc trong lĩnh vực văn hóa], B. Xristov đã viết thư gửi chính phủ Bulgarie khước từ phần thưởng này, viện cớ là “đã từ lâu [ông] có quyết định không nhận bất cứ giải thưởng nào của Nhà nước, cho dù đảng cầm quyền là đảng nào...”
_________________________
[*]Veda Slovena là một tuyển tập những bài dân ca và truyền thuyết của người Bulgarie theo đạo Hồi.
[**]Ngoài tập The Wings of the Messenger của Nxb. Petrkov Publishers [1991] với nhiều tranh minh họa của Yana Levieva dành cho phần thơ 3 dòng, bạn đọc có thể theo dõi tác phẩm của Boris Xristov thực hiện qua CD và qua các ấn bản song ngữ tiếng Bungarie và tiếng Anh / tiếng Pháp như Mots et dessins, với minh họa của Milko Bojkov; Des Mots, de l'argile et des dessins, minh họa của Zahari Kaménov; Un Livre de pierre, với phần nhiếp ảnh của chính tác giả; Words on Words [bản dịch của Betty Grinberg, Roland Flint, Lyubomir Nicolov - với tranh minh họa của Anri Koulev], Nxb. Petrikov Publishers, 1990.
__________
Nỗi buồn
Chúng ta có thể đi đâu, có thể trốn ở đâu
trong thành phố này, trong trạm ga mùa hè này.
Chim trên trời không dám bay –
đánh một viên đá, một ngọn lửa sẽ cháy bùng.
Giờ khắc buổi chiều trôi qua chậm rãi,
như có ai đó đang học cách chơi,
và đâm thẳng vào những con tàu xanh
lồng ngực xăm hình của chúng ta.
Từng cặp từng cặp dưới vành nón cháy bỏng
của mặt trời, suốt ngày chúng ta lang thang,
mang trong lòng nỗi buồn ngàn năm chờ đợi
của những triết gia tỉnh lẻ.
Dòng sông đang cạn, giữa khi đứng dưới cầu,
chúng ta thẫn thờ trong im lặng cháy bỏng. Và chúng ta
cứ ở đấy tranh cãi và triết lý với nhau
về hệ thực vật và hệ động vật dưới lòng đại dương.
Tiếng kèn đêm[***]
Đời sống bắt chúng ta quay vòng dưới cái nóng thiêu đốt,
và còn nện chân chúng ta vào tảng đá nóng...
Thế nhưng khi đêm từ bầu trời rớt xuống,
tôi sẽ lấy kèn trompet và ra ngồi ở ngưỡng cửa.
Tôi đã nhiều lần thơ thẩn dọc theo những vách tường này
như âm thanh của một cái chuông vỡ.
Tôi phải thổi kèn. Tôi phải phá tan im lặng –
chỉ có tiếng thét mới cần được giữ lại.
Tôi muốn những ngọn gió nóng nổi thành sấm sét
và thổi tung mọi cánh cửa.
Tôi muốn đất một lần nữa lại theo
bước đi viễn chinh của loài dế.
Tôi muốn với bài ca của mình giật đứt hàng rào
kẽm gai chung quanh nhà bạn.
Tôi muốn người láng giềng của tôi vẫn tự coi là điếc,
nay có thể nghe thấy trở lại.
Tôi muốn tên cướp tự mình trói tay mình,
và người lính canh phải mua cho mình một trái tim.
Tôi muốn nhỏ ít giọt nước mắt của tôi
vào con mắt đang bị gỉ sét.
Tôi muốn ngày hội vui phải trở lại với chúng ta
và thổi tung hết bụi bặm.
Tôi muốn những người đang chết vì buồn nản,
giờ phải chết vì bị nhột và cười.
Tôi muốn chúng ta phải thức cầu kinh cho người chết,
và ngồi yên như vậy cho tới sáng.
Tôi muốn nói với hết những người đang ngủ rằng
ngủ cũng phải ngủ có giờ.
Tôi phải thổi kèn như thế cho tới tận đêm bít bùng
cho tới khi tôi có thể nghe vọng tới tôi
tiếng nói của cả ngàn kèn trompet xa xăm.
Hay của một vị tổng thiên thần vô hình nào đó.
Ký ức cuộc đời
Nằm dưới lòng đất và nhớ về cuộc đời –
những bữa ăn tối thịnh soạn và những đêm rỗi rãi trong vườn,
hay những Chủ nhật mùa đông khi nằm dài trên giường
anh ngao du mãi tận trang cuối một cuốn sách.
Nhớ lại sau khi anh chết, như thế nào những bà con thân thuộc,
vốn chẳng chuyện trò qua lại, nay gặp nhau và ngất lịm trong bếp,
như thế nào sau đó anh em đã đưa anh qua khắp đường phố
theo nhịp chậm của ban kèn đồng thành thị.
Nằm dưới lòng đất, và qua những nắm xương của mình,
như thế nào anh nghe nước chảy, nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc
là có được một người anh em họ xa đến giẫy cỏ
quanh mộ và nhỏ chút nước mắt cho anh.
Còn vợ anh, người anh từng điên cuồng tin cậy cho đến cùng,
cô ta đang mở cửa đón một người khác, thì con người vẫn thế,
và tiếng thì thầm từ căn phòng của anh giờ đây vọng đến tai anh –
không cách gì anh không lắng nghe hơi thở của hai người.
Tháng ngày vang ầm phía trên anh như những cái thùng rỗng,
nhưng người anh yêu lại thì thầm kêu tên anh những ngày Chủ nhật.
Rồi một chấm màu đỏ cam của vú nàng ôm quanh anh –
từ hai quả cam kia, cười cợt và tròn quay.
_________________________
[***]Bản Việt ngữ “Tiếng kèn đêm” được dịch cách nay đúng 17 năm trên đường đi từ Portland trở về Salt Lake City. Tập thơ The Wings of the Messenger là một trong những cuốn người dịch mua được vào một ngày cuối tuần ở Chợ Sách bày trên nền một công viên đẹp ở trung tâm thành phố này, không quá xa Nhà hát Portland Coliseum [nơi người Mỹ từng chào đón ban nhạc The Beatles: xem “Portland Coliseum” của Allen Ginsberg trên Tiền Vệ]. Người mua ở đây có thể thong thả vừa lục tìm sách đủ loại, vừa nhâm nhi một tách cà phê...
-----------------
“Nỗi buồn”, “Tiếng kèn đêm” và “Ký ức cuộc đời” dịch từ bản tiếng Anh “Sadness”, “Evening Trumpet” và “Memory of life” của Roland Flint và Lyubomir Nikolov trong Boris Xristov, The Wings of the Messenger (Sofia: Petrikov Publishers, 1991).
Source : Tiền Vệ
Simon Van Booy: những con chim nhỏ
Những Con Chim Nhỏ
SIMON VAN BOOY
Simon Van Booy: những con chim nhỏ
Lưu Diệu Vân & Hoàng Chính : chuyển ngữ
Tôi vừa tròn mười lăm tuổi khi thức giấc sáng nay. Mỗi năm qua như một
lần khoác thêm lớp áo mới lên trên những lớp cũ. Để đôi khi tôi thọc
tay vào những chiếc túi ấu thơ và moi ra những món đồ.
Từ cửa tiệm trở về Michel nói để ăn mừng chúng tôi có thể đi coi phim
hay ăn ở McDonald’s trên đại lộ Voltaire. Michel không phải là cha
ruột của tôi. Ông lớn lên ở Paris và đã có một thời gian ở tù. Trước
đây ông quen sống một mình, nhưng sau khi đã sống chung với nhau một
thời gian lâu, tôi nghĩ ông ấy không thể sống thiếu tôi nữa.
Chúng tôi ở Paris, tôi nghĩ tôi sinh ra ở đó, nhưng tôi cũng không
chắc. Mọi người nghĩ tôi là người Hoa, tôi cũng có nét giống người
Hoa, nhưng Michel bảo tôi còn nhiều chất Tây hơn cả bánh mì Tây nữa.
Đó là chiều ngày sinh nhật của tôi nhưng vẫn là buổi sáng của đời tôi.
Tôi dạo bước trên Ponts des Arts. Đó là một cây cầu gỗ nhỏ nơi đám du
khách người Mỹ ngồi trên những chiếc ghế mây đầy mầu sắc, nhâm nhi
rượu. Cho dù mới chỉ mười lăm tuổi, chưa có bạn gái, tôi vẫn có thể
nhận ra ai đang yêu ai khi nhìn họ.
Một người đàn bà ngồi xe lăn đang được chồng đẩy ngang chiếc cầu. Họ
đang yêu nhau. Chỉ có hai bánh sau lăn trên những thanh gỗ. Người
chồng kéo nghiêng chiếc xe lăn về phía mình như thể thân thể anh ta
đang uống từ thân thể người vợ. Tôi ước gì ông ấy có thể nhìn thấy mặt
vợ mình. Bà ta níu lấy một một nhúm khăn giấy. Trông họ giống người
Đông Âu. Tôi đoán thế bởi họ ăn mặc tươm tất nhưng kiểu quần áo đã lỗi
thời. Tôi muốn nghĩ rằng đây là lần đầu tiên họ đến Paris. Tôi có thể
tưởng tượng ông ta sau đó, cố gắng đỡ bà vợ ra khỏi xe lăn trong căn
phòng xám của khách sạn với những chiếc màn nhăn nhúm đang bị gió thổi
căng phồng. Tôi có thể hình dung thấy người đàn bà trong vòng tay
chồng. Ông ta sẽ thận trọng đặt vợ lên giường như đặt lên một dòng
sông chảy chậm.
Một người đàn ông vô gia cư dơ dáy đang ngồi xổm với những du khách
Mỹ, kể chuyện cười bằng thứ tiếng Anh què cụt. Anh ta không nhìn những
cặp chân cạo sạch của các cô gái mà chỉ ngắm chai rượu uống dở dang
cùng miếng phó mát chua. Đám người Mỹ có vẻ vui tính và giả bộ cười
đùa; tôi nghĩ bí quyết của một cuộc sống tươi đẹp là hãy châm chước sự
thật một chút và hy vọng rằng bất cứ phút giây nào đó, chúng ta cũng
đều có thể được tái sinh.
Cầu Ponts des Arts làm bằng gỗ, nếu nhìn qua khe hở những tấm ván, bạn
sẽ thấy thuyền bè lướt qua phía dưới. Thỉnh thoảng những tia chớp nhá
lên từ dưới tầu lúc du khách chụp hình cho nhau, đôi khi họ không nhắm
máy vào cảnh nào mà chỉ bấm một cách vu vơ - Tôi thích loại hình ảnh
này nhất, chẳng phải vì tôi có máy chụp hình - nhưng nếu có, tôi sẽ
chụp đại những tấm hình không nhắm vào đâu. Bạn đâu có thể ghi nhận
cuộc đời đầy sức sống qua cách nào khác hơn thế.
Michel làm việc trong một cửa tiệm ở trung tâm Pigalle. Bên ngoài tiệm
là một mũi tên chớp nháy với chữ SEXY bằng đèn nê ông mầu đỏ. Michel
đã có cửa tiệm này từ khi tôi có trí nhớ. Ông cấm tôi lại tìm ông ấy ở
đó, dẫu vài lần từ góc đường, tôi thấy ông ngồi ở bàn làm việc. Michel
thích đọc thơ của Giorgio Caproni, một nhà thơ đã qua đời, nhưng
Michel bảo ngôn ngữ của nhà thơ như những con chim nhỏ quấn quýt và
hót líu lo bên tai mình.
Nếu bạn thấy Michel, bạn có thể nhận ra ngay lúc ông băng qua đường vì
ông có một cái sẹo từ khóe miệng dài lên má. Ông kể ông bị cái thẹo ấy
khi vật lộn với cá sấu ở Mississippi, nhưng bây giờ đã mười lăm tuổi,
mỗi khi nghe kể tôi chỉ cười cho qua.
Michel có người bạn tên Léon, người này đôi khi ngủ đêm lại với chúng
tôi vì uống rượu nhiều quá, nên vợ ông ta không cho vào nhà - dù ông
ta luôn tìm cách giải thích rằng vì vợ ông ta có những giấc chiêm bao
quá đẹp nên ông ta không muốn lạng quạng đánh thức vợ dậy lúc nửa
khuya. Một đêm kia, khi Michel ở trong nhà tắm, Léon kể cho tôi nghe
vì sao Michel bị sẹo trên mặt.
"Trước khi mày về sống với Michel," Léon thì thào, "Có một cuộc ẩu đả
dữ dội trước cửa tiệm của Michel. Đương nhiên là anh ta chạy ra để
giải hòa." Ông ngừng lại để lôi một chai rượu vang nhỏ ra khỏi túi áo
ngực. Mỗi người chúng tôi nhắp một ngụm, rồi Léon kéo tai tôi sát lại
cái miệng đầy hơi rượu của ông ta. "Anh ấy tìm cách cứu một cô gái
điếm đang bị đánh, nhưng cảnh sát lại trễ quá và mấy thằng ngốc cảnh
sát ấy lại bắt giữ Michel, bỏ mặc cô gái bị ngộp chết một mình." Rồi
chúng tôi nghe tiếng chân của Michel ngoài hành lang và những tiếng
thì thào vĩnh viễn biến đi trong cái hoang loạn của gã say rượu.
Michel dám siết cổ Léon nếu ông ấy biết gã say đã kể cho tôi nghe
nhiều như thế, bởi ông cứ hành động như thể tôi không hay biết bất cứ
chuyện gì, cho tới khi tôi bước chân vào Sorbonne, trường đại học lâu
đời nhất Paris, tôi sẽ bỏ cuộc sống này lại phía sau và chỉ thăm ông
vào dịp lễ Giáng Sinh với quà cáp mua ở những tiệm sang trọng ở đại lộ
Montaigne và Champs Élysées. "Khỏi cần gói," Michel có lần đã trầm
trồ. "Mấy cô gái bán hàng sẵn sàng gói cho mình ngay trong tiệm."
Tôi thích rảo bước quanh nhà thờ Đức Bà, tọa lạc ngay trên hòn đảo
riêng của mình. Tôi thích ngắm du khách trầm trồ ngưỡng mộ nét đẹp
cong cuốn của khung cửa đá. Nó gợi cho tôi nhớ đến chiếc bánh cưới đẹp
đến nỗi ta không nỡ ăn - dù bầy bồ câu đói khát thường xuyên biết rõ
sự thật, bởi hàng trăm con đậu trên những cạnh viền trắng dơ dáy thả
phân xuống bên dưới, mổ chiếc mỏ dẻo dai vào mặt đá cẩm thạch.
Đôi khi du khách vào nhà thờ cầu nguyện. Khi tôi còn rất nhỏ, Michel
thường quỳ ở cạnh giường tôi nghĩ rằng tôi đang say ngủ. Tôi có thể
nghe ông cầu nguyện với Chúa cho tôi. Ông gọi tôi là hạt Đậu Phụng bé
nhỏ, thế nên tôi không chắc Chúa có hiểu ý Michel muốn nói về ai,
nhưng nếu thật sự có Chúa thì ngài chắc thấu hiểu mọi sự là tên tôi
không phải là Đậu Phụng.
Sau khi hút thuốc trên bậc đá nhà thờ Đức Bà và đá lông nheo với cô
gái Ý đang ngồi làm kiểu cho bạn trai chụp hình, tôi vào vườn bách
thảo. Michel và tôi thường tới đây vào Chủ Nhật từ dạo tôi bắt đầu có
trí nhớ. Có lần tôi ngủ quên trên cỏ và Michel nhét đầy hoa vào túi áo
tôi. Hôm nay tôi mười lăm tuổi và tôi ngồi kiểm điểm lại đời mình. Cho
dù tôi muốn vào đại học để mai sau có thể mua cho Michel một chiếc xe
mui trần mầu đỏ, khi tôi nhớ lại những ngày Chủ Nhật trong vườn Bách
Thảo, tôi muốn làm cho mọi người những điều họ không thể nào quên. Có
thể đó là điều tốt đẹp nhất tôi có thể làm trong đời mình. Trời âm u
nhưng những đóa hoa thì nở rộ.
Loài hoa có thể chất chứa sắc mầu ấy trong những phiến cánh mảnh mai
một cách kỳ diệu.
***
Cửa tiệm của Michel bán băng và đĩa hình của những người đàn bà gần
như trần truồng làm tình hầm bà lằng với đủ loại đàn ông. Michel bảo
tình dục nhiều khi khác hẳn tình yêu, và ông ấy không bao giờ mang thứ
gì về nhà; ông bảo những gì xảy ra ở Pigalle, sẽ giữ lại Pigalle. Đôi
lúc, khi tôi đứng bên đường nhìn sang phía Michel, những cô gái điếm
đi qua buông lời gạ gẫm. Tôi bảo họ tôi có người bạn làm trong ngành
công nghiệp ấy, họ cười và mời tôi hút thuốc. Tôi đặc biệt là bạn của
một cô gái điếm tên Sandrine và cô ta nói cô ta đủ già để làm bà tôi.
Cô ta mặc một cái váy nhựa bóng loáng và áo rất hở ở phía trên. Tôi
không thể đứng nói chuyện với cô ở cửa vào vì sẽ không tốt cho công
việc. Làn da chân cô giống da thuộc, nhưng cô là một người vô cùng
thực tế. Cô biết Michel và kể tôi nghe là Michel có lần phải lòng một
cô gái điếm, nhưng chuyện chẳng đi đến đâu. Năm mười hai tuổi, tôi tìm
cách hỏi tên của cô gái, nhưng Sandrine ôm lấy đầu tôi trong hai bàn
tay thì thầm rằng cô ta chết rồi và câu chuyện kết thúc ở đó.
Tôi muốn biết thêm về cô gái ấy bởi vì Michel chưa bao giờ có bạn gái,
chắc hẳn cô ta phải đặc biệt lắm. Đôi khi Sandrine mua cho tôi một
cuốn sách và gửi tạm một cô gái nào đó trong lúc làm việc. Cuốn sách
mới nhất mà cô mua cho tôi tựa đề Người Đàn Ông Gieo Hy Vọng và Trồng
Hạnh Phúc.
Vào buổi chiều u ám ngày sinh nhật thứ mười lăm của tôi, tôi thấy
Michel ngồi ở quầy đọc sách. Nếu biết tôi có mặt ở đây, ông sẽ giận
lắm và bộc lộ sự giận dữ bằng cách không thèm nói chuyện với tôi cả
ngày. Và ông sẽ không muốn bước chân ra ngoài nữa dù là ngày sinh
nhật.Tôi nhìn từ phía trong một đám đông đầy những bóng người. Michel
đang đọc sách. Trong cuốn thơ của Caproni, ông viết đầy những câu thơ
nhỏ bé của mình bên lề trang giấy. Có lần, trong một giây phút ngu
ngốc, tôi mở một cuốn sách của ông ta đọc; ông giật vội khỏi tay tôi
làm cuốn sách rách toạc. Cả hai chúng tôi cùng hết sức nổi giận.
Michel bảo thơ của ông không dành cho tôi - rằng chúng như bầy chim
được tạo ra để bầu bạn với những con chim khác. Khi tôi hỏi vậy chứ
thơ của ông dành cho ai, một giọt nước mắt lẻ loi trào ra chảy xuôi
theo vết sẹo.
Còn bốn tiếng nữa là đến giờ tan sở của Michel. Ông muốn về nhà sẽ
thấy tôi đang ngồi coi TV và đã sẵn sàng để ra ngoài. Ông ấy bảo tối
nay tôi có thể đi bất cứ nơi nào tôi muốn, nhưng tình hình tài chánh
cũng hơi hạn hẹp. Tôi nghĩ ông mua cho tôi một đôi giầy mới vì tôi
thấy một hộp đựng giầy Nike mới dưới gầm giường lúc tôi hút bụi. Tôi
không mở ra xem. Tôi thích không được biết trước.
Tôi biết Michel đã dành dụm cho buổi tối hôm nay từ hai tháng trước.
Trong ngăn tủ dưới chậu rửa bát có một chai rượu đựng đầy tiền. Khi
hàng xóm nghe tiếng chai rượu vỡ trong căn hộ của Michel, người ta sẽ
biết đang có sinh nhật ai đó. Láng giềng của Michel thích ông dù họ
cần một thời gian để làm quen với vết sẹo trên mặt và ý tưởng là ông
đã có thời gian ở tù.
Chúng tôi ở khu phố 11. Các quận phố cuộn quanh Paris như một vỏ ốc.
Sandrine chưa có mặt ở cửa tiệm hoặc cũng có thể cô đã có khách rồi
cũng nên. Michel vừa tiếp khách hàng vừa đảo điếu thuốc trên môi. Điếu
thuốc do ông tự cuốn lấy và ngửa đầu thở khói.
Trên đường về nhà, tôi luôn đi qua trung tâm Pompidou. Nếu mới trông
thấy lần đầu, bạn sẽ tưởng nơi ấy đang xây cất dở dang, nhưng đó là
cách người ta cấu trúc, và bạn có thể nhìn thấy phía bên trong qua
những bức tường kính khổng lồ. Tôi thích nhìn đám du khách luồn lách
qua trung tâm ấy như những con kiến trong tổ. Phía ngoài là một cái
chậu mầu vàng lớn như chiếc xe chở bánh mì. Chưa có ai trồng thứ gì
trong đó, thành ra nó chỉ dùng làm cảnh.
Michel bảo tôi rằng hôm nay là sinh nhật thứ mười lăm của tôi, nhưng
ông cũng không chắc lắm. Không ai biết chắc. Câu chuyện về sự gặp gỡ
của chúng tôi cũng đầy sự thích thú.
Michel bảo lúc chưa có tôi, ông ấy hư hỏng lắm, nhưng rồi tôi đã giúp
thay đổi tất cả. Ông kể vào cái hôm ra tù, đang đi trên xe điện ngầm,
lúc đó tôi khoảng ba tuổi - hoặc chỉ là do ông ta đoán vậy. Ông bảo
mọi chuyện xảy ra trong tích tắc. Cửa xe điện đóng lại, và tôi đứng
đó, nhìn ông. Ông kể bố mẹ tôi đứng trên thềm ga, đập rầm rầm trên cửa
kính và la hét. Ông kể có lẽ tự mình tôi bước vào toa xe và cửa toa
đóng lại trước khi bố mẹ tôi kịp níu lấy tôi. Tôi thường hỏi ông bố mẹ
tôi ra sao, và ông luôn lộ vẻ buồn. Ông nói bố mẹ tôi là những người
thanh lịch nhất mà ông từng có dịp trông thấy. Ông bảo mẹ tôi là một
nàng công chúa Á Châu mặc một áo lông sang trọng nhất với son môi đỏ
tới mức tưởng chừng đôi môi bà bốc cháy.
Michel bảo mái tóc đen của bà viền quanh khuôn mặt, như thể chúng bị
đe dọa bởi nhan sắc của bà và không dám lại gần. Ông bảo cha tôi là
một người Mỹ cao lớn với một bộ y phục đắt tiền nhất đã từng được đo
may. Michel bảo cha tôi có dáng vẻ của một người quyền thế, nhưng lại
quá đẹp trai khiến vẻ quyền thế kia bị mờ nhạt. Ông bảo bố mẹ tôi khóc
lóc và đập cửa kiếng xe điện như hai đứa trẻ; ông bảo ông chưa bao giờ
thấy ai đau khổ như thế.
Michel nói tôi khóc khi xe điện ngầm bắt đầu di chuyển và ông ở lại
trên xe điện cho đến trạm cuối cùng để xem chuyện gì xảy đến cho tôi.
Ông nói ông đem tôi về nhà và tôi đã khóc suốt một năm trời như mưa
vậy. Ông bảo hàng xóm lũ lượt kéo đến xem chuyện gì xảy ra. Lớn hơn
một chút, tôi giận dữ với Michel vì đã không bỏ công tìm bố mẹ tôi, và
tôi tưởng tượng họ sống trong một lâu đài ở New York, nơi họ không
buồn thắp đèn đóm cho đến khi nào tìm thấy tôi. Michel kể cho tôi nghe
là ông đã bỏ ăn bỏ ngủ tìm kiếm bố mẹ tôi suốt một tuần lễ nhưng sau
cùng khám phá ra bố mẹ tôi đã tử nạn trong một tai nạn máy bay ở
Buenos Aires. Trong cái ví lúc nào tôi cũng mang theo một bản đồ
Argentina mà tôi đã xé ra từ một cuốn sách thư viện. Đôi lúc tôi rà
ngón tay dài theo những thành phố trên bản đồ và tự hỏi đây có phải
nơi máy bay rớt xuống hay không.
Năm tôi lên chín, Michel cho tôi quyết định có nên vào viện mồ côi
không nhưng ông giải thích cho tôi rằng ông cũng lớn lên trong một nơi
như thế và chẳng có gì là thú vị cả.
Tôi thích đi xe điện ngầm dù những băng con trai Algeria thỉnh thoảng
nhổ nước miếng vào người tôi. Khi xe điện ngừng ở trạm mà Michel gặp
tôi ngày trước, bao giờ tôi cũng ngó ngược ngó xuôi một cách hoảng
hốt. Tôi không kiềm chế được mình. Michel bảo bố mẹ tôi là những người
lịch thiệp và nhân từ nhất mà ông đã từng gặp, và lớn lên tôi cũng nên
như họ. Một trong những cô bạn gái điếm của Sandrine có lần bảo tôi
giống Annie Lee, Sandrine tát cô ta làm cô ta im miệng. Có thể mai mốt
khi lớn lên tôi sẽ hỏi Sandrine xem Annie Lee là ai.
Căn hộ của chúng tôi ở khu 11 rất cơ bản. Tất cả mọi cửa sổ đều mở vào
một khoảng sân chung với những cửa sổ khác. Khi tắt đèn, chúng tôi có
thể thấy đời sống của người khác phô bày lộ liễu. Đời sống một người
cũng như đoạn phim quay chậm, và tôi chứng kiến láng giềng tôi cãi cọ,
làm hòa, ân ái, và chiên thịt. Tôi có thể đoan chắc một trong những
người láng giềng của tôi không hạnh phúc, vì ông ta ngồi cạnh cái điện
thoại, chốc chốc lại cầm lên nghe thử xem có tiếng vo vo quen thuộc
không, nhưng cái điện thoại ấy không bao giờ reo khi người đàn ông ấy
ở nhà. Michel bảo vợ của người đàn ông ấy bỏ đi, và nếu có lúc nào đó
tôi không biết cầu nguyện cho ai, tôi nên cầu nguyện cho người đàn ông
ấy.
Tôi nghe tiếng chìa của Michel vặn khóa.
"Chúc mừng sinh nhật, Đậu Phụng!" là những chữ đầu tiên thoát khỏi cửa
miệng Michel. Ông ta hôn lên hai má tôi và bảo tôi sửa soạn. Tôi tắt
ti vi và tìm đôi giầy cũ sau cánh cửa. Chúng không có ở đó. Michel vừa
mồi điếu thuốc vừa cười.
"Tìm dưới gầm giường xem có không." ông nói.
Tôi đoán đúng, và tôi reo lên từ trong phòng ngủ để Michel biết tôi đã
tìm thấy. Tôi muốn biết đôi giầy có vừa chân không. Tôi thích cái mùi
của giầy mới.
Tối nay tôi mong mỏi sẽ được ăn một cái hamburger kiểu Mỹ loại mà ba
tôi có lẽ rất ưa chuộng. Có thể chúng tôi sẽ đi xem một phim Mỹ. Men
in Black II đang chiếu khắp Paris. Khi tôi bấm máy hát và nhìn mặt
mình trong gương, tôi nghe tiếng mở nút chai trong nhà bếp và tiếng
vài người hàng xóm reo vui qua những khung cửa sổ mở rộng.
Michel gõ cửa và ló đầu qua khung cửa.
"Prêt?" ông nói, và tôi bảo mình đi thôi.
Chúng tôi cầm tay nhau đi trong ánh chiều tà. Paris không bao giờ tối
hẳn bởi vì khi ánh sáng của ban ngày tan đi, chúng tôi lại có ánh đèn
đường – thường rất rực rỡ - gắn trên những cột đèn cao mầu đen, mỗi
ngọn đèn là một đôi bóng trắng tỏa sáng thân thiết suốt chiều dài con
phố. Đôi khi chúng thắp sáng cùng một lúc, như thể cùng với nhau chúng
có thể xua tan bóng đêm.
Tôi biết Michel thích cầm tay tôi, nhưng bây giờ tôi lớn rồi, chuyện
ấy không còn hợp nữa, thay vào đó, Michel hút thuốc và bảo tôi dù đời
tôi có trôi giạt đến đâu, ông cũng sẽ luôn nhớ đến tôi một cách chân
tình.
Tôi thầm hỏi Michel có phải là một nhà thơ nổi tiếng không. Thầy giáo
tôi bảo thi sĩ xuất thân từ mọi nẻo đời và tài năng của họ do trời ban
cho. Tôi tự hỏi không biết người ta rồi có vây quanh mộ của Michel ở
nghĩa trang Père-Lachaise vài trăm năm sau. Tôi tự hỏi không biết
người ta có đặt những câu thơ họ viết bên bia mộ của Michel và thầm
cám ơn ông đã gửi đến họ những con chim nhỏ, hót cho họ nghe trong
những phút giây đen tối của cuộc đời.
Michel mua vé coi phim bằng tiền lẻ để dành trong chai rượu. Cô bán
hàng không tỏ vẻ khó chịu. Con mắt trái cô ta bị lé. Cô ta luồn tấm vé
ra cho Michel mà không đếm đống tiền cắc. Cô ta nhìn cái sẹo của
Michel lúc chúng tôi đi lướt qua khung kính quầy vé. Michel đưa vé cho
người soát vé. Hắn ta xé đôi tấm vé. Michel bảo giữ lại cái đuôi vé
nên tôi mở ví và mảnh bản đồ Argentina rơi ra. Michel nhanh nhẹn nhặt
lên ngắm nghía. Tôi vồ vội lấy miếng giấy và nhét vào ví.
"Những con chim nhỏ của Đậu Phụng." Ông cười.
Rồi chúng tôi vào chỗ ngồi và tan biến vào cuốn phim đang chiếu.
Lưu Diệu Vân & Hoàng Chính
chuyển ngữ từ nguyên bản Little Birds
trong tập truyện The Secret Lives of People in Love)
Source : www.hopluu.net.
SIMON VAN BOOY
Simon Van Booy: những con chim nhỏ
Lưu Diệu Vân & Hoàng Chính : chuyển ngữ
Tôi vừa tròn mười lăm tuổi khi thức giấc sáng nay. Mỗi năm qua như một
lần khoác thêm lớp áo mới lên trên những lớp cũ. Để đôi khi tôi thọc
tay vào những chiếc túi ấu thơ và moi ra những món đồ.
Từ cửa tiệm trở về Michel nói để ăn mừng chúng tôi có thể đi coi phim
hay ăn ở McDonald’s trên đại lộ Voltaire. Michel không phải là cha
ruột của tôi. Ông lớn lên ở Paris và đã có một thời gian ở tù. Trước
đây ông quen sống một mình, nhưng sau khi đã sống chung với nhau một
thời gian lâu, tôi nghĩ ông ấy không thể sống thiếu tôi nữa.
Chúng tôi ở Paris, tôi nghĩ tôi sinh ra ở đó, nhưng tôi cũng không
chắc. Mọi người nghĩ tôi là người Hoa, tôi cũng có nét giống người
Hoa, nhưng Michel bảo tôi còn nhiều chất Tây hơn cả bánh mì Tây nữa.
Đó là chiều ngày sinh nhật của tôi nhưng vẫn là buổi sáng của đời tôi.
Tôi dạo bước trên Ponts des Arts. Đó là một cây cầu gỗ nhỏ nơi đám du
khách người Mỹ ngồi trên những chiếc ghế mây đầy mầu sắc, nhâm nhi
rượu. Cho dù mới chỉ mười lăm tuổi, chưa có bạn gái, tôi vẫn có thể
nhận ra ai đang yêu ai khi nhìn họ.
Một người đàn bà ngồi xe lăn đang được chồng đẩy ngang chiếc cầu. Họ
đang yêu nhau. Chỉ có hai bánh sau lăn trên những thanh gỗ. Người
chồng kéo nghiêng chiếc xe lăn về phía mình như thể thân thể anh ta
đang uống từ thân thể người vợ. Tôi ước gì ông ấy có thể nhìn thấy mặt
vợ mình. Bà ta níu lấy một một nhúm khăn giấy. Trông họ giống người
Đông Âu. Tôi đoán thế bởi họ ăn mặc tươm tất nhưng kiểu quần áo đã lỗi
thời. Tôi muốn nghĩ rằng đây là lần đầu tiên họ đến Paris. Tôi có thể
tưởng tượng ông ta sau đó, cố gắng đỡ bà vợ ra khỏi xe lăn trong căn
phòng xám của khách sạn với những chiếc màn nhăn nhúm đang bị gió thổi
căng phồng. Tôi có thể hình dung thấy người đàn bà trong vòng tay
chồng. Ông ta sẽ thận trọng đặt vợ lên giường như đặt lên một dòng
sông chảy chậm.
Một người đàn ông vô gia cư dơ dáy đang ngồi xổm với những du khách
Mỹ, kể chuyện cười bằng thứ tiếng Anh què cụt. Anh ta không nhìn những
cặp chân cạo sạch của các cô gái mà chỉ ngắm chai rượu uống dở dang
cùng miếng phó mát chua. Đám người Mỹ có vẻ vui tính và giả bộ cười
đùa; tôi nghĩ bí quyết của một cuộc sống tươi đẹp là hãy châm chước sự
thật một chút và hy vọng rằng bất cứ phút giây nào đó, chúng ta cũng
đều có thể được tái sinh.
Cầu Ponts des Arts làm bằng gỗ, nếu nhìn qua khe hở những tấm ván, bạn
sẽ thấy thuyền bè lướt qua phía dưới. Thỉnh thoảng những tia chớp nhá
lên từ dưới tầu lúc du khách chụp hình cho nhau, đôi khi họ không nhắm
máy vào cảnh nào mà chỉ bấm một cách vu vơ - Tôi thích loại hình ảnh
này nhất, chẳng phải vì tôi có máy chụp hình - nhưng nếu có, tôi sẽ
chụp đại những tấm hình không nhắm vào đâu. Bạn đâu có thể ghi nhận
cuộc đời đầy sức sống qua cách nào khác hơn thế.
Michel làm việc trong một cửa tiệm ở trung tâm Pigalle. Bên ngoài tiệm
là một mũi tên chớp nháy với chữ SEXY bằng đèn nê ông mầu đỏ. Michel
đã có cửa tiệm này từ khi tôi có trí nhớ. Ông cấm tôi lại tìm ông ấy ở
đó, dẫu vài lần từ góc đường, tôi thấy ông ngồi ở bàn làm việc. Michel
thích đọc thơ của Giorgio Caproni, một nhà thơ đã qua đời, nhưng
Michel bảo ngôn ngữ của nhà thơ như những con chim nhỏ quấn quýt và
hót líu lo bên tai mình.
Nếu bạn thấy Michel, bạn có thể nhận ra ngay lúc ông băng qua đường vì
ông có một cái sẹo từ khóe miệng dài lên má. Ông kể ông bị cái thẹo ấy
khi vật lộn với cá sấu ở Mississippi, nhưng bây giờ đã mười lăm tuổi,
mỗi khi nghe kể tôi chỉ cười cho qua.
Michel có người bạn tên Léon, người này đôi khi ngủ đêm lại với chúng
tôi vì uống rượu nhiều quá, nên vợ ông ta không cho vào nhà - dù ông
ta luôn tìm cách giải thích rằng vì vợ ông ta có những giấc chiêm bao
quá đẹp nên ông ta không muốn lạng quạng đánh thức vợ dậy lúc nửa
khuya. Một đêm kia, khi Michel ở trong nhà tắm, Léon kể cho tôi nghe
vì sao Michel bị sẹo trên mặt.
"Trước khi mày về sống với Michel," Léon thì thào, "Có một cuộc ẩu đả
dữ dội trước cửa tiệm của Michel. Đương nhiên là anh ta chạy ra để
giải hòa." Ông ngừng lại để lôi một chai rượu vang nhỏ ra khỏi túi áo
ngực. Mỗi người chúng tôi nhắp một ngụm, rồi Léon kéo tai tôi sát lại
cái miệng đầy hơi rượu của ông ta. "Anh ấy tìm cách cứu một cô gái
điếm đang bị đánh, nhưng cảnh sát lại trễ quá và mấy thằng ngốc cảnh
sát ấy lại bắt giữ Michel, bỏ mặc cô gái bị ngộp chết một mình." Rồi
chúng tôi nghe tiếng chân của Michel ngoài hành lang và những tiếng
thì thào vĩnh viễn biến đi trong cái hoang loạn của gã say rượu.
Michel dám siết cổ Léon nếu ông ấy biết gã say đã kể cho tôi nghe
nhiều như thế, bởi ông cứ hành động như thể tôi không hay biết bất cứ
chuyện gì, cho tới khi tôi bước chân vào Sorbonne, trường đại học lâu
đời nhất Paris, tôi sẽ bỏ cuộc sống này lại phía sau và chỉ thăm ông
vào dịp lễ Giáng Sinh với quà cáp mua ở những tiệm sang trọng ở đại lộ
Montaigne và Champs Élysées. "Khỏi cần gói," Michel có lần đã trầm
trồ. "Mấy cô gái bán hàng sẵn sàng gói cho mình ngay trong tiệm."
Tôi thích rảo bước quanh nhà thờ Đức Bà, tọa lạc ngay trên hòn đảo
riêng của mình. Tôi thích ngắm du khách trầm trồ ngưỡng mộ nét đẹp
cong cuốn của khung cửa đá. Nó gợi cho tôi nhớ đến chiếc bánh cưới đẹp
đến nỗi ta không nỡ ăn - dù bầy bồ câu đói khát thường xuyên biết rõ
sự thật, bởi hàng trăm con đậu trên những cạnh viền trắng dơ dáy thả
phân xuống bên dưới, mổ chiếc mỏ dẻo dai vào mặt đá cẩm thạch.
Đôi khi du khách vào nhà thờ cầu nguyện. Khi tôi còn rất nhỏ, Michel
thường quỳ ở cạnh giường tôi nghĩ rằng tôi đang say ngủ. Tôi có thể
nghe ông cầu nguyện với Chúa cho tôi. Ông gọi tôi là hạt Đậu Phụng bé
nhỏ, thế nên tôi không chắc Chúa có hiểu ý Michel muốn nói về ai,
nhưng nếu thật sự có Chúa thì ngài chắc thấu hiểu mọi sự là tên tôi
không phải là Đậu Phụng.
Sau khi hút thuốc trên bậc đá nhà thờ Đức Bà và đá lông nheo với cô
gái Ý đang ngồi làm kiểu cho bạn trai chụp hình, tôi vào vườn bách
thảo. Michel và tôi thường tới đây vào Chủ Nhật từ dạo tôi bắt đầu có
trí nhớ. Có lần tôi ngủ quên trên cỏ và Michel nhét đầy hoa vào túi áo
tôi. Hôm nay tôi mười lăm tuổi và tôi ngồi kiểm điểm lại đời mình. Cho
dù tôi muốn vào đại học để mai sau có thể mua cho Michel một chiếc xe
mui trần mầu đỏ, khi tôi nhớ lại những ngày Chủ Nhật trong vườn Bách
Thảo, tôi muốn làm cho mọi người những điều họ không thể nào quên. Có
thể đó là điều tốt đẹp nhất tôi có thể làm trong đời mình. Trời âm u
nhưng những đóa hoa thì nở rộ.
Loài hoa có thể chất chứa sắc mầu ấy trong những phiến cánh mảnh mai
một cách kỳ diệu.
***
Cửa tiệm của Michel bán băng và đĩa hình của những người đàn bà gần
như trần truồng làm tình hầm bà lằng với đủ loại đàn ông. Michel bảo
tình dục nhiều khi khác hẳn tình yêu, và ông ấy không bao giờ mang thứ
gì về nhà; ông bảo những gì xảy ra ở Pigalle, sẽ giữ lại Pigalle. Đôi
lúc, khi tôi đứng bên đường nhìn sang phía Michel, những cô gái điếm
đi qua buông lời gạ gẫm. Tôi bảo họ tôi có người bạn làm trong ngành
công nghiệp ấy, họ cười và mời tôi hút thuốc. Tôi đặc biệt là bạn của
một cô gái điếm tên Sandrine và cô ta nói cô ta đủ già để làm bà tôi.
Cô ta mặc một cái váy nhựa bóng loáng và áo rất hở ở phía trên. Tôi
không thể đứng nói chuyện với cô ở cửa vào vì sẽ không tốt cho công
việc. Làn da chân cô giống da thuộc, nhưng cô là một người vô cùng
thực tế. Cô biết Michel và kể tôi nghe là Michel có lần phải lòng một
cô gái điếm, nhưng chuyện chẳng đi đến đâu. Năm mười hai tuổi, tôi tìm
cách hỏi tên của cô gái, nhưng Sandrine ôm lấy đầu tôi trong hai bàn
tay thì thầm rằng cô ta chết rồi và câu chuyện kết thúc ở đó.
Tôi muốn biết thêm về cô gái ấy bởi vì Michel chưa bao giờ có bạn gái,
chắc hẳn cô ta phải đặc biệt lắm. Đôi khi Sandrine mua cho tôi một
cuốn sách và gửi tạm một cô gái nào đó trong lúc làm việc. Cuốn sách
mới nhất mà cô mua cho tôi tựa đề Người Đàn Ông Gieo Hy Vọng và Trồng
Hạnh Phúc.
Vào buổi chiều u ám ngày sinh nhật thứ mười lăm của tôi, tôi thấy
Michel ngồi ở quầy đọc sách. Nếu biết tôi có mặt ở đây, ông sẽ giận
lắm và bộc lộ sự giận dữ bằng cách không thèm nói chuyện với tôi cả
ngày. Và ông sẽ không muốn bước chân ra ngoài nữa dù là ngày sinh
nhật.Tôi nhìn từ phía trong một đám đông đầy những bóng người. Michel
đang đọc sách. Trong cuốn thơ của Caproni, ông viết đầy những câu thơ
nhỏ bé của mình bên lề trang giấy. Có lần, trong một giây phút ngu
ngốc, tôi mở một cuốn sách của ông ta đọc; ông giật vội khỏi tay tôi
làm cuốn sách rách toạc. Cả hai chúng tôi cùng hết sức nổi giận.
Michel bảo thơ của ông không dành cho tôi - rằng chúng như bầy chim
được tạo ra để bầu bạn với những con chim khác. Khi tôi hỏi vậy chứ
thơ của ông dành cho ai, một giọt nước mắt lẻ loi trào ra chảy xuôi
theo vết sẹo.
Còn bốn tiếng nữa là đến giờ tan sở của Michel. Ông muốn về nhà sẽ
thấy tôi đang ngồi coi TV và đã sẵn sàng để ra ngoài. Ông ấy bảo tối
nay tôi có thể đi bất cứ nơi nào tôi muốn, nhưng tình hình tài chánh
cũng hơi hạn hẹp. Tôi nghĩ ông mua cho tôi một đôi giầy mới vì tôi
thấy một hộp đựng giầy Nike mới dưới gầm giường lúc tôi hút bụi. Tôi
không mở ra xem. Tôi thích không được biết trước.
Tôi biết Michel đã dành dụm cho buổi tối hôm nay từ hai tháng trước.
Trong ngăn tủ dưới chậu rửa bát có một chai rượu đựng đầy tiền. Khi
hàng xóm nghe tiếng chai rượu vỡ trong căn hộ của Michel, người ta sẽ
biết đang có sinh nhật ai đó. Láng giềng của Michel thích ông dù họ
cần một thời gian để làm quen với vết sẹo trên mặt và ý tưởng là ông
đã có thời gian ở tù.
Chúng tôi ở khu phố 11. Các quận phố cuộn quanh Paris như một vỏ ốc.
Sandrine chưa có mặt ở cửa tiệm hoặc cũng có thể cô đã có khách rồi
cũng nên. Michel vừa tiếp khách hàng vừa đảo điếu thuốc trên môi. Điếu
thuốc do ông tự cuốn lấy và ngửa đầu thở khói.
Trên đường về nhà, tôi luôn đi qua trung tâm Pompidou. Nếu mới trông
thấy lần đầu, bạn sẽ tưởng nơi ấy đang xây cất dở dang, nhưng đó là
cách người ta cấu trúc, và bạn có thể nhìn thấy phía bên trong qua
những bức tường kính khổng lồ. Tôi thích nhìn đám du khách luồn lách
qua trung tâm ấy như những con kiến trong tổ. Phía ngoài là một cái
chậu mầu vàng lớn như chiếc xe chở bánh mì. Chưa có ai trồng thứ gì
trong đó, thành ra nó chỉ dùng làm cảnh.
Michel bảo tôi rằng hôm nay là sinh nhật thứ mười lăm của tôi, nhưng
ông cũng không chắc lắm. Không ai biết chắc. Câu chuyện về sự gặp gỡ
của chúng tôi cũng đầy sự thích thú.
Michel bảo lúc chưa có tôi, ông ấy hư hỏng lắm, nhưng rồi tôi đã giúp
thay đổi tất cả. Ông kể vào cái hôm ra tù, đang đi trên xe điện ngầm,
lúc đó tôi khoảng ba tuổi - hoặc chỉ là do ông ta đoán vậy. Ông bảo
mọi chuyện xảy ra trong tích tắc. Cửa xe điện đóng lại, và tôi đứng
đó, nhìn ông. Ông kể bố mẹ tôi đứng trên thềm ga, đập rầm rầm trên cửa
kính và la hét. Ông kể có lẽ tự mình tôi bước vào toa xe và cửa toa
đóng lại trước khi bố mẹ tôi kịp níu lấy tôi. Tôi thường hỏi ông bố mẹ
tôi ra sao, và ông luôn lộ vẻ buồn. Ông nói bố mẹ tôi là những người
thanh lịch nhất mà ông từng có dịp trông thấy. Ông bảo mẹ tôi là một
nàng công chúa Á Châu mặc một áo lông sang trọng nhất với son môi đỏ
tới mức tưởng chừng đôi môi bà bốc cháy.
Michel bảo mái tóc đen của bà viền quanh khuôn mặt, như thể chúng bị
đe dọa bởi nhan sắc của bà và không dám lại gần. Ông bảo cha tôi là
một người Mỹ cao lớn với một bộ y phục đắt tiền nhất đã từng được đo
may. Michel bảo cha tôi có dáng vẻ của một người quyền thế, nhưng lại
quá đẹp trai khiến vẻ quyền thế kia bị mờ nhạt. Ông bảo bố mẹ tôi khóc
lóc và đập cửa kiếng xe điện như hai đứa trẻ; ông bảo ông chưa bao giờ
thấy ai đau khổ như thế.
Michel nói tôi khóc khi xe điện ngầm bắt đầu di chuyển và ông ở lại
trên xe điện cho đến trạm cuối cùng để xem chuyện gì xảy đến cho tôi.
Ông nói ông đem tôi về nhà và tôi đã khóc suốt một năm trời như mưa
vậy. Ông bảo hàng xóm lũ lượt kéo đến xem chuyện gì xảy ra. Lớn hơn
một chút, tôi giận dữ với Michel vì đã không bỏ công tìm bố mẹ tôi, và
tôi tưởng tượng họ sống trong một lâu đài ở New York, nơi họ không
buồn thắp đèn đóm cho đến khi nào tìm thấy tôi. Michel kể cho tôi nghe
là ông đã bỏ ăn bỏ ngủ tìm kiếm bố mẹ tôi suốt một tuần lễ nhưng sau
cùng khám phá ra bố mẹ tôi đã tử nạn trong một tai nạn máy bay ở
Buenos Aires. Trong cái ví lúc nào tôi cũng mang theo một bản đồ
Argentina mà tôi đã xé ra từ một cuốn sách thư viện. Đôi lúc tôi rà
ngón tay dài theo những thành phố trên bản đồ và tự hỏi đây có phải
nơi máy bay rớt xuống hay không.
Năm tôi lên chín, Michel cho tôi quyết định có nên vào viện mồ côi
không nhưng ông giải thích cho tôi rằng ông cũng lớn lên trong một nơi
như thế và chẳng có gì là thú vị cả.
Tôi thích đi xe điện ngầm dù những băng con trai Algeria thỉnh thoảng
nhổ nước miếng vào người tôi. Khi xe điện ngừng ở trạm mà Michel gặp
tôi ngày trước, bao giờ tôi cũng ngó ngược ngó xuôi một cách hoảng
hốt. Tôi không kiềm chế được mình. Michel bảo bố mẹ tôi là những người
lịch thiệp và nhân từ nhất mà ông đã từng gặp, và lớn lên tôi cũng nên
như họ. Một trong những cô bạn gái điếm của Sandrine có lần bảo tôi
giống Annie Lee, Sandrine tát cô ta làm cô ta im miệng. Có thể mai mốt
khi lớn lên tôi sẽ hỏi Sandrine xem Annie Lee là ai.
Căn hộ của chúng tôi ở khu 11 rất cơ bản. Tất cả mọi cửa sổ đều mở vào
một khoảng sân chung với những cửa sổ khác. Khi tắt đèn, chúng tôi có
thể thấy đời sống của người khác phô bày lộ liễu. Đời sống một người
cũng như đoạn phim quay chậm, và tôi chứng kiến láng giềng tôi cãi cọ,
làm hòa, ân ái, và chiên thịt. Tôi có thể đoan chắc một trong những
người láng giềng của tôi không hạnh phúc, vì ông ta ngồi cạnh cái điện
thoại, chốc chốc lại cầm lên nghe thử xem có tiếng vo vo quen thuộc
không, nhưng cái điện thoại ấy không bao giờ reo khi người đàn ông ấy
ở nhà. Michel bảo vợ của người đàn ông ấy bỏ đi, và nếu có lúc nào đó
tôi không biết cầu nguyện cho ai, tôi nên cầu nguyện cho người đàn ông
ấy.
Tôi nghe tiếng chìa của Michel vặn khóa.
"Chúc mừng sinh nhật, Đậu Phụng!" là những chữ đầu tiên thoát khỏi cửa
miệng Michel. Ông ta hôn lên hai má tôi và bảo tôi sửa soạn. Tôi tắt
ti vi và tìm đôi giầy cũ sau cánh cửa. Chúng không có ở đó. Michel vừa
mồi điếu thuốc vừa cười.
"Tìm dưới gầm giường xem có không." ông nói.
Tôi đoán đúng, và tôi reo lên từ trong phòng ngủ để Michel biết tôi đã
tìm thấy. Tôi muốn biết đôi giầy có vừa chân không. Tôi thích cái mùi
của giầy mới.
Tối nay tôi mong mỏi sẽ được ăn một cái hamburger kiểu Mỹ loại mà ba
tôi có lẽ rất ưa chuộng. Có thể chúng tôi sẽ đi xem một phim Mỹ. Men
in Black II đang chiếu khắp Paris. Khi tôi bấm máy hát và nhìn mặt
mình trong gương, tôi nghe tiếng mở nút chai trong nhà bếp và tiếng
vài người hàng xóm reo vui qua những khung cửa sổ mở rộng.
Michel gõ cửa và ló đầu qua khung cửa.
"Prêt?" ông nói, và tôi bảo mình đi thôi.
Chúng tôi cầm tay nhau đi trong ánh chiều tà. Paris không bao giờ tối
hẳn bởi vì khi ánh sáng của ban ngày tan đi, chúng tôi lại có ánh đèn
đường – thường rất rực rỡ - gắn trên những cột đèn cao mầu đen, mỗi
ngọn đèn là một đôi bóng trắng tỏa sáng thân thiết suốt chiều dài con
phố. Đôi khi chúng thắp sáng cùng một lúc, như thể cùng với nhau chúng
có thể xua tan bóng đêm.
Tôi biết Michel thích cầm tay tôi, nhưng bây giờ tôi lớn rồi, chuyện
ấy không còn hợp nữa, thay vào đó, Michel hút thuốc và bảo tôi dù đời
tôi có trôi giạt đến đâu, ông cũng sẽ luôn nhớ đến tôi một cách chân
tình.
Tôi thầm hỏi Michel có phải là một nhà thơ nổi tiếng không. Thầy giáo
tôi bảo thi sĩ xuất thân từ mọi nẻo đời và tài năng của họ do trời ban
cho. Tôi tự hỏi không biết người ta rồi có vây quanh mộ của Michel ở
nghĩa trang Père-Lachaise vài trăm năm sau. Tôi tự hỏi không biết
người ta có đặt những câu thơ họ viết bên bia mộ của Michel và thầm
cám ơn ông đã gửi đến họ những con chim nhỏ, hót cho họ nghe trong
những phút giây đen tối của cuộc đời.
Michel mua vé coi phim bằng tiền lẻ để dành trong chai rượu. Cô bán
hàng không tỏ vẻ khó chịu. Con mắt trái cô ta bị lé. Cô ta luồn tấm vé
ra cho Michel mà không đếm đống tiền cắc. Cô ta nhìn cái sẹo của
Michel lúc chúng tôi đi lướt qua khung kính quầy vé. Michel đưa vé cho
người soát vé. Hắn ta xé đôi tấm vé. Michel bảo giữ lại cái đuôi vé
nên tôi mở ví và mảnh bản đồ Argentina rơi ra. Michel nhanh nhẹn nhặt
lên ngắm nghía. Tôi vồ vội lấy miếng giấy và nhét vào ví.
"Những con chim nhỏ của Đậu Phụng." Ông cười.
Rồi chúng tôi vào chỗ ngồi và tan biến vào cuốn phim đang chiếu.
Lưu Diệu Vân & Hoàng Chính
chuyển ngữ từ nguyên bản Little Birds
trong tập truyện The Secret Lives of People in Love)
Source : www.hopluu.net.
Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010
ĐỖ QUYÊN - Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức Hậu hiện đại Việt
(Tham luận )
Đến trường phái thơ Việt
từ cảm thức Hậu hiện đại Việt
ĐỖ QUYÊN
Vài năm nay, người Việt ở khắp nơi, trong và cả ngoài văn giới, tranh luận rất nhiều về trào lưu Hậu hiện đại (Postmodernism) như một nan đề. Dù đồng ý hay không đồng ý với nó, ai cũng mong muốn cần đổi mới trong xu hướng văn chương của Việt Nam và mang tinh thần thế giới.
Theo dòng chảy của tri thức và sinh hoạt văn hóa, các trường phái văn nghệ sinh ra là để... chết. Chết khi hết vai trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch của riêng mình.
Nói về trường-phái-nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách, hơn một thế kỷ qua ở Tây phương, nhất là Pháp, Mỹ đã từng rực rỡ biết bao mặt-trời-thơ nhỏ to khác nhau. Với thơ Việt, từ sau thời Thơ Mới tới thời hiện đại rồi Hậu hiện đại, cũng đôi lúc lấp lánh các vì sao lạ, dự phần tỏa sáng bầu trời thơ ca nước nhà.
Trước 1975: Hai “khuôn viên văn nghệ” là nhóm thơ Bình Định 1936-45 (đưa tới trường thơ Loạn) và nhóm Sáng Tạo 1956-65 đều không là các tập hợp văn học về thi pháp có tính cách mạng mỹ học như hai nhóm Xuân Thu Nhã Tập 1939-42 (cả lý thuyết và thực hành), và nhóm Dạ Đài (với tuyên ngôn Tượng trưng 1946, được hội thảo quốc tế 2006 của Viện Văn học Việt Nam 1 xem xét - có lẽ lần đầu? - như một thi phái Việt chưa kịp thực hành.)
Sau 1975: Nhóm thơ Tân hình thức Việt 2 với lý thuyết và thực hành gây tiếng vang đáng kể trong thi giới, từ ngoài nước tới trong nước, kể từ năm 2000 đến nay. Mới nhất là tuyển tập song ngữ Thơ Kể - Poetry Narrates (NXB Lao Động, 5-2010) với 22 tác giả Việt toàn cầu. Đây là tuyển tập thứ hai, và là đầu tiên in ở trong nước, của thơ Tân hình thức Việt. Nhóm thơ Mở Miệng ra đời 2001, tạo “tăm tiếng cùng tai tiếng” trên báo chí, trang mạng văn nghệ các năm 2003-06 và cả tới nay, nhưng chủ yếu là ở các vấn đề “ngoài thơ”.
Đã mươi năm rồi, một cao trào – với đúng nghĩa của nó – mang tên Hậu hiện đại, được thực hiện ở văn học Việt, nhất là thơ và tiểu thuyết, trong lẫn ngoài hình chữ S, có tới hàng chục người viết cứng cỏi. Ngay trong dòng chính cũng ngày một tăng, với Nguyễn Bình Phương và Mai Văn Phấn, với Inrasara và Thuận, với Nguyễn Quang Thiều và Lê Anh Hoài, v.v... Đó là chưa tính các tay bút vang danh từ thời Đổi mới có các dấu hiệu Hậu hiện đại như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài...
Về sách xuất bản, dù chưa nhiều để giới sáng tác tham chiếu, cũng đã có một số khảo cứu, giới thiệu vấn đề Hậu hiện đại của các nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc, Trần Quang Thái, Hoàng Ngọc-Tuấn, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân... và sách dịch của các dịch giả Ngân Xuyên, Nguyễn Ước, Trần Tiễn Cao Đăng...
Lãnh vực phê bình văn học và phê bình truyền thông cũng đạt mức trào lưu với đóng góp hữu hiệu của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên... Có lẽ chỉ còn yếu về phê bình hàn lâm, nghiên cứu bài bản, giảng dạy khoa bảng?
Nhưng, tư duy Hậu hiện đại Việt vẫn còn như một thách đố, chưa được nhiều người sáng tác, phê bình và nhất là độc giả nhìn nhận là cơ sở của một dòng văn-học-thật. Mà bị coi như thứ dị ứng xã hội bằng chữ nghĩa, như lối quậy phá văn chương truyền thống, mẫu mực và hiện đại, hay như một thứ giả-văn-học. Qua một số bài vở đáng chú ý gần đây (Những bài giới thiệu các nhà thơ Hậu hiện đại Việt của nhà thơ-nhà bình luận Inrasara 3; Phỏng vấn trên báo mạng Tổ Quốc và trên Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn VN) của nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh; Mới nhất là thảo luận bàn tròn trên mạng của nhà thơ Phan Nhiên Hạo 4), chúng tôi thấy cái khó ló ra từ văn hóa tiếp nhận, từ cách đọc của người Việt, chứ chưa hẳn do văn phong hay nội dung của văn chương Hậu hiện đại Việt.
Chẳng hạn... Câu hỏi dễ nảy ra: trong 18 thi sĩ của danh-sách-Inrasara ở cuốn “Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại”, những ai Hiện đại, những ai Hậu hiện đại, những ai từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, và đoán trước những ai Hậu hậu hiện đại?
Rồi đến việc mỗi tác phẩm, ngay cả của một tác giả, thường có một bút pháp riêng. Ai cũng kêu trời đất rằng, Hậu hiện đại quá nhiều sách vở lý thuyết, cuốn nọ cãi cuốn kia. Nó đa thanh tới mức không thể đồng thanh trong một lý thuyết văn hóa chỉnh tề.
Còn ý thức Hậu hiện đại? Lưng lạc đà chất gì lên cũng được! Không là trường phái, Hậu hiện đại không có phương pháp luận ổn định và nghiệm đúng cho mọi tác giả, cho mọi tác phẩm của một tác giả. Không chừng đó là “Phản Hậu hiện đại”? Mà Phản Hậu hiện đại lại chính là Hậu hiện đại! Trong tất cả các khuynh hướng của văn thơ, chắc chỉ Hậu hiện đại chấp nhận sự phản?
Lại còn một loại phản biện khác, rất là... Hậu hiện đại: “Không cần cổ xúy nữa! Trò chơi Hậu hiện đại đâu còn mới mẻ với các tác giả Việt Nam. Ngay ở chính quốc của thơ Hậu hiện đại là Mỹ, nó đã đi xuống vài chục năm rồi!” Đó là logic rất thường trực trong mọi tranh luận, ở các nơi sự kiện xảy ra sau và các chốn chậm phát triển. Một logic không công bằng! Thuận lý mà bất tình. Là nơi có sở đoản về học thuyết, đương nhiên châu Á và Việt Nam sẽ mãi đi sau phương Tây trong các trào lưu, nhóm phái. (Nếu không muốn nói theo lối cũ: chủ thuyết của phương Đông là không chủ thuyết!) Nhưng không vì thế khi thấy họ bỏ, mình cũng bỏ theo, dù chưa dùng hết cho hợp với xã hội mình, con người mình. Hậu hiện đại Mỹ đi vào thoái trào, xét cho cùng, là việc của người Mỹ. Dân Việt nếu như bỗng “xông lên” cao trào Hậu hiện đại Việt, lại là câu chuyện khác!
Qua biết bao bàn thảo, với chúng tôi, điều “chốt” lại là lập luận như sau của nhà nghiên cứu người Nga Konstantin Kornev 5: “Chủ nghĩa Hậu hiện đại đem lại cho con người phương Đông cơ hội chiến thắng văn hóa Tây phương trong chính mình, chiến thắng tính duy lý Tây phương đã bóp méo ý thức hắn, nhờ chính thuốc trị Tây phương. (...) Như vậy, Hậu hiện đại có hai bộ mặt – Đông và Tây. Cái ở phương Tây là sự tự hủy, thì ở phương Đông lại là sự giải phóng và sự trở về mình.”
Thiết nghĩ, xã hội Việt và văn học Việt có thể còn dai dẳng với các điều kiện Hậu hiện đại 10-20 năm nữa.
Thi ca là triết học cất cánh, bay vào hoặc bay ra trái tim người.
Chúng ta cần có một chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-khác-lạ của thơ ca Việt Nam mà trước đây nó chưa đi hết, đến nay nó chưa đi tới...
Văn hóa nào cũng có thơ ca làm tinh hoa. Từ lâu chúng ta thường an phận rằng, văn hóa Việt không có luận thuyết theo quan niệm phương Tây. Trong bốn nhóm, trường thơ Việt Nam xứng danh mà chúng tôi thử đề xuất – đó là: nhóm thơ Bình Định/trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài và nhóm Tân hình thức Việt, thiển nghĩ, nhóm Xuân Thu Nhã Tập 6 đến nay duy nhất có lý thuyết thơ hài-hòa-Đông-Tây và thực hành đủ thuyết phục về chất-thơ; thế nhưng trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả. Trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên ngắm và tôn thờ.
Chỉ trong mười năm qua, cũng đã có thêm một số khởi xướng, tìm hiểu và thử nghiệm về cách-làm-thơ-Việt, của những tác giả độc lập chưa được, hay chưa thể, trở thành “trường phái” hoặc trở nên có lý luận. Với sự theo dõi hạn hẹp, chúng tôi muốn dẫn ra các điển hình như Lý thuyết Cấu của nhà thơ-nhà lý luận Khải Minh 7, các thủ pháp, kỹ thuật mới như Thơ phụ âm của nhà thơ Đặng Thân 8, Thơ thực hiện của nhà thơ Nguyễn Tôn Hiệt 9, và của đôi ba thi sĩ khác nữa mà hầu hết đều chuyên chở các yếu tố Hậu hiện đại.
Cuối cùng, xin mạnh dạn đề nghị “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài” lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam! 10
Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn 11, “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.
Với thống kê sơ bộ còn nhiều thiếu sót, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam của chúng tôi cho thấy, kể từ thời Thơ Mới tới nay, có 123 nhà thơ Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương. Trong danh sách này, một cách tương đối, có thể xem Phạm Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng “Tiếng Địch Sông Ô” ra đời năm 1935, và mới nhất là Trương Thìn với “Mấy Cõi Rong Vui” vừa ra mắt ở TP HCM vào giữa tháng 5/2010. (Mời coi phần Phụ Lục).
Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-75 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu... được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều... Còn Trần Dần và Lê Đạt - hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt - thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.
Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ12. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt Hậu hiện đại.
Văn giới Việt đang tung mở. Thi hứng Việt đang bung nở. Thúc đẩy các khuynh hướng, trào lưu thơ Việt đương đại cũng là hiện đại hóa một dân tộc thi sĩ, một đất nước thơ ca.
Vì một dòng thi ca Việt Nam trên cơ sở của lý thuyết, của phương pháp!
Để cùng dựng lên Làng Thơ Việt trong Làng Văn hóa Toàn cầu... *)
Canada & Việt Nam, 1/12/2009 – 7/7/2010
ĐỖ QUYÊN
*) Tu chỉnh từ Tham luận cho “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài 4—10/1/2010, Hà Nội, Việt Nam; và bổ sung phần Phụ Lục so với bản đã đăng trên Tạp chí Sông Hương số 257, tháng 7/2010.
Tài liệu tham khảo:
1 Hồ Thế Hà: Quan niệm về thơ của nhóm Dạ đài (vienvanhoc.org.vn)
2 Đặng Tiến: “Tân hình thức nhịp đập của thời đại” (thotanhinhthuc.org)
3 Inrasara: Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại (inrasara.com)
4 Phan Nhiên Hạo: Văn chương hôm nay nhìn từ ngoài lề (litviet.com)
5 Konstantin Kornev (Ngân Xuyên dịch): Chủ nghĩa Hậu hiện đại phương Tây và phương Đông (chungta.com)
6 Lê Thụy Tường Vi: Chủ nghĩa siêu thực và Xuân Thu Nhã Tập (khoavanhoc-ngonngu.edu.vn)
7 Khải Minh: Ngày nào thơ Việt Nam chưa có lý thuyết mới thì… (vanhocnghethuat.org)
8 Đặng Thân: Thơ phụ âm (alliteration) [& tôi] (tienve.org)
9 Nguyễn Tôn Hiệt: Tuyên ngôn về Thơ Thực hiện (tienve.org)
10 Đỗ Quyên: “Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức trường ca Việt” (Bản thảo tiểu luận)
11 Chu Văn Sơn: Thanh Thảo với trường ca (vietvan.vn)
12 Diêu Thị Lan Phương: Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại (vienvanhoc.org)
PHỤ LỤC:
123 Tác giả trường ca Việt Nam –
Danh sách phác thảo
(Trích bản thảo sách “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”)
Đây đang là phác thảo cho một công việc không dễ dàng - và có lẽ là lần đầu tiên? - về khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam”.
Ngoài một số rất ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi hiện là các trang mạng, vì không thể về Việt Nam thường xuyên để cập nhật sách báo đã xuất bản. Thành thật xin lỗi về các thiếu sót chắc sẽ có ở mọi mặt, như tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản, v.v… - nhất là với các tác giả hiện chưa có trong danh sách này!
Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp cũng như thông tin về tác phẩm, tác giả trường ca Việt Nam. Các ý tưởng, thảo luận và bài vở thích hợp – khi được người gửi cho phép - có thể tham gia làm nội dung của cuốn sách. Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của quý vị tác giả và bạn văn gần xa!
Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên, email: truongcaviet@yahoo.com
Vancouver, cập nhật 7/7/2010
1. Thụy An
2. Duyên Anh
3. Lê Ngọc Bảo
4. Nguyễn Bính
5. Thu Bồn
6. Văn Cao
7. Hoàng Cầm
8. Hoàng Đình Chiến
9. Phan Đức Chính
10. Vũ Thành Chung
11. Hoàng Trần Cương
12. Võ Tấn Cường
13. Trần Dần
14. Xuân Diệu
15. Phạm Tiến Duật
16. Khương Hữu Dụng
17. Nguyễn Duy
18. Lê Đạt
19. Nguyễn Khoa Điềm
20. Nguyễn Hoàng Đức
21. Hoàng Văn Đức
22. Thái Giang
23. Trần Mạnh Hảo
24. Ngọc Thiên Hoa
25. Lưu Quốc Hòa
26. Trần Ninh Hồ
27. Phan Hoàng
28. Thi Hoàng
29. Trần Nghi Hoàng
30. Xuân Hoàng
31. Trần Quang Hiển
32. Cầm Hùng (Thái)
33. Vũ Trọng Hùng
34. Vũ Xuân Hương
35. Tố Hữu
36. Inrasara
37. Ngô Kha
38. Nguyễn Thụy Kha
39. Vũ Anh Khanh
40. Cao Đông Khánh
41. Nguyễn Linh Khiếu
42. Trần Đăng Khoa
43. Huyền Kiêu
44. Trần Tuấn Kiệt
45. Đỗ Trung Lai
46. Du Tử Lê
47. Vĩnh Quang Lê
48. Tam Lệ
49. Viên Linh
50. Hữu Loan
51. Thái Thăng Long
52. Trần Vũ Mai
53. Thế Mạc
54. Nguyễn Đức Mậu
55. Lê Thị Mây
56. Nguyễn Nhật Minh
57. Trần Quốc Minh
58. Trần Hồng Minh
59. Trần Nhuận Minh
60. Giang Nam
61. Liên Nam
62. Ngô Quang Nam
63. Phạm Ngà
64. Nh. Tay Ngàn
65. Anh Ngọc
66. Tô Nhuần
67. Trần Nhương
68. Vũ Đình Ninh
69. Nguyễn Anh Nông
70. Đỗ Xuân Oanh
71. Mai Văn Phấn
72. Nguyễn Khắc Phục
73. Hoài Quang Phương
74. Trúc Phương
75. Viễn Phương
76. Y Phương
77. Lê Huy Quang
78. Phùng Quán
79. Thường Quán
80. Hoàng Quý
81. Lê Minh Quốc
82. Nguyễn Hữu Quý
83. Đỗ Quyên
84. Trần Vàng Sao
85. Lê Ái Siêm
86. Lê Quang Sinh
87. Nguyễn Thái Sơn
88. Lê Vĩnh Tài
89. Nguyễn Văn Tao
90. Nguyễn Trọng Tạo
91. Vương Tâm
92. Kiệt Tấn
93. Tô Ngọc Thạch
94. Mai Nam Thắng
95. Trần Anh Thái
96. Thanh Thảo
97. Nguyễn Đình Thi
98. Quỳnh Thi
99. Nguyễn Quang Thiều
100. Trương Thìn
101. Hữu Thỉnh
102. Phạm Huy Thông
103. Dương Thuấn
104. Đinh Thị Như Thúy
105. Nguyễn Quang Thuyên
106. Phạm Thiên Thư
107. Trần Mạnh Thường
108. Nguyễn Vũ Tiềm
109. Từ Nguyên Tĩnh
110. Hoàng Bình Trọng
111. Vương Trọng
112. Phạm Xuân Trường
113. Thanh Tùng
114. Phạm Nguyên Tường
115. Vũ Xuân Tửu
116. Nguyễn Thế Vinh
117. Trần Thế Vinh
118. Phan Vũ
119. Tạ Vũ
120. Vũ Anh Vũ
121. Lê Anh Xuân
122. Lý Hoài Xuân
123. Ngu Yên
--------------------------------------------------------------------------------
Source : Dien Dan Forum
diendan@diendan.org
Đến trường phái thơ Việt
từ cảm thức Hậu hiện đại Việt
ĐỖ QUYÊN
Vài năm nay, người Việt ở khắp nơi, trong và cả ngoài văn giới, tranh luận rất nhiều về trào lưu Hậu hiện đại (Postmodernism) như một nan đề. Dù đồng ý hay không đồng ý với nó, ai cũng mong muốn cần đổi mới trong xu hướng văn chương của Việt Nam và mang tinh thần thế giới.
Theo dòng chảy của tri thức và sinh hoạt văn hóa, các trường phái văn nghệ sinh ra là để... chết. Chết khi hết vai trò. Và lưu lại trên sân sáng tạo của ngôi nhà nhân loại một viên gạch của riêng mình.
Nói về trường-phái-nhóm thơ theo cùng thi pháp, phong cách, hơn một thế kỷ qua ở Tây phương, nhất là Pháp, Mỹ đã từng rực rỡ biết bao mặt-trời-thơ nhỏ to khác nhau. Với thơ Việt, từ sau thời Thơ Mới tới thời hiện đại rồi Hậu hiện đại, cũng đôi lúc lấp lánh các vì sao lạ, dự phần tỏa sáng bầu trời thơ ca nước nhà.
Trước 1975: Hai “khuôn viên văn nghệ” là nhóm thơ Bình Định 1936-45 (đưa tới trường thơ Loạn) và nhóm Sáng Tạo 1956-65 đều không là các tập hợp văn học về thi pháp có tính cách mạng mỹ học như hai nhóm Xuân Thu Nhã Tập 1939-42 (cả lý thuyết và thực hành), và nhóm Dạ Đài (với tuyên ngôn Tượng trưng 1946, được hội thảo quốc tế 2006 của Viện Văn học Việt Nam 1 xem xét - có lẽ lần đầu? - như một thi phái Việt chưa kịp thực hành.)
Sau 1975: Nhóm thơ Tân hình thức Việt 2 với lý thuyết và thực hành gây tiếng vang đáng kể trong thi giới, từ ngoài nước tới trong nước, kể từ năm 2000 đến nay. Mới nhất là tuyển tập song ngữ Thơ Kể - Poetry Narrates (NXB Lao Động, 5-2010) với 22 tác giả Việt toàn cầu. Đây là tuyển tập thứ hai, và là đầu tiên in ở trong nước, của thơ Tân hình thức Việt. Nhóm thơ Mở Miệng ra đời 2001, tạo “tăm tiếng cùng tai tiếng” trên báo chí, trang mạng văn nghệ các năm 2003-06 và cả tới nay, nhưng chủ yếu là ở các vấn đề “ngoài thơ”.
Đã mươi năm rồi, một cao trào – với đúng nghĩa của nó – mang tên Hậu hiện đại, được thực hiện ở văn học Việt, nhất là thơ và tiểu thuyết, trong lẫn ngoài hình chữ S, có tới hàng chục người viết cứng cỏi. Ngay trong dòng chính cũng ngày một tăng, với Nguyễn Bình Phương và Mai Văn Phấn, với Inrasara và Thuận, với Nguyễn Quang Thiều và Lê Anh Hoài, v.v... Đó là chưa tính các tay bút vang danh từ thời Đổi mới có các dấu hiệu Hậu hiện đại như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài...
Về sách xuất bản, dù chưa nhiều để giới sáng tác tham chiếu, cũng đã có một số khảo cứu, giới thiệu vấn đề Hậu hiện đại của các nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Hưng Quốc, Trần Quang Thái, Hoàng Ngọc-Tuấn, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân... và sách dịch của các dịch giả Ngân Xuyên, Nguyễn Ước, Trần Tiễn Cao Đăng...
Lãnh vực phê bình văn học và phê bình truyền thông cũng đạt mức trào lưu với đóng góp hữu hiệu của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên... Có lẽ chỉ còn yếu về phê bình hàn lâm, nghiên cứu bài bản, giảng dạy khoa bảng?
Nhưng, tư duy Hậu hiện đại Việt vẫn còn như một thách đố, chưa được nhiều người sáng tác, phê bình và nhất là độc giả nhìn nhận là cơ sở của một dòng văn-học-thật. Mà bị coi như thứ dị ứng xã hội bằng chữ nghĩa, như lối quậy phá văn chương truyền thống, mẫu mực và hiện đại, hay như một thứ giả-văn-học. Qua một số bài vở đáng chú ý gần đây (Những bài giới thiệu các nhà thơ Hậu hiện đại Việt của nhà thơ-nhà bình luận Inrasara 3; Phỏng vấn trên báo mạng Tổ Quốc và trên Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn VN) của nhà nghiên cứu Trần Thiện Khanh; Mới nhất là thảo luận bàn tròn trên mạng của nhà thơ Phan Nhiên Hạo 4), chúng tôi thấy cái khó ló ra từ văn hóa tiếp nhận, từ cách đọc của người Việt, chứ chưa hẳn do văn phong hay nội dung của văn chương Hậu hiện đại Việt.
Chẳng hạn... Câu hỏi dễ nảy ra: trong 18 thi sĩ của danh-sách-Inrasara ở cuốn “Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại”, những ai Hiện đại, những ai Hậu hiện đại, những ai từ Hiện đại đến Hậu hiện đại, và đoán trước những ai Hậu hậu hiện đại?
Rồi đến việc mỗi tác phẩm, ngay cả của một tác giả, thường có một bút pháp riêng. Ai cũng kêu trời đất rằng, Hậu hiện đại quá nhiều sách vở lý thuyết, cuốn nọ cãi cuốn kia. Nó đa thanh tới mức không thể đồng thanh trong một lý thuyết văn hóa chỉnh tề.
Còn ý thức Hậu hiện đại? Lưng lạc đà chất gì lên cũng được! Không là trường phái, Hậu hiện đại không có phương pháp luận ổn định và nghiệm đúng cho mọi tác giả, cho mọi tác phẩm của một tác giả. Không chừng đó là “Phản Hậu hiện đại”? Mà Phản Hậu hiện đại lại chính là Hậu hiện đại! Trong tất cả các khuynh hướng của văn thơ, chắc chỉ Hậu hiện đại chấp nhận sự phản?
Lại còn một loại phản biện khác, rất là... Hậu hiện đại: “Không cần cổ xúy nữa! Trò chơi Hậu hiện đại đâu còn mới mẻ với các tác giả Việt Nam. Ngay ở chính quốc của thơ Hậu hiện đại là Mỹ, nó đã đi xuống vài chục năm rồi!” Đó là logic rất thường trực trong mọi tranh luận, ở các nơi sự kiện xảy ra sau và các chốn chậm phát triển. Một logic không công bằng! Thuận lý mà bất tình. Là nơi có sở đoản về học thuyết, đương nhiên châu Á và Việt Nam sẽ mãi đi sau phương Tây trong các trào lưu, nhóm phái. (Nếu không muốn nói theo lối cũ: chủ thuyết của phương Đông là không chủ thuyết!) Nhưng không vì thế khi thấy họ bỏ, mình cũng bỏ theo, dù chưa dùng hết cho hợp với xã hội mình, con người mình. Hậu hiện đại Mỹ đi vào thoái trào, xét cho cùng, là việc của người Mỹ. Dân Việt nếu như bỗng “xông lên” cao trào Hậu hiện đại Việt, lại là câu chuyện khác!
Qua biết bao bàn thảo, với chúng tôi, điều “chốt” lại là lập luận như sau của nhà nghiên cứu người Nga Konstantin Kornev 5: “Chủ nghĩa Hậu hiện đại đem lại cho con người phương Đông cơ hội chiến thắng văn hóa Tây phương trong chính mình, chiến thắng tính duy lý Tây phương đã bóp méo ý thức hắn, nhờ chính thuốc trị Tây phương. (...) Như vậy, Hậu hiện đại có hai bộ mặt – Đông và Tây. Cái ở phương Tây là sự tự hủy, thì ở phương Đông lại là sự giải phóng và sự trở về mình.”
Thiết nghĩ, xã hội Việt và văn học Việt có thể còn dai dẳng với các điều kiện Hậu hiện đại 10-20 năm nữa.
Thi ca là triết học cất cánh, bay vào hoặc bay ra trái tim người.
Chúng ta cần có một chương trình nghiên cứu hệ thống và thực dụng về các hướng đi mới-khác-lạ của thơ ca Việt Nam mà trước đây nó chưa đi hết, đến nay nó chưa đi tới...
Văn hóa nào cũng có thơ ca làm tinh hoa. Từ lâu chúng ta thường an phận rằng, văn hóa Việt không có luận thuyết theo quan niệm phương Tây. Trong bốn nhóm, trường thơ Việt Nam xứng danh mà chúng tôi thử đề xuất – đó là: nhóm thơ Bình Định/trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài và nhóm Tân hình thức Việt, thiển nghĩ, nhóm Xuân Thu Nhã Tập 6 đến nay duy nhất có lý thuyết thơ hài-hòa-Đông-Tây và thực hành đủ thuyết phục về chất-thơ; thế nhưng trên thực tế vẫn bị xem là không thành quả. Trái thơ Xuân Thu Nhã Tập hậu thế khó ăn nổi, chỉ nên ngắm và tôn thờ.
Chỉ trong mười năm qua, cũng đã có thêm một số khởi xướng, tìm hiểu và thử nghiệm về cách-làm-thơ-Việt, của những tác giả độc lập chưa được, hay chưa thể, trở thành “trường phái” hoặc trở nên có lý luận. Với sự theo dõi hạn hẹp, chúng tôi muốn dẫn ra các điển hình như Lý thuyết Cấu của nhà thơ-nhà lý luận Khải Minh 7, các thủ pháp, kỹ thuật mới như Thơ phụ âm của nhà thơ Đặng Thân 8, Thơ thực hiện của nhà thơ Nguyễn Tôn Hiệt 9, và của đôi ba thi sĩ khác nữa mà hầu hết đều chuyên chở các yếu tố Hậu hiện đại.
Cuối cùng, xin mạnh dạn đề nghị “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài” lưu tâm một đề tài xứng đáng làm vùng sáng trong thơ Việt, cần được thể hiện trên văn đàn quốc tế. Đó là trào lưu trường ca Việt Nam! 10
Quan niệm rằng, thể loại như một thi pháp, cảm hứng chủ đạo như một phương pháp, chúng tôi chia sẻ cùng nhận định của nhà nghiên cứu văn học Chu Văn Sơn 11, “về thể loại, sự bùng nổ của trường ca có lẽ là hiện tượng đáng kể nhất của thơ Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 20 đến giờ”.
Với thống kê sơ bộ còn nhiều thiếu sót, danh sách tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam của chúng tôi cho thấy, kể từ thời Thơ Mới tới nay, có 123 nhà thơ Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài có ý nghĩa tương đương. Trong danh sách này, một cách tương đối, có thể xem Phạm Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng “Tiếng Địch Sông Ô” ra đời năm 1935, và mới nhất là Trương Thìn với “Mấy Cõi Rong Vui” vừa ra mắt ở TP HCM vào giữa tháng 5/2010. (Mời coi phần Phụ Lục).
Đội ngũ các nhà trường ca Việt đó từng có cả một “trung đội” lừng danh từ những năm tháng khói lửa chiến tranh 1962-75 và sau đó vài năm là Thu Bồn và Thanh Thảo, là Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh, là Anh Ngọc và Nguyễn Đức Mậu... được nối tiếp tới thời hậu chiến là những Trần Mạnh Hảo và Thi Hoàng, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Trần Cương, Trần Anh Thái và Nguyễn Quang Thiều... Còn Trần Dần và Lê Đạt - hai tác giả quan trọng khác của trường ca Việt - thì đã đưa thể loại văn học ngoại cỡ này tới tầm kích lạ lẫm về ngôn từ và sâu sắc về nhân sinh. Ở ngoài nước, ít ỏi không thành phong trào, nhưng cũng có các tác giả với những đóng góp thay đổi cần thiết về cả hình thức, cấu tứ lẫn nội dung, cảm hứng của trường ca Việt; đó là Du Tử Lê và Cao Đông Khánh, là Trần Nghi Hoàng và Đỗ Quyên.
Trường-phái-trường-ca-Việt-Nam – nếu có thể gọi như vậy – đặc sắc và Việt tính! Đó không là một tập hợp có chủ định, có đường hướng của nhóm các thi sĩ chung phương pháp, quan niệm theo một nhóm phái thông thường. Đó là phản ứng dây chuyền sáng tạo“đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có ý thức của từng nghệ sĩ hòa cùng cảm xúc tráng ca của đất nước và sử thi của dân tộc trong một thời đại bi hùng của nhân loại. Qua thập niên đầu thế kỷ 21, con sông trường ca Việt hiện đại ấy cũng trở mình theo tâm thức chung của văn học Việt Nam và thế giới, từ thể tài, cấu trúc đến giọng điệu, ngôn ngữ12. Và, lẽ tự nhiên, đã có không ít biểu hiện của trường ca Việt mang gương mặt Hậu hiện đại.
Văn giới Việt đang tung mở. Thi hứng Việt đang bung nở. Thúc đẩy các khuynh hướng, trào lưu thơ Việt đương đại cũng là hiện đại hóa một dân tộc thi sĩ, một đất nước thơ ca.
Vì một dòng thi ca Việt Nam trên cơ sở của lý thuyết, của phương pháp!
Để cùng dựng lên Làng Thơ Việt trong Làng Văn hóa Toàn cầu... *)
Canada & Việt Nam, 1/12/2009 – 7/7/2010
ĐỖ QUYÊN
*) Tu chỉnh từ Tham luận cho “Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài 4—10/1/2010, Hà Nội, Việt Nam; và bổ sung phần Phụ Lục so với bản đã đăng trên Tạp chí Sông Hương số 257, tháng 7/2010.
Tài liệu tham khảo:
1 Hồ Thế Hà: Quan niệm về thơ của nhóm Dạ đài (vienvanhoc.org.vn)
2 Đặng Tiến: “Tân hình thức nhịp đập của thời đại” (thotanhinhthuc.org)
3 Inrasara: Thơ Việt, từ Hiện đại đến Hậu hiện đại (inrasara.com)
4 Phan Nhiên Hạo: Văn chương hôm nay nhìn từ ngoài lề (litviet.com)
5 Konstantin Kornev (Ngân Xuyên dịch): Chủ nghĩa Hậu hiện đại phương Tây và phương Đông (chungta.com)
6 Lê Thụy Tường Vi: Chủ nghĩa siêu thực và Xuân Thu Nhã Tập (khoavanhoc-ngonngu.edu.vn)
7 Khải Minh: Ngày nào thơ Việt Nam chưa có lý thuyết mới thì… (vanhocnghethuat.org)
8 Đặng Thân: Thơ phụ âm (alliteration) [& tôi] (tienve.org)
9 Nguyễn Tôn Hiệt: Tuyên ngôn về Thơ Thực hiện (tienve.org)
10 Đỗ Quyên: “Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức trường ca Việt” (Bản thảo tiểu luận)
11 Chu Văn Sơn: Thanh Thảo với trường ca (vietvan.vn)
12 Diêu Thị Lan Phương: Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại (vienvanhoc.org)
PHỤ LỤC:
123 Tác giả trường ca Việt Nam –
Danh sách phác thảo
(Trích bản thảo sách “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”)
Đây đang là phác thảo cho một công việc không dễ dàng - và có lẽ là lần đầu tiên? - về khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam”.
Ngoài một số rất ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi hiện là các trang mạng, vì không thể về Việt Nam thường xuyên để cập nhật sách báo đã xuất bản. Thành thật xin lỗi về các thiếu sót chắc sẽ có ở mọi mặt, như tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản, v.v… - nhất là với các tác giả hiện chưa có trong danh sách này!
Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp cũng như thông tin về tác phẩm, tác giả trường ca Việt Nam. Các ý tưởng, thảo luận và bài vở thích hợp – khi được người gửi cho phép - có thể tham gia làm nội dung của cuốn sách. Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của quý vị tác giả và bạn văn gần xa!
Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên, email: truongcaviet@yahoo.com
Vancouver, cập nhật 7/7/2010
1. Thụy An
2. Duyên Anh
3. Lê Ngọc Bảo
4. Nguyễn Bính
5. Thu Bồn
6. Văn Cao
7. Hoàng Cầm
8. Hoàng Đình Chiến
9. Phan Đức Chính
10. Vũ Thành Chung
11. Hoàng Trần Cương
12. Võ Tấn Cường
13. Trần Dần
14. Xuân Diệu
15. Phạm Tiến Duật
16. Khương Hữu Dụng
17. Nguyễn Duy
18. Lê Đạt
19. Nguyễn Khoa Điềm
20. Nguyễn Hoàng Đức
21. Hoàng Văn Đức
22. Thái Giang
23. Trần Mạnh Hảo
24. Ngọc Thiên Hoa
25. Lưu Quốc Hòa
26. Trần Ninh Hồ
27. Phan Hoàng
28. Thi Hoàng
29. Trần Nghi Hoàng
30. Xuân Hoàng
31. Trần Quang Hiển
32. Cầm Hùng (Thái)
33. Vũ Trọng Hùng
34. Vũ Xuân Hương
35. Tố Hữu
36. Inrasara
37. Ngô Kha
38. Nguyễn Thụy Kha
39. Vũ Anh Khanh
40. Cao Đông Khánh
41. Nguyễn Linh Khiếu
42. Trần Đăng Khoa
43. Huyền Kiêu
44. Trần Tuấn Kiệt
45. Đỗ Trung Lai
46. Du Tử Lê
47. Vĩnh Quang Lê
48. Tam Lệ
49. Viên Linh
50. Hữu Loan
51. Thái Thăng Long
52. Trần Vũ Mai
53. Thế Mạc
54. Nguyễn Đức Mậu
55. Lê Thị Mây
56. Nguyễn Nhật Minh
57. Trần Quốc Minh
58. Trần Hồng Minh
59. Trần Nhuận Minh
60. Giang Nam
61. Liên Nam
62. Ngô Quang Nam
63. Phạm Ngà
64. Nh. Tay Ngàn
65. Anh Ngọc
66. Tô Nhuần
67. Trần Nhương
68. Vũ Đình Ninh
69. Nguyễn Anh Nông
70. Đỗ Xuân Oanh
71. Mai Văn Phấn
72. Nguyễn Khắc Phục
73. Hoài Quang Phương
74. Trúc Phương
75. Viễn Phương
76. Y Phương
77. Lê Huy Quang
78. Phùng Quán
79. Thường Quán
80. Hoàng Quý
81. Lê Minh Quốc
82. Nguyễn Hữu Quý
83. Đỗ Quyên
84. Trần Vàng Sao
85. Lê Ái Siêm
86. Lê Quang Sinh
87. Nguyễn Thái Sơn
88. Lê Vĩnh Tài
89. Nguyễn Văn Tao
90. Nguyễn Trọng Tạo
91. Vương Tâm
92. Kiệt Tấn
93. Tô Ngọc Thạch
94. Mai Nam Thắng
95. Trần Anh Thái
96. Thanh Thảo
97. Nguyễn Đình Thi
98. Quỳnh Thi
99. Nguyễn Quang Thiều
100. Trương Thìn
101. Hữu Thỉnh
102. Phạm Huy Thông
103. Dương Thuấn
104. Đinh Thị Như Thúy
105. Nguyễn Quang Thuyên
106. Phạm Thiên Thư
107. Trần Mạnh Thường
108. Nguyễn Vũ Tiềm
109. Từ Nguyên Tĩnh
110. Hoàng Bình Trọng
111. Vương Trọng
112. Phạm Xuân Trường
113. Thanh Tùng
114. Phạm Nguyên Tường
115. Vũ Xuân Tửu
116. Nguyễn Thế Vinh
117. Trần Thế Vinh
118. Phan Vũ
119. Tạ Vũ
120. Vũ Anh Vũ
121. Lê Anh Xuân
122. Lý Hoài Xuân
123. Ngu Yên
--------------------------------------------------------------------------------
Source : Dien Dan Forum
diendan@diendan.org
Mathilde Tuyết Trần - Đọc lại Hồ Dzếnh
Đọc lại Hồ Dzếnh*
Mathilde Tuyết Trần
…“Cho nên được mang danh là nhà văn, tôi thấy thẹn thùng biết mấy!“
Hồ Dzếnh
Khép cuốn „Chân Trời Cũ“ (xuất bản năm 1942, tái bản năm 1946) lại, tôi đã đọc ngấu nghiến như thưở còn mười ba một cuốn sách cũ, tình cờ moi ra khi tìm sách chất chứa trong các thùng để trên nóc nhà, tôi thấy mình sung sướng như trẻ lại mấy mươi tuổi. Từ giai đoạn Văn thơ tiền chiến trước cái mốc 1945 đến ngày hôm nay tôi ngồi đây mơ về Hồ Dzếnh là đã sáu, bẩy mươi năm rồi còn gì. Các tên tuổi nhà văn, nhà thơ khác nổi hơn tên Hồ Dzếnh, nhưng không làm mất đi một chỗ đứng đặc biệt của ông.
Nếu Khái Hưng chỉ với một câu: „Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé…anh phải sống.“ đã giữ vững địa vị tuyệt đỉnh của mình trong Tự Lực văn đoàn, thì những ai đang yêu đương mơ mộng, ít nhất là cho đến thế hệ tôi, thường hay nhớ đến một câu thơ lãng mạn…“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân… Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề, Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở…“. Thưở ấy, cái thú yêu thương được hiểu theo nghĩa ấy, yêu mà được yêu lại, lấy nhau, sinh con đẻ cái, rồi hết yêu nhau, thế là không phải một tình yêu đẹp, một tình yêu lãng mạn. Yêu nhau, nhưng bị ngăn cách, cản trở, lại còn thấy mình yêu nồng nàn thêm, giấc mơ kéo dài thêm, không dứt. Các „người em gái“ tóc thề ngang vai thời ấy đều mơ mộng ước chi mình có được một mối tình dang dở. Đó là công trạng của những nhà văn nhà thơ thời văn học lãng mạn như Hồ Dzếnh.
Có được một chỗ đứng trong tim người trải qua nhiều thế hệ không phải là chuyện dễ. Hồ Dzếnh trả giá chỗ đứng ấy bằng cuộc đời thầm lặng, khiêm tốn, chịu đựng những mất mát, những đau thương của chính mình.
Hồ Dzếnh viết văn xuôi, làm thơ. Bài thơ „Chiều“ được Dương Thiệu Tước phổ nhạc là bài nổi tiếng nhất „Trên đường về nhớ đầy...Chiều chậm đưa chân ngày, Tiếng buồn vang trong mây... „ . Nhưng cũng còn những câu thơ khác đầy nhạc điệu trữ tình.
Cảm giác của tôi bây giờ khi đọc Hồ Dzếnh có khác cảm giác của một cô nữ sinh áo dài trắng tuổi ô mai ngày xưa, ngồi trong lớp học, vừa lơ đãng ngắm làn nắng sớm đang len lén rọi vào khung cửa sổ, vừa nghe tiếng cô giáo giảng một bài văn, giọng khi trầm khi bổng.
Những cảm giác buồn mang mác, nhẹ nhàng, tha thiết, rất thơ và rất thật tỏa ra trong các mẫu chuyện ngắn chứa đựng chân dung và cuộc đời của những nhân vật chung quanh Hồ Dzếnh, một gia đình chứa đựng hai nền văn hóa, từ nghèo lên giàu rồi lại trở thành nghèo, như cứ „lên voi xuống chó“.
Nhưng nổi bật hơn cả, ngòi bút Hồ Dzếnh viết nên một sự âu yếm, âu yếm vô cùng, cả đối với những gì gọi là không „tốt“, một người anh Cả nghiện thuốc phiện, một người anh Hai ham phiêu du, một cô em gái lỡ đàng, một người chị nuôi, một con ngựa trắng...Người viết, ngay cả những khi mình đã trưởng thành trong chuyện kể, luôn giữ ánh mắt nhìn của một đứa trẻ thơ không có tuổi, thích nũng nịu, thích bám gấu áo mẹ, cho nên tình thương toát ra từ những hàng chữ mang nét chân thật ngây thơ.
„Mẹ tôi nói dối. mẹ tôi đuổi tôi lên nhà, để mẹ tôi khóc. Lúc tôi chạy xuống bếp lục cơm ăn, thì thấy đôi mắt mẹ tôi đỏ ngầu, vạt áo ướt đẫm.
Tôi ngả vào lòng người, rồi mếu máo:
– Con không đi học nữa, mẹ ạ….“ (1)
„Chị dâu tôi phải về ở nhà quê làm việc. Ngày đưa chân, cả nhà tôi ra ga để lìa bỏ cái tỉnh thành bạc bẽo, tôi sụt sùi bảo chị dâu tôi:
– Chị chịu khó hầu mẹ nhé. Đến tết em về, em mua nhiều bánh cho cháu.
Chị tôi gật, ứa nước mắt….“ (2)
„Tôi đáp rất gọn:
– Không con nói dối đấy chứ!
Tức thì dì tôi vênh mặt lên:
– Nghe nữa đi, nghe cái đồ nói dối nữa đi!
Và tức thì hai cái tát của mẹ tôi cháy bỏng trên má tôi:
– Ai dạy mày nói điêu, mày hai lưỡi !
Nhưng tôi chỉ còn có một lưỡi , khi ngồi ăn cơm với mẹ tôi:
– Đúng là con Din đi với trai , mẹ ạ. Ban nẫy nó lạy con đừng nói.
Mẹ tôi lườm tôi và im lặng.“ (3)
„Có điều mà mãi đến nay tôi vẫn lấy làm lạ, là càng ghét anh bao nhiêu, tôi càng thương anh bấy nhiêu. Tôi thấy luôn luôn hình ảnh con người ấy quằn quại trong một mối đau đớn vô hạn, dưới cái ánh sao buồn rầu le lói đã chứng kiến ngày lọt lòng mẹ tăm tối của đời anh…“ (4)
Tuy rằng chỉ được diễn tả qua vài trang giấy nhưng thời gian trong các câu chuyện của „Chân Trời Cũ“ kể trải dài cả một đời người, đem không gian trải rộng từ nhà quê đến thành phố, từ sông ra đồng, từ Việt Nam đến Trung Hoa. Xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ hai mươi đang trong buổi giao thời, các nền văn hóa khác biệt, Việt, Pháp, Hoa va chạm với nhau, nhưng khung cảnh miền Bắc khi ấy vẫn còn là đất lề quê thói, „nề nếp“ Nho giáo vẫn có ảnh hưởng nặng.
Mỗi nhân vật trong gia đình ấy có một số phần khác nhau, người đọc thấy bứt rứt bồi hồi, tại sao lại sống như thế nhỉ. Sống là chấp nhận số phận, hay thách thức số phận, cãi lại số phận ? Sống theo ý mình, „cá nhân chủ nghĩa“, hay yên phận sống theo thời thế bó buộc ? quyết định nào sẽ đem lại kết quả tốt hơn ? ý muốn của con người có thắng được số trời hay không ? Hồ Dzếnh cắn răng chấp nhận số phận „thiên định thắng nhân định“, kể cả khi phải đeo đứa con thứ hai mới được mấy tháng đi nhiều nơi xin sữa nuôi con, khi mà tình trạng chiến tranh làm cho hầu như mọi người đều túng thiếu. Đầu sách, một câu ngắn „Kính nhớ vong hồn song thân, vợ và con trai đầu lòng„ cho người đọc thấy ngay những mất mát của Hồ Dzếnh. Hạnh phúc ? Có khi nào Hồ Dzếnh đã tìm thấy hạnh phúc ?
Trời trở buồn, ai hiểu nghĩa làm sao ?
Mây lạc nẻo, tim nghe chừng thất vọng.
(Giữ Gìn)
Mùa đời rụng hết vàng xanh
Nỗi đau thương cũ nay thành máu thơ.
(Tặng Vợ Tôi Khi Còn Sống)
Từng phen gió lạnh bay vào
Ngẩn ngơ ta xuống ga nào hở em?
(Chuyến Tàu Ðời)
Hồ Dzếnh không thuộc vào Tự Lực văn đoàn, cũng chưa bao giờ nhận được một giải thưởng của Tự Lực văn đoàn, nhưng văn và thơ của ông đi cùng một chiều hướng: sử dụng tiếng Việt, bớt các khái niệm chữ Hán, bớt dùng các điển tích trong tứ thư ngũ kinh Nho giáo, cách đặt vấn đề tế nhị, kín đáo, văn phong nhẹ nhàng, trong sáng, câu ngắn, cấu trúc rõ ràng, không dùng cấu trúc các thể thơ Hán.
Chỉ có trong một bài thơ, Hồ Dzếnh sử dụng kinh điển Hán học:
Tô Châu lớp lớp phù kiều
trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam
…
buồn Tư Mã nhớ Chiêu Quân
nét hoa thấp thoáng ý thần đê mê
(Đợi Thơ)
Tôi nghĩ đi nghĩ lại câu giới thiệu của Thạch Lam ở đầu cuốn sách …“Tôi không nói rằng tác phẩm này không có khuyết điểm, nhưng…“, và tôi tò mò đi tìm khuyết điểm trong „Chân Trời Cũ“. Thạch Lam là bạn, có lẽ không muốn khen quá lời, nên giữ vẻ khiêm tốn cho tác phẩm. Nhưng nếu cứ nghĩ rằng, Hồ Dzếnh là người „Minh Hương“, cha là người Trung Hoa, mẹ là người Việt, thì phải thấy ông xử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn, trong sáng còn hơn nhiều người Việt.
Bén nhọn như: …“Khách mặc một bộ quần áo bằng lĩnh Quảng Đông, nguyên mầu đen, nhưng sau khi trải nhiều phong trần, đã đổi sàng mầu xám kệch…Từ đằng xa những gợn lụa phơ phất như những gợn gió trùng dương, và khi lại gần thì gió trùng dương lại chỉ toàn xông lên một mùi cá mặn! „
Gợi cảm như:…“Tôi nhận thấy mấy cây cột nhà đứng bơ vơ hôm trước, bóng tối mau chiếm lấy sân và lòng tôi hay nhớ thương, ngao ngán. Ở trong cái lạnh lẽo bốc lên trước lúc gà vịt nhẩy chuồng, bốn ngọn nến cùng nháy mắt trên chiếc bàn thờ mới dựng, thay chỗ cho nơi kê bàn đèn thuốc phiện ngày xưa…“
Chua xót như: „Ròng rã trong hai ngày sau, tôi đoán biết một sự xung đột nhỏ nổi lên giữa anh chị tôi, và khi ghé mắt qua khe cửa phòng học nhìn sang bên cạnh, tôi thấy chị dâu tôi đương quỳ trước mặt chồng khóc lóc…Tôi nhớ nhất cái dáng điệu vừa quỳ vừa khóc của chị dâu tôi, và tôi thấy buồn một nỗi buồn thê thiết quá.“
Tả chân cái chết một cách rất hiện thực như: „…Anh không đói thuốc phiện, anh không gào nước nữa: đường xuống suối còn xa, đường về quê đã biến. Số mệnh đã muốn cắm ở giây phút đó một cuộc hành trình điên dại của một kiếp người. Anh thở dài một tiếng, lòng trắng giãn ra và chiếm đầy mắt…Anh nấc lên một tiếng nhỏ. Anh gục đầu xuống một bụi rậm, có cái gì thối tha đưa lên sau mông đít. Cành gai yếu ngả xuống làm anh gục theo. Một con chim kêu lên đâu đó. Rừng và Núi. Núi và Rừng.“
Xám kệch, gợn lụa, cá mặn, bơ vơ, nhẩy chuồng, nháy mắt, ròng rã, ghé mắt, khóc lóc, thê thiết, đói, gào, biến, cắm, điên dại, nấc, thối tha, mông đít, ngả, gục…những chữ thuần Việt được sử dụng rất đúng chỗ và gợi hình, gợi cảm.
Hồ Dzếnh không để lại cho đời một khối lượng lớn về tác phẩm, nhưng đời không thể quên ông, một số phận con tằm nhả tơ óng ả, mà không được đền bù xứng đáng. Hồ Dzếnh, theo các tài liệu viết về ông, qua đời lặng lẽ âm thầm, khi nhà thơ, nhà văn chỉ còn là một người thợ đúc thép, thợ cơ khí nhà máy xe lửa Gia Lâm, ngày 13.8.1991 tại nhà riêng, số 80 phố Hòa Mã, Hà Nội, được 75 tuổi (sinh năm 1916), để lại cho đứa cháu một bài thơ:
…Khi sống ông nghèo nhất thế gian
Ra đi của cải bỗng vô vàn
Trời-Mây-Trăng-Nước-Chim-Hoa-Gió
Tất cả dành riêng tặng cháu ngoan.
(Gửi cháu)
Tựa cuốn văn xuôi đầu tay của ông „Chân Trời Cũ“ cũng làm cho tôi suy nghĩ. Có cũ thì tất có mới. Chân Trời Cũ mang nhiều hàm ý, vừa là một quá khứ, vừa là nửa phần gốc tích quê quán, vừa là hình ảnh người cha, vừa là cả em Dìn, anh Cả, anh Hai, chị dâu, chú Nhì, em Thi, thằng Quắn, chị Yên, chị Đỏ Đương, vừa là người mẹ Việt Nam.
„Quê Ngoại“ của Hồ Dzếnh, vừa là nơi chôn nhau cắt rún, vừa là nơi gởi nắm xương tàn của ông, như thế mà cứ gọi ông là người „khách“, người Minh Hương, không phải là người Việt Nam thì thật là bạc bẽo với ông quá.
©MathildeTuyetTran, France 2010
www.tuyettran.de
Ngập Ngừng
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần
Tôi nói khẽ: ôi, làm sao nhớ thế !
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa
Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Tôi sẽ tránh, cố nhiên, nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi em hãy gắng quay về
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đổ
Cho ngàn sau lơ lững với ngàn xưa ...
Hồ Dzếnh
* Hồ Dzếnh (1916 – 1991), có khi được viết là Hồ Dzếch, tên thật là Hà Triệu Anh hay Hà Anh (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồ Dzếnh), quê ở làng Đông Bích huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông, mẹ là Đặng Thị Vân là người Việt. Ba tác phẩm tiêu biểu chính của ông là tập truyện ngắn Chân Trời Cũ, tập thơ Quê Ngoại và tập hồi ký Quyển Truyện Không Tên.
1. Lòng mẹ, Chân trời cũ, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên
2. Người chị dâu tôi, Chân trời cũ, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên
3. Em Dìn, Chân trời cũ, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên
4. Người anh xấu số, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên sưu tập
Source : Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org - Contributeurs
Mathilde Tuyết Trần
…“Cho nên được mang danh là nhà văn, tôi thấy thẹn thùng biết mấy!“
Hồ Dzếnh
Khép cuốn „Chân Trời Cũ“ (xuất bản năm 1942, tái bản năm 1946) lại, tôi đã đọc ngấu nghiến như thưở còn mười ba một cuốn sách cũ, tình cờ moi ra khi tìm sách chất chứa trong các thùng để trên nóc nhà, tôi thấy mình sung sướng như trẻ lại mấy mươi tuổi. Từ giai đoạn Văn thơ tiền chiến trước cái mốc 1945 đến ngày hôm nay tôi ngồi đây mơ về Hồ Dzếnh là đã sáu, bẩy mươi năm rồi còn gì. Các tên tuổi nhà văn, nhà thơ khác nổi hơn tên Hồ Dzếnh, nhưng không làm mất đi một chỗ đứng đặc biệt của ông.
Nếu Khái Hưng chỉ với một câu: „Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé…anh phải sống.“ đã giữ vững địa vị tuyệt đỉnh của mình trong Tự Lực văn đoàn, thì những ai đang yêu đương mơ mộng, ít nhất là cho đến thế hệ tôi, thường hay nhớ đến một câu thơ lãng mạn…“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân… Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề, Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở…“. Thưở ấy, cái thú yêu thương được hiểu theo nghĩa ấy, yêu mà được yêu lại, lấy nhau, sinh con đẻ cái, rồi hết yêu nhau, thế là không phải một tình yêu đẹp, một tình yêu lãng mạn. Yêu nhau, nhưng bị ngăn cách, cản trở, lại còn thấy mình yêu nồng nàn thêm, giấc mơ kéo dài thêm, không dứt. Các „người em gái“ tóc thề ngang vai thời ấy đều mơ mộng ước chi mình có được một mối tình dang dở. Đó là công trạng của những nhà văn nhà thơ thời văn học lãng mạn như Hồ Dzếnh.
Có được một chỗ đứng trong tim người trải qua nhiều thế hệ không phải là chuyện dễ. Hồ Dzếnh trả giá chỗ đứng ấy bằng cuộc đời thầm lặng, khiêm tốn, chịu đựng những mất mát, những đau thương của chính mình.
Hồ Dzếnh viết văn xuôi, làm thơ. Bài thơ „Chiều“ được Dương Thiệu Tước phổ nhạc là bài nổi tiếng nhất „Trên đường về nhớ đầy...Chiều chậm đưa chân ngày, Tiếng buồn vang trong mây... „ . Nhưng cũng còn những câu thơ khác đầy nhạc điệu trữ tình.
Cảm giác của tôi bây giờ khi đọc Hồ Dzếnh có khác cảm giác của một cô nữ sinh áo dài trắng tuổi ô mai ngày xưa, ngồi trong lớp học, vừa lơ đãng ngắm làn nắng sớm đang len lén rọi vào khung cửa sổ, vừa nghe tiếng cô giáo giảng một bài văn, giọng khi trầm khi bổng.
Những cảm giác buồn mang mác, nhẹ nhàng, tha thiết, rất thơ và rất thật tỏa ra trong các mẫu chuyện ngắn chứa đựng chân dung và cuộc đời của những nhân vật chung quanh Hồ Dzếnh, một gia đình chứa đựng hai nền văn hóa, từ nghèo lên giàu rồi lại trở thành nghèo, như cứ „lên voi xuống chó“.
Nhưng nổi bật hơn cả, ngòi bút Hồ Dzếnh viết nên một sự âu yếm, âu yếm vô cùng, cả đối với những gì gọi là không „tốt“, một người anh Cả nghiện thuốc phiện, một người anh Hai ham phiêu du, một cô em gái lỡ đàng, một người chị nuôi, một con ngựa trắng...Người viết, ngay cả những khi mình đã trưởng thành trong chuyện kể, luôn giữ ánh mắt nhìn của một đứa trẻ thơ không có tuổi, thích nũng nịu, thích bám gấu áo mẹ, cho nên tình thương toát ra từ những hàng chữ mang nét chân thật ngây thơ.
„Mẹ tôi nói dối. mẹ tôi đuổi tôi lên nhà, để mẹ tôi khóc. Lúc tôi chạy xuống bếp lục cơm ăn, thì thấy đôi mắt mẹ tôi đỏ ngầu, vạt áo ướt đẫm.
Tôi ngả vào lòng người, rồi mếu máo:
– Con không đi học nữa, mẹ ạ….“ (1)
„Chị dâu tôi phải về ở nhà quê làm việc. Ngày đưa chân, cả nhà tôi ra ga để lìa bỏ cái tỉnh thành bạc bẽo, tôi sụt sùi bảo chị dâu tôi:
– Chị chịu khó hầu mẹ nhé. Đến tết em về, em mua nhiều bánh cho cháu.
Chị tôi gật, ứa nước mắt….“ (2)
„Tôi đáp rất gọn:
– Không con nói dối đấy chứ!
Tức thì dì tôi vênh mặt lên:
– Nghe nữa đi, nghe cái đồ nói dối nữa đi!
Và tức thì hai cái tát của mẹ tôi cháy bỏng trên má tôi:
– Ai dạy mày nói điêu, mày hai lưỡi !
Nhưng tôi chỉ còn có một lưỡi , khi ngồi ăn cơm với mẹ tôi:
– Đúng là con Din đi với trai , mẹ ạ. Ban nẫy nó lạy con đừng nói.
Mẹ tôi lườm tôi và im lặng.“ (3)
„Có điều mà mãi đến nay tôi vẫn lấy làm lạ, là càng ghét anh bao nhiêu, tôi càng thương anh bấy nhiêu. Tôi thấy luôn luôn hình ảnh con người ấy quằn quại trong một mối đau đớn vô hạn, dưới cái ánh sao buồn rầu le lói đã chứng kiến ngày lọt lòng mẹ tăm tối của đời anh…“ (4)
Tuy rằng chỉ được diễn tả qua vài trang giấy nhưng thời gian trong các câu chuyện của „Chân Trời Cũ“ kể trải dài cả một đời người, đem không gian trải rộng từ nhà quê đến thành phố, từ sông ra đồng, từ Việt Nam đến Trung Hoa. Xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ hai mươi đang trong buổi giao thời, các nền văn hóa khác biệt, Việt, Pháp, Hoa va chạm với nhau, nhưng khung cảnh miền Bắc khi ấy vẫn còn là đất lề quê thói, „nề nếp“ Nho giáo vẫn có ảnh hưởng nặng.
Mỗi nhân vật trong gia đình ấy có một số phần khác nhau, người đọc thấy bứt rứt bồi hồi, tại sao lại sống như thế nhỉ. Sống là chấp nhận số phận, hay thách thức số phận, cãi lại số phận ? Sống theo ý mình, „cá nhân chủ nghĩa“, hay yên phận sống theo thời thế bó buộc ? quyết định nào sẽ đem lại kết quả tốt hơn ? ý muốn của con người có thắng được số trời hay không ? Hồ Dzếnh cắn răng chấp nhận số phận „thiên định thắng nhân định“, kể cả khi phải đeo đứa con thứ hai mới được mấy tháng đi nhiều nơi xin sữa nuôi con, khi mà tình trạng chiến tranh làm cho hầu như mọi người đều túng thiếu. Đầu sách, một câu ngắn „Kính nhớ vong hồn song thân, vợ và con trai đầu lòng„ cho người đọc thấy ngay những mất mát của Hồ Dzếnh. Hạnh phúc ? Có khi nào Hồ Dzếnh đã tìm thấy hạnh phúc ?
Trời trở buồn, ai hiểu nghĩa làm sao ?
Mây lạc nẻo, tim nghe chừng thất vọng.
(Giữ Gìn)
Mùa đời rụng hết vàng xanh
Nỗi đau thương cũ nay thành máu thơ.
(Tặng Vợ Tôi Khi Còn Sống)
Từng phen gió lạnh bay vào
Ngẩn ngơ ta xuống ga nào hở em?
(Chuyến Tàu Ðời)
Hồ Dzếnh không thuộc vào Tự Lực văn đoàn, cũng chưa bao giờ nhận được một giải thưởng của Tự Lực văn đoàn, nhưng văn và thơ của ông đi cùng một chiều hướng: sử dụng tiếng Việt, bớt các khái niệm chữ Hán, bớt dùng các điển tích trong tứ thư ngũ kinh Nho giáo, cách đặt vấn đề tế nhị, kín đáo, văn phong nhẹ nhàng, trong sáng, câu ngắn, cấu trúc rõ ràng, không dùng cấu trúc các thể thơ Hán.
Chỉ có trong một bài thơ, Hồ Dzếnh sử dụng kinh điển Hán học:
Tô Châu lớp lớp phù kiều
trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam
…
buồn Tư Mã nhớ Chiêu Quân
nét hoa thấp thoáng ý thần đê mê
(Đợi Thơ)
Tôi nghĩ đi nghĩ lại câu giới thiệu của Thạch Lam ở đầu cuốn sách …“Tôi không nói rằng tác phẩm này không có khuyết điểm, nhưng…“, và tôi tò mò đi tìm khuyết điểm trong „Chân Trời Cũ“. Thạch Lam là bạn, có lẽ không muốn khen quá lời, nên giữ vẻ khiêm tốn cho tác phẩm. Nhưng nếu cứ nghĩ rằng, Hồ Dzếnh là người „Minh Hương“, cha là người Trung Hoa, mẹ là người Việt, thì phải thấy ông xử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn, trong sáng còn hơn nhiều người Việt.
Bén nhọn như: …“Khách mặc một bộ quần áo bằng lĩnh Quảng Đông, nguyên mầu đen, nhưng sau khi trải nhiều phong trần, đã đổi sàng mầu xám kệch…Từ đằng xa những gợn lụa phơ phất như những gợn gió trùng dương, và khi lại gần thì gió trùng dương lại chỉ toàn xông lên một mùi cá mặn! „
Gợi cảm như:…“Tôi nhận thấy mấy cây cột nhà đứng bơ vơ hôm trước, bóng tối mau chiếm lấy sân và lòng tôi hay nhớ thương, ngao ngán. Ở trong cái lạnh lẽo bốc lên trước lúc gà vịt nhẩy chuồng, bốn ngọn nến cùng nháy mắt trên chiếc bàn thờ mới dựng, thay chỗ cho nơi kê bàn đèn thuốc phiện ngày xưa…“
Chua xót như: „Ròng rã trong hai ngày sau, tôi đoán biết một sự xung đột nhỏ nổi lên giữa anh chị tôi, và khi ghé mắt qua khe cửa phòng học nhìn sang bên cạnh, tôi thấy chị dâu tôi đương quỳ trước mặt chồng khóc lóc…Tôi nhớ nhất cái dáng điệu vừa quỳ vừa khóc của chị dâu tôi, và tôi thấy buồn một nỗi buồn thê thiết quá.“
Tả chân cái chết một cách rất hiện thực như: „…Anh không đói thuốc phiện, anh không gào nước nữa: đường xuống suối còn xa, đường về quê đã biến. Số mệnh đã muốn cắm ở giây phút đó một cuộc hành trình điên dại của một kiếp người. Anh thở dài một tiếng, lòng trắng giãn ra và chiếm đầy mắt…Anh nấc lên một tiếng nhỏ. Anh gục đầu xuống một bụi rậm, có cái gì thối tha đưa lên sau mông đít. Cành gai yếu ngả xuống làm anh gục theo. Một con chim kêu lên đâu đó. Rừng và Núi. Núi và Rừng.“
Xám kệch, gợn lụa, cá mặn, bơ vơ, nhẩy chuồng, nháy mắt, ròng rã, ghé mắt, khóc lóc, thê thiết, đói, gào, biến, cắm, điên dại, nấc, thối tha, mông đít, ngả, gục…những chữ thuần Việt được sử dụng rất đúng chỗ và gợi hình, gợi cảm.
Hồ Dzếnh không để lại cho đời một khối lượng lớn về tác phẩm, nhưng đời không thể quên ông, một số phận con tằm nhả tơ óng ả, mà không được đền bù xứng đáng. Hồ Dzếnh, theo các tài liệu viết về ông, qua đời lặng lẽ âm thầm, khi nhà thơ, nhà văn chỉ còn là một người thợ đúc thép, thợ cơ khí nhà máy xe lửa Gia Lâm, ngày 13.8.1991 tại nhà riêng, số 80 phố Hòa Mã, Hà Nội, được 75 tuổi (sinh năm 1916), để lại cho đứa cháu một bài thơ:
…Khi sống ông nghèo nhất thế gian
Ra đi của cải bỗng vô vàn
Trời-Mây-Trăng-Nước-Chim-Hoa-Gió
Tất cả dành riêng tặng cháu ngoan.
(Gửi cháu)
Tựa cuốn văn xuôi đầu tay của ông „Chân Trời Cũ“ cũng làm cho tôi suy nghĩ. Có cũ thì tất có mới. Chân Trời Cũ mang nhiều hàm ý, vừa là một quá khứ, vừa là nửa phần gốc tích quê quán, vừa là hình ảnh người cha, vừa là cả em Dìn, anh Cả, anh Hai, chị dâu, chú Nhì, em Thi, thằng Quắn, chị Yên, chị Đỏ Đương, vừa là người mẹ Việt Nam.
„Quê Ngoại“ của Hồ Dzếnh, vừa là nơi chôn nhau cắt rún, vừa là nơi gởi nắm xương tàn của ông, như thế mà cứ gọi ông là người „khách“, người Minh Hương, không phải là người Việt Nam thì thật là bạc bẽo với ông quá.
©MathildeTuyetTran, France 2010
www.tuyettran.de
Ngập Ngừng
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần
Tôi nói khẽ: ôi, làm sao nhớ thế !
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu
Thuở ân ái mong manh hơn nắng lụa
Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa
Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi
Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Tôi sẽ tránh, cố nhiên, nhưng rất nhẹ
Nếu trót đi em hãy gắng quay về
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đổ
Cho ngàn sau lơ lững với ngàn xưa ...
Hồ Dzếnh
* Hồ Dzếnh (1916 – 1991), có khi được viết là Hồ Dzếch, tên thật là Hà Triệu Anh hay Hà Anh (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồ Dzếnh), quê ở làng Đông Bích huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Cha ông là Hà Kiến Huân, người gốc Quảng Đông, mẹ là Đặng Thị Vân là người Việt. Ba tác phẩm tiêu biểu chính của ông là tập truyện ngắn Chân Trời Cũ, tập thơ Quê Ngoại và tập hồi ký Quyển Truyện Không Tên.
1. Lòng mẹ, Chân trời cũ, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên
2. Người chị dâu tôi, Chân trời cũ, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên
3. Em Dìn, Chân trời cũ, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên
4. Người anh xấu số, Hồ Dzếnh, Hoa Tiên sưu tập
Source : Dien Dan Forum, BP 50, 92340 Bourg-La-Reine, France
diendan@diendan.org - Contributeurs
Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010
Phỏng Vấn Nhà Thơ Ðặng Hiền
Phỏng Vấn Nhà Thơ Ðặng Hiền
Tạp Chí Thi Bình Thứ Năm, Ngày 11 tháng 3-2010
LTS: Bài phỏng vấn nhà thơ Đặng Hiền được thực hiện bởi nhà thơ Go Hyeong Ryeol Tổng biên tập tạp chí Thi Bình (The poet society of Asia) trong số mùa Đông 2009. Phần chuyển ngữ do Giáo sư Tiến sĩ Yang Soo Bae thuộc đại học Pusan University of Foreign Studies tại Hàn Quốc biên dịch. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quí văn hữu và độc giả Tạp Chí Hợp Lưu.
TCHL
Tạp chí Thi Bình (The poet society of Asia) đã thành được 9 năm và trở thành tờ tạp chí chuyên về thơ, thu hút nhiều nhà thơ của Châu Á tham gia. Tôi cùng với các độc giả Hàn Quốc xin chân thành cảm ơn ông đã gửi tác phẩm của mình cho tạp chí vào số mùa thu. Tôi mong rằng hôm nay chúng ta sẽ có một buổi nói chuyện thật thoải mái và vui vẻ.
Tạp chí Thi Bình: Ðà Nẵng là một tỉnh thuộc miền trung của Việt Nam và trong thời kì chiến tranh Việt Nam đây cũng là nơi đóng quân của quân đội Hàn Quốc. Vào khoảng hơn 10 năm trước một nhà văn Hàn Quốc là Hoang Seok Yeong bằng tác phẩm của mình, thông qua tác phẩm là “Chiếc bóng của vũ khí” đã ngỏ lời xin lỗi về quá khứ đã từng tham chiến ở Việt Nam. Theo tôi được biết nhà thơ Ðặng Hiền đã theo học cấp 3 ở Ðà Nẵng và quê hương của nhà thơ cũng ở rất gần Ðà Nẵng. Vậy thời đó nhà thơ đã có suy nghĩ như thế nào về sự hiện diện của quân đội Hàn Quốc?
Ðặng Hiền: -Tôi sinh ở Hoà Vang, Quảng Nam, quận Hoà Vang sát bên thành phố Ðà Nẵng. Suốt tuổi thơ, tôi được ba má tôi gởi ở nhà bà ngoại nơi thành phố để đi học bởi làng tôi ở ven sông Hàn, giòng sông chảy ngang thành phố Ðà Nẵng. Một điều giản dị là vì lúc nhỏ tôi rất mê biển cả và hay đi theo những người công nhân của gia đình tôi đi đánh cá ngoài biển khơi trong mùa hè, nhưng ba má tôi muốn tôi đi học và hấp thụ đời sống văn minh của dân thành phố vì làng tôi lúc đó vẫn chưa có điện. Khi vào Trung Học tôi lại được về nhà sống với gia đình. Nhưng thời ấu thơ sống ở nhà Ngoại là một dấu ấn khó phai trong tâm hồn tôi. Quê hương tôi là Quảng Nam Ðà Nẵng, người dân ở đây hiền hoà, Hà Nội là nơi nào đó cấm kỵ xa xôi, Sài Gòn là chốn phồn hoa mơ ước. Chiến tranh xảy ra trên quê hương tôi cùng khắp, người phía này người bên kia. Sự phân hoá và thù hận vượt ngoài tình cảm của gia đình, bởi một lý tưởng nào đó chừng như cao đẹp nhưng thật ra chỉ là sự lầm lạc của con người trong một nước nhỏ ở Á Châu như nước Việt Nam. Trở lại câu hỏi của anh là nghĩ gì về sự hiện diện của quân đội Hàn Quốc trong thời gian ấy. Thật ra, với tấm lòng ngây thơ của tôi lúc ấy, tôi rất ghét chiến tranh, những người lính nước ngoài ở quê hương tôi, họ là cái gì đó xa lạ, là biểu hiện của sự ác, của chết chóc và huỷ diệt yên bình. Gia đình chú tôi chết hơn một nửa vì trái đạn pháo kích của người Cộng Sản và bà Nội tôi cũng bỏ mình trong trận pháo kích ấy. Lúc đó tôi còn quá nhỏ để biết thế nào là chiến tranh. Riêng quân đội Hàn Quốc ở Việt Nam tôi được nghe đó là sư đoàn Thanh Long Bạch Hổ, rất kỷ luật và thiện chiến. Nhưng thỉnh thoảng gặp những người lính này tôi thấy họ bình thường chỉ khác người Việt là không gầy gò và đặc biệt là đôi mắt một mí ấn tượng, khác với các nam nữ diễn viên tuyệt đẹp ở trong các phim ảnh Hàn Quốc ngày nay.
TCTB: Cũng theo tôi được biết nhà thơ đã học, tốt nghiệp trường đại học Long Beach, Califonia, Mỹ và sống tại Mỹ từ năm 1979 tức là từ lúc nhà thơ 21 tuổi .Vào năm 1975 Việt Nam được giải phóng, sự kết thúc của cuộc chiến tranh Việt Nam cũng là sự thất bại lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở nước ngoài. Vậy nhà thơ có thể cho tôi và độc giả biết lý do tại sao nhà thơ lại sống ở Mỹ?
ĐH:Vào năm 1975, Việt Nam chấm dứt cuộc chiến tranh gần 30 năm. Chiến tranh kết thúc trước khi tôi đến tuổi đi lính, dĩ nhiên tôi sẽ không có sự chọn lựa. Cuối tháng Tư 1975 gia đình tôi đang ở Vũng Tàu, ba tôi quyết định trở lại Ðà Nẵng vì đất nước đã hoà bình rồi. Nhưng như bao người khác, ba tôi bị đi tù ba năm chỉ vì có dính líu đến một đảng chính trị ở Miền Nam Việt Nam. Cũng trong thời gian nầy tôi thấm thía thế nào là sự cần thiết của người đàn ông trong gia đình. Quê hương tôi có bao gia đình thiếu mất người đàn ông vì chiến tranh. Tôi tiếp tục học năm cuối cấp ba và thi tốt nghiệp, tôi đậu. Nhưng sau đó không đại học nào nhận tôi vào, vì lý lịch quá xấu, gia đình tư sản, cha bị tù cải tạo. Ở một đất nước đã “giải phóng” mà tôi xin làm chân thợ phụ hồ ở công trường xây dựng nhà máy xi măng cũng khó khăn mặc dầu đầy đủ sức khoẻ, xin làm thẻ chứng minh nhân dân cũng không được. Không như các con của tôi bây giờ, chúng có thể tiến xa trên con đường học vấn mà không cần phải tra xét lý lịch. Con gái đầu của tôi vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa năm rồi, đứa con trai kế đang theo học Cao học Ðiện toán, đứa con gái thứ ba sắp tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa, và niềm hạnh phúc là tôi có đứa con trai út vừa vào học lớp hai. Có lẽ đây là lý do tôi chọn Mỹ làm quê hương thứ hai của mình.
Vào năm 1978 ba tôi được tha về, vì tương lai của các con nên ông đã liều lĩnh đưa cả nhà vượt biển năm 1979. Trước khi vượt biên tôi đã cưới vợ, đây là điều làm má tôi hài lòng nhất, bà thường nói nếu gia đình tôi vượt thoát vào 1975 thì làm gì bà có được cô con dâu hiền như thế, vợ tôi là người đàn bà tuyệt vời, là mẹ của bốn đứa con tôi sau này. Khi ở trại tị nạn Hongkong, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc phỏng vấn gia đình tôi trước khi chuyển sang cho phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Gia đình tôi đã chọn tiểu bang California. Gia đình tôi là một gia đình may mắn trong hàng triệu người VIỆT NAM liều mình bỏ nước ra đi bằng đường biển, bằng đường bộ. Biết bao cảnh bi thương, nói sao cho hết. Trong lịch sử dân tộc tôi, thời điểm này là lần đầu tiên nhiều người bỏ nước ra đi như vậy. Tất cả chỉ vì tự do, vì quyền sống căn bản của con người. Việt Nam với ba mươi năm chiến tranh, hai miền Nam Bắc có hơn triệu người chết và thương tật, đất nước bị tàn phá tận cùng, và lòng hận thù khó nguôi của các giai tầng xã hội. Chúng ta biết rằng chế độ chính trị nào rồi cũng qua đi, nhưng dân tộc thì trường tồn, và lịch sử được viết bởi dân tộc vẫn còn mãi mãi. Người Mỹ thua trên nguyên tắc cuộc chiến Việt Nam với bức tường đá đen ghi tên hơn 58 ngàn tử sĩ, chính quyền và quân đội Miền Nam đã rã ngũ từ năm 1975, nhưng nhân dân Mỹ là một dân tộc văn minh và nhân ái. Xã hội Mỹ đã mở rộng vòng tay đón nhận và tạo cơ hội phát triển cho mọi người, không riêng gì người Việt Nam, tôi thấy cộng đồng Hàn Quốc của các anh ở xứ nầy cũng rất giầu mạnh. Ðất lành chim đậu anh ạ.
TCTB: Tại sao nhà thơ lại chọn văn học để bắt đầu sự nghiệp của mình? Bởi vì ai? Khi nào? Mong nhà thơ hãy nói cho chúng tôi được biết cái lý do lựa chọn của nhà thơ.
ĐH: Tôi còn nhớ vào năm 1972, Việt Nam là thời kỳ Mùa Hè Ðỏ Lửa. Chiến tranh trở nên khốc liệt. Năm ấy tôi đang theo học trường trung học Phan Chu Trinh Ðà Nẵng. Những người chạy loạn từ Quảng Trị và Huế tràn vào Ðà Nẵng lánh nạn, trường tôi phải dùng làm nơi cư ngụ cho nạn nhân chiến tranh. Trước khi đóng cửa nhà trường tổ chức lễ phát thưởng cho giải văn chương và báo chí năm đó. Tôi hân hạnh được nhận giải truyện ngắn hay nhất trong năm. Truyện kể một tình bạn thuần khiết của hai đứa trẻ nhà nghèo, chia cho nhau từng viên kẹo từng lát cà chua ướp đường. Sau đó một đứa phải theo gia đình dọn đi xa. Buổi chia tay, đứa bé còn ở lại chạy bộ theo chuyến xe một đoạn, khói xe mịt mù, buồn ngẩn ngơ, cứ đứng nhìn theo chuyến xe đưa bạn xa tít biến mất ở cuối đường. Nếu tin con người có số, tôi tin điều đó, tôi xin cảm ơn các vị thầy cô dậy tiểu học và dạy môn Việt văn trung học mà tôi đã may mắn được học qua. Ðó chính là những ân nhân đã gieo mầm và dậy dỗ cho tôi yêu tiếng Việt và để tôi là tôi của bây giờ.
TCTB: Mong nhà thơ giới thiệu cho chúng tôi được biết thêm về tạp chí “Hợp Lưu” đang được phát hành hai tháng một lần ở Mỹ. Ai sáng lập và được sáng lập khi nào? Thành viên của nhóm biên tập gồm có những ai? Và tiêu chí là gi? Các độc giả rất mong nhà thơ có thể tặng cho các độc giả một số bức ảnh quê hương của nhà thơ lúc nhỏ, hiện tại và cùng với một số các bức ảnh gia đình.
ĐH:Tạp Chí Hợp Lưu là một tạp san văn học nghệ thuật biên khảo, được sáng lập bởi một nhóm văn nghệ sĩ vào năm 1990, phát hành hai tháng một lần. Người chủ nhiệm sáng lập là nhà văn Nhật Tiến, chủ biên sáng lập là hoạ sĩ Khánh Trường. Vào tháng Tám 2002, tôi được mời vào Hợp Lưu với tư cách Tổng Thư Ký, và sau đó đến đầu năm 2005 trở thành Chủ Biên. Tôi vẫn giữ công việc nầy cho đến hôm nay. Những văn thi hữu chủ lực của Hợp Lưu là Sử gia Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phạm Hùng, nhà văn Phan Nhật Nam, Trần Vũ, Trần Thiện Ðạo, Nguyễn Bình Phương... cùng một số các thi văn hữu trong và ngoài nước. Tạp chí Hợp Lưu là một diễn đàn văn chương, cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, giới tính, không kỳ thị Bắc Nam, Trong Ngoài, ý thức hệ hay quan điểm chính trị. Nó sẽ tiếp tục đường đi đã vạch sẵn bấy lâu: đó là thủ diễn vị thế một diễn đàn phục vụ nghệ thuật, văn chương. Tạp chí Hợp Lưu không có tham vọng chính trị, không tự khoác những nhiệm vụ to lớn và hoang tưởng. Tham vọng duy nhất của chúng tôi là duy trì TCHL như một diễn đàn hoàn toàn độc lập, vượt ngoài sự chi phối hay khuynh đảo của bất cứ thế lực nào.
Tôi xin gởi đến quí vị một số bức ảnh theo như yêu cầu.
TCTB: Trong bài thơ “Xa quá quê ơi” của nhà thơ có xuất hiện hình ảnh những chiếc xe máy. Tôi lần đầu tiên đến Việt Nam, đã rất ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến hình ảnh những chiếc xe máy ở Việt Nam. Và tôi cũng bị đau họng vì khói xe máy. Tuy vậy bây giờ tôi rất muốn được quay lại Hà Nội và cũng rất muốn lại được ngắm hình ảnh những chiếc xe máy đó. Ðây là một số những câu thơ trong bài thơ này “Ðà Nẵng” . Bằng vần điệu của các câu thơ thì hình ảnh của Việt Nam được nổi lên một cách rất Việt Nam, đó là thông qua hình ảnh chiếc xe máy. Có lẽ điều này là một kỉ niệm về quê hương, đất nước thông qua một cái nhìn trực tiếp mang tính phủ định. Là sự kháng cự, là sự ô nhiễm. là đối tượng sẽ cần phải giải quyết hay là đối tượng sẽ phải thúc đẩy?
ĐH: Ðó là lần đầu tôi về lại Việt Nam sau 20 năm, vào cuối năm 2000, với tư cách của một thành viên trong phái đoàn thương mại Việt Mỹ. Hà Nội, Ðà Nẵng rồi Sài Gòn, đâu đâu cũng xe máy, khói mù mịt cùng với những bụi mù của các công trình xây cất. Vì đi chung với phái đoàn nên chúng tôi thường đi xe ca chở nhiều người giống như xe bus nhỏ ở Mỹ để di chuyển.Thú thật lúc ấy đầu óc tôi như tê dại, tôi là người Việt lại không phải Việt, tôi là người Mỹ lại không phải Mỹ. Không tin ai hết, tất cả đều đầu môi chót lưỡi, dùng một thứ ngôn ngữ ngoại giao, nói cho vừa lòng nhau. Lúc ấy, Việt Nam về kỹ nghệ tin học còn yếu lắm, trong tấm danh thiếp của trợ lý bộ trưởng kinh tế lại dùng địa chỉ hotmail. Như một chuyện khôi hài khi đại diện của một công ty vi tính tại Hà Nội lên thuyết trình về kế hoạch đưa công ty này vào thị trường chứng khoán Mỹ. Vào đến Sài Gòn người lại đông kinh khủng hơn. Sài Gòn có những cơn mưa buổi chiều buồn và tàn nhẫn. Sau đó về Ðà Nẵng không khí dễ chịu một chút, nhưng lạ quá, ở đó đến ba ngày tôi vẫn mất hướng một góc chợ quen. Tối nằm một mình ở nhà ba má tôi mới về mua ở biển Thanh Bình, Ðà Nẵng, nghe tiếng lá dừa xào xạc, ánh trăng lấp loáng, không khí ẩm mùi mặn của biển, đêm không gia đình, cha mẹ, anh em, vợ con. Tôi hoang mang như hơn 20 năm trước nằm trốn dưới khoang tàu để đi vượt biên. Thật ra tôi đã sống ở Mỹ nhiều hơn thời gian tôi ở Việt Nam. Tôi đã thay đổi chứ quê tôi không đổi thay. Người ở đây vẫn thế, cam chịu, nhịn nhục thân phận bọt bèo, tình yêu là trò xa xỉ, thân phận chúng tôi mang hình ảnh của những đàn kiến... ngồi trên xe máy, cùng với những bức tường không sơn và những cơn mưa thầm lặng trong xã hội Việt Nam.
Rồi mới đây vào tháng 5-2009 tôi lại về Hà Nội, Ðà Nẵng, Sài Gòn, nhưng với tư cách là người về thăm gia đình. Lần nầy dễ chịu hơn vì được gặp một số bạn văn thơ trong nước. Văn chương thường làm cho con người gần và thông cảm nhau hơn. Ðó là món quà quí giá tôi có được trong chuyến đi vừa rồi. Nhưng xã hội Việt Nam lại có những vấn đề khác nhức nhối hơn, trong khi những vấn đề cũ vẫn còn đấy. Tôi cảm tưởng Việt Nam phát triển như đứa bé lớn nhanh quá, cột xương sống bị chệch, cần phải chỉnh sửa lại mới sống khoẻ mạnh. Việt Nam có một loại trật tự thật đặc biệt, tự điều chỉnh để sinh tồn. Từ những những kiến trúc tự do đến vô trật tự của phố cổ Hà Nội, nơi gần hồ Gươm, đến những công trình đào núi lấp biển tại Đà Nẵng cùng những dãy khách sạn 5 sao dọc bãi biển Mỹ Khê, những “lô cốt” chận đường để cải tiến hệ thống thoát nước từ nhiều năm tại thành phố Sài Gòn. Rồi đến tự do ngôn luận và báo chí như một giấc mơ không bao giờ có thật, mặc dầu nhân loại đã bước vào thiên niên kỷ mới và Việt Nam đã hội nhập vào WTO. Tất cả những ghi nhận ấy đều nằm trong những bài thơ tôi gởi cho anh mới đây. Tôi xin đọc bài thơ nầy:
Trật tự mới trong bài luân vũ điên
Mất xa em những hình ảnh cũ mềm ẩn hiện
Căn phòng ẩm mồ hôi miền nhiệt đới
Danh vọng là trò đùa thân xác mệt lả cùng những cơn ho
vật vã
Chiều tan nhanh theo trăng tháng năm đứng đường
Tình cảm ô nhiễm bốc lên từ lon bia ngoại
Kỹ thuật cao ru phận đớn hèn
Ôi chao em, dòng nước xe buổi tan tầm
Tôi trôi lềnh bềnh trong văn hoá nhậu
Ðào núi lấp biển có thêm hạnh phúc
Giọng nói thơm mùi mạ năm xưa
Trưa nắng từng góc phố ngủ ngồi
Mùa hè sớm hơn nơi phồn hoa miệt thị
Mang theo quán cơm bụi ngàn năm văn vật
Cướp chó bên chiều nhậu Hồ Tây
Ấn tượng nền văn minh treo cổ Sadam
Em tôi Ô sin khi mới lên mười
Sài gòn mập một cách giả vờ
Tôi chỉ in có 49 cuốn thơ
Làm sao mở miệng trong thế giới điếc
Thành phố tự hào có mùi cống rãnh
Chiều Hồ Gươm, đứng bên Hồ Gươm
Nắng mưa giao mùa nơi trái tim trong trái tim
Trơ trẽn như cơn mưa chưa lên câu khẩu hiệu
Tất cả trật tự, tự điều chỉnh để sinh tồn, lạ ghê.
ÐẶNG HIỀN
Việt Nam - California 5-2009
TCTB: Trong bài thơ “ Có lẽ ” dường như nhà thơ có một nỗi buồn mà ngay cả nhà thơ cũng không thể diễn tả được nó và cũng không thể tránh né nó được. Nhà thơ như đang chạy việt dã một mình trong thế giới tinh thần của mình. Nhà thơ đang muốn thoát ra khỏi thế giới đó. Nơi đó giống như một vùng núi rộng lớn. Trong bài thơ có câu “không ai yêu em”. Ở đây nhà thơ muốn một tình yêu gì? Nếu có thể được mong nhà thơ giải thích cho chúng tôi biết về tâm trạng của nhà thơ khi viết những câu thơ này? Sự phản bội của cuộc sống, sự tuyệt vọng của cuộc sống. Kết cục câu hỏi “ Có lẽ sống ở nước ngoài nhiều năm?” có vẻ là không chân thật . Trong bài thơ này lời mà tác giả muốn nói lên là gì? Bản chất cái bĩ cực của nhà thơ Ðặng Hiền là cái gì?
ĐH:Khi nhỏ vì sống xa nhà, tôi sớm biết tự lo cho mình. Ở thành phố tôi hay bị chế diễu là dân biển, về làng thì bị chọc là thằng đi theo dân thành thị, nên lúc nhỏ tôi hay đánh lộn với những đứa bé khác, nhưng thường thường bị thua, về nhà lại không dám khóc, khóc là bị ăn đòn. Khi lớn lên hoàn cảnh đã bứng tôi ra khỏi quê hương tôi. Một chiều gần cuối năm đi qua vùng rừng núi California, cái mênh mông hùng vĩ của những dãy núi, màu ráng đỏ của hoàng hôn làm tôi bần thần, những năm đó tôi chưa có dịp về lại Việt Nam. Không như bây giờ sự cách chia về địa lý đã giảm đi nhiều, có tiền mua vé máy bay mười mấy giờ sau là về ngay Sài Gòn...
Bài “Có lẽ” hơi đặc biệt một tí về ẩn dụ và đối tượng thơ. Tôi dùng hình ảnh một thiếu nữ để bày tỏ tình yêu thương của mình đối với mảnh đất mà tôi đã được sinh ra và lớn lên, được dậy dỗ bằng những bài học thương yêu và lòng nhân bản. Xã hội miền Nam tôi sống lúc đó mặc dầu trong chiến tranh, nhưng trẻ em không bao giờ bị nhồi nhét những bài học cho lòng thù hận. Chúng tôi được học những bài học lịch sử đấu tranh trong mấy ngàn năm của những vị anh hùng đưa dân tộc Việt thoát khỏi ách nô lệ của người khổng lồ phương Bắc. Dù đầu óc non nớt lúc ấy những đứa trẻ như chúng tôi vẫn biết rằng, một lúc nào đó chiến tranh sẽ qua đi và đất nước sẽ thống nhất. Ðến khi đất nước thống nhất rồi thì những đau thương khác tiếp nối. Tôi chỉ là một phần tử quá nhỏ nhoi trong gần 3 triệu người Việt lưu lạc ở hải ngoại, định cư ở nhiều quốc gia trên thế giới. Dĩ nhiên chúng tôi mang ơn tấm lòng nhân ái của các dân tộc khác đã cưu mang chúng tôi, cho chúng tôi một đời sống tự do thật sự. Riêng tôi, nơi sâu thẳm của hồn mình, thật sự tôi không thấy mình thuộc về đâu, Mỹ ư? Tôi chỉ là loại Mỹ giấy. Việt ư? Tôi không thuần Việt, vì tôi ở nước ngoài nhiều năm, tôi sống tự do quen rồi. Vậy anh cho tôi biết đi, tôi thuộc về đâu? “Không ai yêu em” là vậy, là tình yêu quê hương. Trong cái tâm trạng bơ vơ, quê hương thắm thiết như tình vợ chồng, bao dung như tình mẹ con. Còn bỉ cực nào hơn khi cảm thấy thân phận mình gần như vô thừa nhận đó.
TCTB: Trong câu thơ “Chiều cuối năm với người bạn già” . Giống với một câu thơ trong bài thơ “ Ngày xanh” của nhà thơ Seo Cheong Chu của Hàn Quốc. Nhìn những người sống sót trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và anh ấy hát “ Ngày xanh thì hãy nhớ những người bạn” . Trong bài thơ này nỗi buồn trong bản thân mỗi người sống sót là gì? Câu cuối của bài thơ “Xanh một mùa rét căm” có ý nghĩa gì?
ĐH:Bài này tôi làm để tưởng nhớ nhà văn Mai Thảo được đăng trong Hợp Lưu số 100, số tưởng niệm đặc biệt về nhà văn nầy. Ông ấy là thế hệ trước tôi, chịu nhiều đau thương hơn thế hệ của tôi vì những biến động đổi thay của Việt Nam. Quen biết ông qua những bài thơ tôi gởi đến đăng ở tạp chí VĂN, mà ông ấy là chủ bút. Ở Mỹ nhưng ông khước từ hội nhập vào xã hội nơi đây. Và cũng qua ông, tôi cảm được nỗi vô thường và cô đơn của đời người. Khi mà quê hương đã chợt mất, bạn bè đã ly tán, kẻ mất người còn, gia đình không có, sống thui thủi một mình, cô đơn như ngọn hải đăng hiu hắt, sống cùng rượu, chờ chuyến xe cuối cùng để về cõi vĩnh hằng. Thi thoảng được uống rượu cùng ông, tôi thường nghe ông kể về đời sống của ông ở miền Bắc khi xưa, ở Sài Gòn thời cực thịnh về văn chương miền Nam, về chiến tranh và những người bạn, những người bạn đã chết, và những người bạn còn sống đang lưu lạc ở xứ người. Và ông hay ngâm thơ của họ, bạn ông là những nhà thơ lừng danh của Việt Nam, là thi sĩ Vũ Hoàng Chương, là thi sĩ Ðinh Hùng, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền... Với ông, hình như thời gian đứng lại, mãi mãi ở Nam Ðịnh, ở Hà Nội ở Sài Gòn. Hồn ông ở đấy.Tuyệt nhiên, ông không hề nhắc đến tình yêu, bởi thế “Xanh một mùa rét căm” là vậy, là sự cô độc đến tận cùng trong một chiều cuối năm ở một nơi không là quê hương, một nơi không có dĩ vãng.
TCTB: Trong bài thơ “Mưa Ðà nẵng” , như người ta thường nói tất cả thơ của nhân loại là thơ của sự thất lạc. Mưa đang rơi, câu thơ “Ngang nhà em lòng buồn rưng rức” Ðã vẽ lên điều gì? Giáo sư Bae Yang Soo đã biên dịch rất hay, đã nắm được cái hồn của nhà thơ trong bài thơ, đôi mắt hiền và mơ màng của nhà thơ Ðà Nẵng đang ước hẹn và chờ đợi gì? “Nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm” . Em ở đây là ai?. Là Ðà Nẵng hay là Việt Nam hay cũng có thể là một người con gái.
Tôi rất xin lỗi khi đã đặt những câu hỏi khó giải thích với nhà thơ.
ĐH: Anh là nhà thơ, hơn ai hết anh hiểu tôi. Thơ là thơ, thơ yêu nước hay thơ yêu em cũng chỉ là thơ. Khác nhau là HAY hoặc KHÔNG HAY. Thơ là từ trái tim mà ra, thơ nếu đúng nghĩa khó có gì theo kịp. Thơ chỉ NHẠT khi nào tác giả không sống thật với chính mình và viết toàn những câu giả dối sáo ngữ. Tuy nhiên, thơ tình thường là riêng tư, trong thế giới riêng tư đó, tác giả đánh thức người đọc bằng trái tim của chính mình, bằng tài năng và tình cảm trải lên những câu những đoạn của thơ. Vâng, Giáo sư Bae Yang Soo biên dịch thật tài tình, theo tôi đó là sự may mắn cho thi ca của hai nền văn hoá Việt-Hàn. Những cơn mưa Á châu thường dai dẳng và ảm đạm. Những thành phố miền Trung Việt Nam rất tĩnh lặng và buồn. Bài “Mưa ở Ðà Nẵng” viết vào năm 1994, in trong tập thơ đầu của tôi. Ðà Nẵng trong tôi là những hình ảnh khi chưa ra đi. Ra đi, chia ly, thất lạc và nỗi nhớ đã làm nên thơ; ngày cũ, chốn xưa cùng với những người con gái tôi quen thời tuổi trẻ, trong đó có cả vợ tôi, và những cơn mưa, hoà vào nhau là một, thì ra đó là quê hương anh ạ. Trong lần về lại Việt Nam lần thứ hai vào năm 2009, tôi có viết một bài thơ cũng về Ðà nẵng. Hai bài thơ đều viết về Ðà Nẵng nhưng thời gian và tâm cảnh đã khác, xin gởi đến anh và quí độc giả bài thơ nầy:
Bài Viết Lại ở Ðà Nẵng
Ở đây mùa trốn mất theo những cơn mưa dài trong đêm
Thời gian hụt mất cơn say sâu ngang vết nhăn nụ cười buồn bã
Tuổi trẻ trôi xa theo nhau ngày cũ
Thành phố mưa
Không còn lá tương tư tuổi nhỏ
Không còn những chuyến đò xưa
Ðêm bỗng thất thường như mưa
Con nước có về theo chiều của nhau không ?
Trên đường mòn mênh mông trí nhớ
Cơn mưa chạy hoài theo vết xe xa thành phố
Cơn mưa ở mãi cùng anh từ buổi chia tay
Tình không là tình của năm xưa
Khi ta đôi mươi qua thời thay đổi
Biết đến bao giờ trở lại
Ðêm mơ như nước sông chảy xuôi về biển yêu thương
Và mùa chừng trốn mất nơi đây
Lạnh theo mưa...
ÐẶNG HIỀN
Ðà nẵng-5-2009
TCTB: Câu hỏi cuối cùng.
Nhà thơ sẽ tiếp tục sống tại Mỹ? Và cũng sẽ chết tại đó? nếu không thì xin nhà thơ cho độc giả biết nhà thơ có ý định trở lại Việt Nam hay không? Nhà thơ sẽ tiếp tục sống ở California và sẽ tiếp tục sáng tác thơ? Sự thất lạc và nỗi nhớ có làm nhà thơ quay về Việt Nam không?
ĐH:Thành thật mà nói, ngoài Việt Nam ra, Mỹ là quê hương thứ hai của tôi, tất cả cuộc đời tôi đều ở đây. Rất may mắn cho tôi và cho thế hệ của chúng tôi không phải gánh nặng lòng thù hận của quá khứ. Không bị mù quáng vì tuyên truyền. Bạn bè của tôi ở nhiều nước trên thế giới. Nhưng cha mẹ, vợ con, anh em, công việc hầu như tất cả đều ở Mỹ. Vậy tôi không ở California thì tôi ở đâu hả anh? Hơn nữa con trai út của tôi mới bảy tuổi, tôi biết cháu nó rất cần tôi. Chuyện sống chết có số mạng làm sao mình quyết định sẽ chết ở đâu? Tôi đang thuyết phục vợ tôi cùng tôi về thăm Việt Nam trong lần tới, cô ấy xa Việt Nam 30 năm rồi chưa trở lại. Theo tôi thì dù sống xa quê hương nhưng lúc nào cũng hướng về vẫn tốt hơn là ở tại Việt Nam mà lòng không ở đó. Riêng tôi, thơ vẫn là niềm đam mê và cần thiết như hơi thở cho sự sống, tôi luôn yêu thơ bằng chính trái tim mình.
TCTB: Ðầu mùa thu năm 2010 chúng tôi dự định tổ chức hội ngâm thơ Châu Á và cũng dự định mời những nhà thơ đang sống ở Việt Nam. Hẹn gặp lại nhà thơ vào một ngày gần đây.
Chân thành cảm ơn nhà thơ về buổi phỏng vấn ngày hôm nay.
Go Hyeong Ryeol / nhà thơ,
Tổng biên tập tạp chí Thi Bình.
PHỤ BẢN:
Những bài thơ của Đặng Hiền trong Tạp chí Thi Bình Hàn Quốc số mùa Thu năm 2009, do Giáo sư Tiến sĩ Bae Yang Soo biên dịch.
XA QUÁ QUÊ ƠI
Bắt đầu nhớ những con hẻm
Xe máy cùng bờ tường không sơn
Thành phố cùng tầm nhìn trong veo
Thành phố và những cơn mưa thầm lặng
Xe chạy mù, xe chạy mù
Dòng xe dài đàn kiến
Những con kiến chạy quanh
Hà Nội Sài Gòn Đà Nẵng...
(SaiGon 16-12-2000)
MƯA Ở ĐÀ NẴNG
Cơn mưa buổi chiều mưa hoài không tạnh
Bước xuống đò về qua Hà Thân
Ngang nhà em lòng buồn rưng rức
Ðầu dầm mưa, lòng cũng dầm mưa
Những ngày cuối năm mưa phùn gió bấc
Dòng sông Hàn nước đục, lục bình trôi
Bên kia phố có mắt hiền mộng mị
Nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm
Ngày em đi, tôi ngủ vùi không dậy
Nghe mưa bập bùng theo vết xe xa
Như nước đổ thương con đò xuôi ngược
Lòng tan hoang mưa lạnh rét đôi miền.
CHIỀU CUỐI NĂM VỚI NGƯỜI BẠN GÌA
Ngày rộng hàng hiên hẹp
Rót tràn ly rượu chay
Quê nhà xa muôn dặm
Đá cầm run bàn tay
Ở đây hồn mờ mịt
Chiều đập vỡ chai ra
Thoáng nghe đời rớt lại
Nát từng khúc tình ta
Sóng bên bờ năm cũ
Sóng tròng trành vành ly
Có ai về thắp lửa
Quanh nỗi nhớ câm lì
Khoé nhìn ơi thê thiết
Đồng vọng mấy mươi năm
Mắt già thôi tìm lại
Xanh một mùa rét căm.
CÓ LẼ
Tất cả giọng ca đều hàng đầu
Không ai ở cuối
Rượu mạnh và đau lưng
Thôi kiếp hư phù
Cho anh nhìn phóng qua thung lũng
Cho anh mây trời
Cho anh sóng biển
Cho anh bay lên từ em
Từ rừng trăng bát ngát
Xuân thập thò
Mùa thơm nắng ngây thơ
Tất cả thi sĩ đều tuyệt
Làm thơ làm dáng
Không ai yêu em
Không ai...
Có lẽ ở nước ngoài nhiều năm
Có lẽ anh chẳng thuộc về đâu
Những ngày hết năm bỗng nhớ nhà quá đỗi
Có lẽ.
ĐẶNG HIỀN: Sinh năm 1958 tại Hòa Vang, Quảng Nam. Ðịnh cư tại Nam California USA từ năm 1979. Thơ đăng trên Văn, Hợp Lưu, Văn Học, Thế Kỷ 21, Nghệ Thuật... Góp mặt trong tuyển tập Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-1995) NXB Đại Nam USA.Tổng Thư Ký Tạp Chí Hợp Lưu (USA) 2002-2005 Chủ Biên Tạp Chí Hợp Lưu (USA) từ 2005…
Tác phẩm đã xuất bản :
Thơ Ðặng Hiền (1994 Hoa Kỳ)
Bài Hai Mươi (thơ, NXB Văn Hóa USA 1997)...
SOURCE : HỢP LƯU
Tạp Chí Thi Bình Thứ Năm, Ngày 11 tháng 3-2010
LTS: Bài phỏng vấn nhà thơ Đặng Hiền được thực hiện bởi nhà thơ Go Hyeong Ryeol Tổng biên tập tạp chí Thi Bình (The poet society of Asia) trong số mùa Đông 2009. Phần chuyển ngữ do Giáo sư Tiến sĩ Yang Soo Bae thuộc đại học Pusan University of Foreign Studies tại Hàn Quốc biên dịch. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu đến quí văn hữu và độc giả Tạp Chí Hợp Lưu.
TCHL
Tạp chí Thi Bình (The poet society of Asia) đã thành được 9 năm và trở thành tờ tạp chí chuyên về thơ, thu hút nhiều nhà thơ của Châu Á tham gia. Tôi cùng với các độc giả Hàn Quốc xin chân thành cảm ơn ông đã gửi tác phẩm của mình cho tạp chí vào số mùa thu. Tôi mong rằng hôm nay chúng ta sẽ có một buổi nói chuyện thật thoải mái và vui vẻ.
Tạp chí Thi Bình: Ðà Nẵng là một tỉnh thuộc miền trung của Việt Nam và trong thời kì chiến tranh Việt Nam đây cũng là nơi đóng quân của quân đội Hàn Quốc. Vào khoảng hơn 10 năm trước một nhà văn Hàn Quốc là Hoang Seok Yeong bằng tác phẩm của mình, thông qua tác phẩm là “Chiếc bóng của vũ khí” đã ngỏ lời xin lỗi về quá khứ đã từng tham chiến ở Việt Nam. Theo tôi được biết nhà thơ Ðặng Hiền đã theo học cấp 3 ở Ðà Nẵng và quê hương của nhà thơ cũng ở rất gần Ðà Nẵng. Vậy thời đó nhà thơ đã có suy nghĩ như thế nào về sự hiện diện của quân đội Hàn Quốc?
Ðặng Hiền: -Tôi sinh ở Hoà Vang, Quảng Nam, quận Hoà Vang sát bên thành phố Ðà Nẵng. Suốt tuổi thơ, tôi được ba má tôi gởi ở nhà bà ngoại nơi thành phố để đi học bởi làng tôi ở ven sông Hàn, giòng sông chảy ngang thành phố Ðà Nẵng. Một điều giản dị là vì lúc nhỏ tôi rất mê biển cả và hay đi theo những người công nhân của gia đình tôi đi đánh cá ngoài biển khơi trong mùa hè, nhưng ba má tôi muốn tôi đi học và hấp thụ đời sống văn minh của dân thành phố vì làng tôi lúc đó vẫn chưa có điện. Khi vào Trung Học tôi lại được về nhà sống với gia đình. Nhưng thời ấu thơ sống ở nhà Ngoại là một dấu ấn khó phai trong tâm hồn tôi. Quê hương tôi là Quảng Nam Ðà Nẵng, người dân ở đây hiền hoà, Hà Nội là nơi nào đó cấm kỵ xa xôi, Sài Gòn là chốn phồn hoa mơ ước. Chiến tranh xảy ra trên quê hương tôi cùng khắp, người phía này người bên kia. Sự phân hoá và thù hận vượt ngoài tình cảm của gia đình, bởi một lý tưởng nào đó chừng như cao đẹp nhưng thật ra chỉ là sự lầm lạc của con người trong một nước nhỏ ở Á Châu như nước Việt Nam. Trở lại câu hỏi của anh là nghĩ gì về sự hiện diện của quân đội Hàn Quốc trong thời gian ấy. Thật ra, với tấm lòng ngây thơ của tôi lúc ấy, tôi rất ghét chiến tranh, những người lính nước ngoài ở quê hương tôi, họ là cái gì đó xa lạ, là biểu hiện của sự ác, của chết chóc và huỷ diệt yên bình. Gia đình chú tôi chết hơn một nửa vì trái đạn pháo kích của người Cộng Sản và bà Nội tôi cũng bỏ mình trong trận pháo kích ấy. Lúc đó tôi còn quá nhỏ để biết thế nào là chiến tranh. Riêng quân đội Hàn Quốc ở Việt Nam tôi được nghe đó là sư đoàn Thanh Long Bạch Hổ, rất kỷ luật và thiện chiến. Nhưng thỉnh thoảng gặp những người lính này tôi thấy họ bình thường chỉ khác người Việt là không gầy gò và đặc biệt là đôi mắt một mí ấn tượng, khác với các nam nữ diễn viên tuyệt đẹp ở trong các phim ảnh Hàn Quốc ngày nay.
TCTB: Cũng theo tôi được biết nhà thơ đã học, tốt nghiệp trường đại học Long Beach, Califonia, Mỹ và sống tại Mỹ từ năm 1979 tức là từ lúc nhà thơ 21 tuổi .Vào năm 1975 Việt Nam được giải phóng, sự kết thúc của cuộc chiến tranh Việt Nam cũng là sự thất bại lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở nước ngoài. Vậy nhà thơ có thể cho tôi và độc giả biết lý do tại sao nhà thơ lại sống ở Mỹ?
ĐH:Vào năm 1975, Việt Nam chấm dứt cuộc chiến tranh gần 30 năm. Chiến tranh kết thúc trước khi tôi đến tuổi đi lính, dĩ nhiên tôi sẽ không có sự chọn lựa. Cuối tháng Tư 1975 gia đình tôi đang ở Vũng Tàu, ba tôi quyết định trở lại Ðà Nẵng vì đất nước đã hoà bình rồi. Nhưng như bao người khác, ba tôi bị đi tù ba năm chỉ vì có dính líu đến một đảng chính trị ở Miền Nam Việt Nam. Cũng trong thời gian nầy tôi thấm thía thế nào là sự cần thiết của người đàn ông trong gia đình. Quê hương tôi có bao gia đình thiếu mất người đàn ông vì chiến tranh. Tôi tiếp tục học năm cuối cấp ba và thi tốt nghiệp, tôi đậu. Nhưng sau đó không đại học nào nhận tôi vào, vì lý lịch quá xấu, gia đình tư sản, cha bị tù cải tạo. Ở một đất nước đã “giải phóng” mà tôi xin làm chân thợ phụ hồ ở công trường xây dựng nhà máy xi măng cũng khó khăn mặc dầu đầy đủ sức khoẻ, xin làm thẻ chứng minh nhân dân cũng không được. Không như các con của tôi bây giờ, chúng có thể tiến xa trên con đường học vấn mà không cần phải tra xét lý lịch. Con gái đầu của tôi vừa tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa năm rồi, đứa con trai kế đang theo học Cao học Ðiện toán, đứa con gái thứ ba sắp tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa, và niềm hạnh phúc là tôi có đứa con trai út vừa vào học lớp hai. Có lẽ đây là lý do tôi chọn Mỹ làm quê hương thứ hai của mình.
Vào năm 1978 ba tôi được tha về, vì tương lai của các con nên ông đã liều lĩnh đưa cả nhà vượt biển năm 1979. Trước khi vượt biên tôi đã cưới vợ, đây là điều làm má tôi hài lòng nhất, bà thường nói nếu gia đình tôi vượt thoát vào 1975 thì làm gì bà có được cô con dâu hiền như thế, vợ tôi là người đàn bà tuyệt vời, là mẹ của bốn đứa con tôi sau này. Khi ở trại tị nạn Hongkong, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc phỏng vấn gia đình tôi trước khi chuyển sang cho phái đoàn Mỹ phỏng vấn. Gia đình tôi đã chọn tiểu bang California. Gia đình tôi là một gia đình may mắn trong hàng triệu người VIỆT NAM liều mình bỏ nước ra đi bằng đường biển, bằng đường bộ. Biết bao cảnh bi thương, nói sao cho hết. Trong lịch sử dân tộc tôi, thời điểm này là lần đầu tiên nhiều người bỏ nước ra đi như vậy. Tất cả chỉ vì tự do, vì quyền sống căn bản của con người. Việt Nam với ba mươi năm chiến tranh, hai miền Nam Bắc có hơn triệu người chết và thương tật, đất nước bị tàn phá tận cùng, và lòng hận thù khó nguôi của các giai tầng xã hội. Chúng ta biết rằng chế độ chính trị nào rồi cũng qua đi, nhưng dân tộc thì trường tồn, và lịch sử được viết bởi dân tộc vẫn còn mãi mãi. Người Mỹ thua trên nguyên tắc cuộc chiến Việt Nam với bức tường đá đen ghi tên hơn 58 ngàn tử sĩ, chính quyền và quân đội Miền Nam đã rã ngũ từ năm 1975, nhưng nhân dân Mỹ là một dân tộc văn minh và nhân ái. Xã hội Mỹ đã mở rộng vòng tay đón nhận và tạo cơ hội phát triển cho mọi người, không riêng gì người Việt Nam, tôi thấy cộng đồng Hàn Quốc của các anh ở xứ nầy cũng rất giầu mạnh. Ðất lành chim đậu anh ạ.
TCTB: Tại sao nhà thơ lại chọn văn học để bắt đầu sự nghiệp của mình? Bởi vì ai? Khi nào? Mong nhà thơ hãy nói cho chúng tôi được biết cái lý do lựa chọn của nhà thơ.
ĐH: Tôi còn nhớ vào năm 1972, Việt Nam là thời kỳ Mùa Hè Ðỏ Lửa. Chiến tranh trở nên khốc liệt. Năm ấy tôi đang theo học trường trung học Phan Chu Trinh Ðà Nẵng. Những người chạy loạn từ Quảng Trị và Huế tràn vào Ðà Nẵng lánh nạn, trường tôi phải dùng làm nơi cư ngụ cho nạn nhân chiến tranh. Trước khi đóng cửa nhà trường tổ chức lễ phát thưởng cho giải văn chương và báo chí năm đó. Tôi hân hạnh được nhận giải truyện ngắn hay nhất trong năm. Truyện kể một tình bạn thuần khiết của hai đứa trẻ nhà nghèo, chia cho nhau từng viên kẹo từng lát cà chua ướp đường. Sau đó một đứa phải theo gia đình dọn đi xa. Buổi chia tay, đứa bé còn ở lại chạy bộ theo chuyến xe một đoạn, khói xe mịt mù, buồn ngẩn ngơ, cứ đứng nhìn theo chuyến xe đưa bạn xa tít biến mất ở cuối đường. Nếu tin con người có số, tôi tin điều đó, tôi xin cảm ơn các vị thầy cô dậy tiểu học và dạy môn Việt văn trung học mà tôi đã may mắn được học qua. Ðó chính là những ân nhân đã gieo mầm và dậy dỗ cho tôi yêu tiếng Việt và để tôi là tôi của bây giờ.
TCTB: Mong nhà thơ giới thiệu cho chúng tôi được biết thêm về tạp chí “Hợp Lưu” đang được phát hành hai tháng một lần ở Mỹ. Ai sáng lập và được sáng lập khi nào? Thành viên của nhóm biên tập gồm có những ai? Và tiêu chí là gi? Các độc giả rất mong nhà thơ có thể tặng cho các độc giả một số bức ảnh quê hương của nhà thơ lúc nhỏ, hiện tại và cùng với một số các bức ảnh gia đình.
ĐH:Tạp Chí Hợp Lưu là một tạp san văn học nghệ thuật biên khảo, được sáng lập bởi một nhóm văn nghệ sĩ vào năm 1990, phát hành hai tháng một lần. Người chủ nhiệm sáng lập là nhà văn Nhật Tiến, chủ biên sáng lập là hoạ sĩ Khánh Trường. Vào tháng Tám 2002, tôi được mời vào Hợp Lưu với tư cách Tổng Thư Ký, và sau đó đến đầu năm 2005 trở thành Chủ Biên. Tôi vẫn giữ công việc nầy cho đến hôm nay. Những văn thi hữu chủ lực của Hợp Lưu là Sử gia Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Phạm Hùng, nhà văn Phan Nhật Nam, Trần Vũ, Trần Thiện Ðạo, Nguyễn Bình Phương... cùng một số các thi văn hữu trong và ngoài nước. Tạp chí Hợp Lưu là một diễn đàn văn chương, cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, giới tính, không kỳ thị Bắc Nam, Trong Ngoài, ý thức hệ hay quan điểm chính trị. Nó sẽ tiếp tục đường đi đã vạch sẵn bấy lâu: đó là thủ diễn vị thế một diễn đàn phục vụ nghệ thuật, văn chương. Tạp chí Hợp Lưu không có tham vọng chính trị, không tự khoác những nhiệm vụ to lớn và hoang tưởng. Tham vọng duy nhất của chúng tôi là duy trì TCHL như một diễn đàn hoàn toàn độc lập, vượt ngoài sự chi phối hay khuynh đảo của bất cứ thế lực nào.
Tôi xin gởi đến quí vị một số bức ảnh theo như yêu cầu.
TCTB: Trong bài thơ “Xa quá quê ơi” của nhà thơ có xuất hiện hình ảnh những chiếc xe máy. Tôi lần đầu tiên đến Việt Nam, đã rất ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến hình ảnh những chiếc xe máy ở Việt Nam. Và tôi cũng bị đau họng vì khói xe máy. Tuy vậy bây giờ tôi rất muốn được quay lại Hà Nội và cũng rất muốn lại được ngắm hình ảnh những chiếc xe máy đó. Ðây là một số những câu thơ trong bài thơ này “Ðà Nẵng” . Bằng vần điệu của các câu thơ thì hình ảnh của Việt Nam được nổi lên một cách rất Việt Nam, đó là thông qua hình ảnh chiếc xe máy. Có lẽ điều này là một kỉ niệm về quê hương, đất nước thông qua một cái nhìn trực tiếp mang tính phủ định. Là sự kháng cự, là sự ô nhiễm. là đối tượng sẽ cần phải giải quyết hay là đối tượng sẽ phải thúc đẩy?
ĐH: Ðó là lần đầu tôi về lại Việt Nam sau 20 năm, vào cuối năm 2000, với tư cách của một thành viên trong phái đoàn thương mại Việt Mỹ. Hà Nội, Ðà Nẵng rồi Sài Gòn, đâu đâu cũng xe máy, khói mù mịt cùng với những bụi mù của các công trình xây cất. Vì đi chung với phái đoàn nên chúng tôi thường đi xe ca chở nhiều người giống như xe bus nhỏ ở Mỹ để di chuyển.Thú thật lúc ấy đầu óc tôi như tê dại, tôi là người Việt lại không phải Việt, tôi là người Mỹ lại không phải Mỹ. Không tin ai hết, tất cả đều đầu môi chót lưỡi, dùng một thứ ngôn ngữ ngoại giao, nói cho vừa lòng nhau. Lúc ấy, Việt Nam về kỹ nghệ tin học còn yếu lắm, trong tấm danh thiếp của trợ lý bộ trưởng kinh tế lại dùng địa chỉ hotmail. Như một chuyện khôi hài khi đại diện của một công ty vi tính tại Hà Nội lên thuyết trình về kế hoạch đưa công ty này vào thị trường chứng khoán Mỹ. Vào đến Sài Gòn người lại đông kinh khủng hơn. Sài Gòn có những cơn mưa buổi chiều buồn và tàn nhẫn. Sau đó về Ðà Nẵng không khí dễ chịu một chút, nhưng lạ quá, ở đó đến ba ngày tôi vẫn mất hướng một góc chợ quen. Tối nằm một mình ở nhà ba má tôi mới về mua ở biển Thanh Bình, Ðà Nẵng, nghe tiếng lá dừa xào xạc, ánh trăng lấp loáng, không khí ẩm mùi mặn của biển, đêm không gia đình, cha mẹ, anh em, vợ con. Tôi hoang mang như hơn 20 năm trước nằm trốn dưới khoang tàu để đi vượt biên. Thật ra tôi đã sống ở Mỹ nhiều hơn thời gian tôi ở Việt Nam. Tôi đã thay đổi chứ quê tôi không đổi thay. Người ở đây vẫn thế, cam chịu, nhịn nhục thân phận bọt bèo, tình yêu là trò xa xỉ, thân phận chúng tôi mang hình ảnh của những đàn kiến... ngồi trên xe máy, cùng với những bức tường không sơn và những cơn mưa thầm lặng trong xã hội Việt Nam.
Rồi mới đây vào tháng 5-2009 tôi lại về Hà Nội, Ðà Nẵng, Sài Gòn, nhưng với tư cách là người về thăm gia đình. Lần nầy dễ chịu hơn vì được gặp một số bạn văn thơ trong nước. Văn chương thường làm cho con người gần và thông cảm nhau hơn. Ðó là món quà quí giá tôi có được trong chuyến đi vừa rồi. Nhưng xã hội Việt Nam lại có những vấn đề khác nhức nhối hơn, trong khi những vấn đề cũ vẫn còn đấy. Tôi cảm tưởng Việt Nam phát triển như đứa bé lớn nhanh quá, cột xương sống bị chệch, cần phải chỉnh sửa lại mới sống khoẻ mạnh. Việt Nam có một loại trật tự thật đặc biệt, tự điều chỉnh để sinh tồn. Từ những những kiến trúc tự do đến vô trật tự của phố cổ Hà Nội, nơi gần hồ Gươm, đến những công trình đào núi lấp biển tại Đà Nẵng cùng những dãy khách sạn 5 sao dọc bãi biển Mỹ Khê, những “lô cốt” chận đường để cải tiến hệ thống thoát nước từ nhiều năm tại thành phố Sài Gòn. Rồi đến tự do ngôn luận và báo chí như một giấc mơ không bao giờ có thật, mặc dầu nhân loại đã bước vào thiên niên kỷ mới và Việt Nam đã hội nhập vào WTO. Tất cả những ghi nhận ấy đều nằm trong những bài thơ tôi gởi cho anh mới đây. Tôi xin đọc bài thơ nầy:
Trật tự mới trong bài luân vũ điên
Mất xa em những hình ảnh cũ mềm ẩn hiện
Căn phòng ẩm mồ hôi miền nhiệt đới
Danh vọng là trò đùa thân xác mệt lả cùng những cơn ho
vật vã
Chiều tan nhanh theo trăng tháng năm đứng đường
Tình cảm ô nhiễm bốc lên từ lon bia ngoại
Kỹ thuật cao ru phận đớn hèn
Ôi chao em, dòng nước xe buổi tan tầm
Tôi trôi lềnh bềnh trong văn hoá nhậu
Ðào núi lấp biển có thêm hạnh phúc
Giọng nói thơm mùi mạ năm xưa
Trưa nắng từng góc phố ngủ ngồi
Mùa hè sớm hơn nơi phồn hoa miệt thị
Mang theo quán cơm bụi ngàn năm văn vật
Cướp chó bên chiều nhậu Hồ Tây
Ấn tượng nền văn minh treo cổ Sadam
Em tôi Ô sin khi mới lên mười
Sài gòn mập một cách giả vờ
Tôi chỉ in có 49 cuốn thơ
Làm sao mở miệng trong thế giới điếc
Thành phố tự hào có mùi cống rãnh
Chiều Hồ Gươm, đứng bên Hồ Gươm
Nắng mưa giao mùa nơi trái tim trong trái tim
Trơ trẽn như cơn mưa chưa lên câu khẩu hiệu
Tất cả trật tự, tự điều chỉnh để sinh tồn, lạ ghê.
ÐẶNG HIỀN
Việt Nam - California 5-2009
TCTB: Trong bài thơ “ Có lẽ ” dường như nhà thơ có một nỗi buồn mà ngay cả nhà thơ cũng không thể diễn tả được nó và cũng không thể tránh né nó được. Nhà thơ như đang chạy việt dã một mình trong thế giới tinh thần của mình. Nhà thơ đang muốn thoát ra khỏi thế giới đó. Nơi đó giống như một vùng núi rộng lớn. Trong bài thơ có câu “không ai yêu em”. Ở đây nhà thơ muốn một tình yêu gì? Nếu có thể được mong nhà thơ giải thích cho chúng tôi biết về tâm trạng của nhà thơ khi viết những câu thơ này? Sự phản bội của cuộc sống, sự tuyệt vọng của cuộc sống. Kết cục câu hỏi “ Có lẽ sống ở nước ngoài nhiều năm?” có vẻ là không chân thật . Trong bài thơ này lời mà tác giả muốn nói lên là gì? Bản chất cái bĩ cực của nhà thơ Ðặng Hiền là cái gì?
ĐH:Khi nhỏ vì sống xa nhà, tôi sớm biết tự lo cho mình. Ở thành phố tôi hay bị chế diễu là dân biển, về làng thì bị chọc là thằng đi theo dân thành thị, nên lúc nhỏ tôi hay đánh lộn với những đứa bé khác, nhưng thường thường bị thua, về nhà lại không dám khóc, khóc là bị ăn đòn. Khi lớn lên hoàn cảnh đã bứng tôi ra khỏi quê hương tôi. Một chiều gần cuối năm đi qua vùng rừng núi California, cái mênh mông hùng vĩ của những dãy núi, màu ráng đỏ của hoàng hôn làm tôi bần thần, những năm đó tôi chưa có dịp về lại Việt Nam. Không như bây giờ sự cách chia về địa lý đã giảm đi nhiều, có tiền mua vé máy bay mười mấy giờ sau là về ngay Sài Gòn...
Bài “Có lẽ” hơi đặc biệt một tí về ẩn dụ và đối tượng thơ. Tôi dùng hình ảnh một thiếu nữ để bày tỏ tình yêu thương của mình đối với mảnh đất mà tôi đã được sinh ra và lớn lên, được dậy dỗ bằng những bài học thương yêu và lòng nhân bản. Xã hội miền Nam tôi sống lúc đó mặc dầu trong chiến tranh, nhưng trẻ em không bao giờ bị nhồi nhét những bài học cho lòng thù hận. Chúng tôi được học những bài học lịch sử đấu tranh trong mấy ngàn năm của những vị anh hùng đưa dân tộc Việt thoát khỏi ách nô lệ của người khổng lồ phương Bắc. Dù đầu óc non nớt lúc ấy những đứa trẻ như chúng tôi vẫn biết rằng, một lúc nào đó chiến tranh sẽ qua đi và đất nước sẽ thống nhất. Ðến khi đất nước thống nhất rồi thì những đau thương khác tiếp nối. Tôi chỉ là một phần tử quá nhỏ nhoi trong gần 3 triệu người Việt lưu lạc ở hải ngoại, định cư ở nhiều quốc gia trên thế giới. Dĩ nhiên chúng tôi mang ơn tấm lòng nhân ái của các dân tộc khác đã cưu mang chúng tôi, cho chúng tôi một đời sống tự do thật sự. Riêng tôi, nơi sâu thẳm của hồn mình, thật sự tôi không thấy mình thuộc về đâu, Mỹ ư? Tôi chỉ là loại Mỹ giấy. Việt ư? Tôi không thuần Việt, vì tôi ở nước ngoài nhiều năm, tôi sống tự do quen rồi. Vậy anh cho tôi biết đi, tôi thuộc về đâu? “Không ai yêu em” là vậy, là tình yêu quê hương. Trong cái tâm trạng bơ vơ, quê hương thắm thiết như tình vợ chồng, bao dung như tình mẹ con. Còn bỉ cực nào hơn khi cảm thấy thân phận mình gần như vô thừa nhận đó.
TCTB: Trong câu thơ “Chiều cuối năm với người bạn già” . Giống với một câu thơ trong bài thơ “ Ngày xanh” của nhà thơ Seo Cheong Chu của Hàn Quốc. Nhìn những người sống sót trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và anh ấy hát “ Ngày xanh thì hãy nhớ những người bạn” . Trong bài thơ này nỗi buồn trong bản thân mỗi người sống sót là gì? Câu cuối của bài thơ “Xanh một mùa rét căm” có ý nghĩa gì?
ĐH:Bài này tôi làm để tưởng nhớ nhà văn Mai Thảo được đăng trong Hợp Lưu số 100, số tưởng niệm đặc biệt về nhà văn nầy. Ông ấy là thế hệ trước tôi, chịu nhiều đau thương hơn thế hệ của tôi vì những biến động đổi thay của Việt Nam. Quen biết ông qua những bài thơ tôi gởi đến đăng ở tạp chí VĂN, mà ông ấy là chủ bút. Ở Mỹ nhưng ông khước từ hội nhập vào xã hội nơi đây. Và cũng qua ông, tôi cảm được nỗi vô thường và cô đơn của đời người. Khi mà quê hương đã chợt mất, bạn bè đã ly tán, kẻ mất người còn, gia đình không có, sống thui thủi một mình, cô đơn như ngọn hải đăng hiu hắt, sống cùng rượu, chờ chuyến xe cuối cùng để về cõi vĩnh hằng. Thi thoảng được uống rượu cùng ông, tôi thường nghe ông kể về đời sống của ông ở miền Bắc khi xưa, ở Sài Gòn thời cực thịnh về văn chương miền Nam, về chiến tranh và những người bạn, những người bạn đã chết, và những người bạn còn sống đang lưu lạc ở xứ người. Và ông hay ngâm thơ của họ, bạn ông là những nhà thơ lừng danh của Việt Nam, là thi sĩ Vũ Hoàng Chương, là thi sĩ Ðinh Hùng, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền... Với ông, hình như thời gian đứng lại, mãi mãi ở Nam Ðịnh, ở Hà Nội ở Sài Gòn. Hồn ông ở đấy.Tuyệt nhiên, ông không hề nhắc đến tình yêu, bởi thế “Xanh một mùa rét căm” là vậy, là sự cô độc đến tận cùng trong một chiều cuối năm ở một nơi không là quê hương, một nơi không có dĩ vãng.
TCTB: Trong bài thơ “Mưa Ðà nẵng” , như người ta thường nói tất cả thơ của nhân loại là thơ của sự thất lạc. Mưa đang rơi, câu thơ “Ngang nhà em lòng buồn rưng rức” Ðã vẽ lên điều gì? Giáo sư Bae Yang Soo đã biên dịch rất hay, đã nắm được cái hồn của nhà thơ trong bài thơ, đôi mắt hiền và mơ màng của nhà thơ Ðà Nẵng đang ước hẹn và chờ đợi gì? “Nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm” . Em ở đây là ai?. Là Ðà Nẵng hay là Việt Nam hay cũng có thể là một người con gái.
Tôi rất xin lỗi khi đã đặt những câu hỏi khó giải thích với nhà thơ.
ĐH: Anh là nhà thơ, hơn ai hết anh hiểu tôi. Thơ là thơ, thơ yêu nước hay thơ yêu em cũng chỉ là thơ. Khác nhau là HAY hoặc KHÔNG HAY. Thơ là từ trái tim mà ra, thơ nếu đúng nghĩa khó có gì theo kịp. Thơ chỉ NHẠT khi nào tác giả không sống thật với chính mình và viết toàn những câu giả dối sáo ngữ. Tuy nhiên, thơ tình thường là riêng tư, trong thế giới riêng tư đó, tác giả đánh thức người đọc bằng trái tim của chính mình, bằng tài năng và tình cảm trải lên những câu những đoạn của thơ. Vâng, Giáo sư Bae Yang Soo biên dịch thật tài tình, theo tôi đó là sự may mắn cho thi ca của hai nền văn hoá Việt-Hàn. Những cơn mưa Á châu thường dai dẳng và ảm đạm. Những thành phố miền Trung Việt Nam rất tĩnh lặng và buồn. Bài “Mưa ở Ðà Nẵng” viết vào năm 1994, in trong tập thơ đầu của tôi. Ðà Nẵng trong tôi là những hình ảnh khi chưa ra đi. Ra đi, chia ly, thất lạc và nỗi nhớ đã làm nên thơ; ngày cũ, chốn xưa cùng với những người con gái tôi quen thời tuổi trẻ, trong đó có cả vợ tôi, và những cơn mưa, hoà vào nhau là một, thì ra đó là quê hương anh ạ. Trong lần về lại Việt Nam lần thứ hai vào năm 2009, tôi có viết một bài thơ cũng về Ðà nẵng. Hai bài thơ đều viết về Ðà Nẵng nhưng thời gian và tâm cảnh đã khác, xin gởi đến anh và quí độc giả bài thơ nầy:
Bài Viết Lại ở Ðà Nẵng
Ở đây mùa trốn mất theo những cơn mưa dài trong đêm
Thời gian hụt mất cơn say sâu ngang vết nhăn nụ cười buồn bã
Tuổi trẻ trôi xa theo nhau ngày cũ
Thành phố mưa
Không còn lá tương tư tuổi nhỏ
Không còn những chuyến đò xưa
Ðêm bỗng thất thường như mưa
Con nước có về theo chiều của nhau không ?
Trên đường mòn mênh mông trí nhớ
Cơn mưa chạy hoài theo vết xe xa thành phố
Cơn mưa ở mãi cùng anh từ buổi chia tay
Tình không là tình của năm xưa
Khi ta đôi mươi qua thời thay đổi
Biết đến bao giờ trở lại
Ðêm mơ như nước sông chảy xuôi về biển yêu thương
Và mùa chừng trốn mất nơi đây
Lạnh theo mưa...
ÐẶNG HIỀN
Ðà nẵng-5-2009
TCTB: Câu hỏi cuối cùng.
Nhà thơ sẽ tiếp tục sống tại Mỹ? Và cũng sẽ chết tại đó? nếu không thì xin nhà thơ cho độc giả biết nhà thơ có ý định trở lại Việt Nam hay không? Nhà thơ sẽ tiếp tục sống ở California và sẽ tiếp tục sáng tác thơ? Sự thất lạc và nỗi nhớ có làm nhà thơ quay về Việt Nam không?
ĐH:Thành thật mà nói, ngoài Việt Nam ra, Mỹ là quê hương thứ hai của tôi, tất cả cuộc đời tôi đều ở đây. Rất may mắn cho tôi và cho thế hệ của chúng tôi không phải gánh nặng lòng thù hận của quá khứ. Không bị mù quáng vì tuyên truyền. Bạn bè của tôi ở nhiều nước trên thế giới. Nhưng cha mẹ, vợ con, anh em, công việc hầu như tất cả đều ở Mỹ. Vậy tôi không ở California thì tôi ở đâu hả anh? Hơn nữa con trai út của tôi mới bảy tuổi, tôi biết cháu nó rất cần tôi. Chuyện sống chết có số mạng làm sao mình quyết định sẽ chết ở đâu? Tôi đang thuyết phục vợ tôi cùng tôi về thăm Việt Nam trong lần tới, cô ấy xa Việt Nam 30 năm rồi chưa trở lại. Theo tôi thì dù sống xa quê hương nhưng lúc nào cũng hướng về vẫn tốt hơn là ở tại Việt Nam mà lòng không ở đó. Riêng tôi, thơ vẫn là niềm đam mê và cần thiết như hơi thở cho sự sống, tôi luôn yêu thơ bằng chính trái tim mình.
TCTB: Ðầu mùa thu năm 2010 chúng tôi dự định tổ chức hội ngâm thơ Châu Á và cũng dự định mời những nhà thơ đang sống ở Việt Nam. Hẹn gặp lại nhà thơ vào một ngày gần đây.
Chân thành cảm ơn nhà thơ về buổi phỏng vấn ngày hôm nay.
Go Hyeong Ryeol / nhà thơ,
Tổng biên tập tạp chí Thi Bình.
PHỤ BẢN:
Những bài thơ của Đặng Hiền trong Tạp chí Thi Bình Hàn Quốc số mùa Thu năm 2009, do Giáo sư Tiến sĩ Bae Yang Soo biên dịch.
XA QUÁ QUÊ ƠI
Bắt đầu nhớ những con hẻm
Xe máy cùng bờ tường không sơn
Thành phố cùng tầm nhìn trong veo
Thành phố và những cơn mưa thầm lặng
Xe chạy mù, xe chạy mù
Dòng xe dài đàn kiến
Những con kiến chạy quanh
Hà Nội Sài Gòn Đà Nẵng...
(SaiGon 16-12-2000)
MƯA Ở ĐÀ NẴNG
Cơn mưa buổi chiều mưa hoài không tạnh
Bước xuống đò về qua Hà Thân
Ngang nhà em lòng buồn rưng rức
Ðầu dầm mưa, lòng cũng dầm mưa
Những ngày cuối năm mưa phùn gió bấc
Dòng sông Hàn nước đục, lục bình trôi
Bên kia phố có mắt hiền mộng mị
Nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm
Ngày em đi, tôi ngủ vùi không dậy
Nghe mưa bập bùng theo vết xe xa
Như nước đổ thương con đò xuôi ngược
Lòng tan hoang mưa lạnh rét đôi miền.
CHIỀU CUỐI NĂM VỚI NGƯỜI BẠN GÌA
Ngày rộng hàng hiên hẹp
Rót tràn ly rượu chay
Quê nhà xa muôn dặm
Đá cầm run bàn tay
Ở đây hồn mờ mịt
Chiều đập vỡ chai ra
Thoáng nghe đời rớt lại
Nát từng khúc tình ta
Sóng bên bờ năm cũ
Sóng tròng trành vành ly
Có ai về thắp lửa
Quanh nỗi nhớ câm lì
Khoé nhìn ơi thê thiết
Đồng vọng mấy mươi năm
Mắt già thôi tìm lại
Xanh một mùa rét căm.
CÓ LẼ
Tất cả giọng ca đều hàng đầu
Không ai ở cuối
Rượu mạnh và đau lưng
Thôi kiếp hư phù
Cho anh nhìn phóng qua thung lũng
Cho anh mây trời
Cho anh sóng biển
Cho anh bay lên từ em
Từ rừng trăng bát ngát
Xuân thập thò
Mùa thơm nắng ngây thơ
Tất cả thi sĩ đều tuyệt
Làm thơ làm dáng
Không ai yêu em
Không ai...
Có lẽ ở nước ngoài nhiều năm
Có lẽ anh chẳng thuộc về đâu
Những ngày hết năm bỗng nhớ nhà quá đỗi
Có lẽ.
ĐẶNG HIỀN: Sinh năm 1958 tại Hòa Vang, Quảng Nam. Ðịnh cư tại Nam California USA từ năm 1979. Thơ đăng trên Văn, Hợp Lưu, Văn Học, Thế Kỷ 21, Nghệ Thuật... Góp mặt trong tuyển tập Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-1995) NXB Đại Nam USA.Tổng Thư Ký Tạp Chí Hợp Lưu (USA) 2002-2005 Chủ Biên Tạp Chí Hợp Lưu (USA) từ 2005…
Tác phẩm đã xuất bản :
Thơ Ðặng Hiền (1994 Hoa Kỳ)
Bài Hai Mươi (thơ, NXB Văn Hóa USA 1997)...
SOURCE : HỢP LƯU
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)